Bản mô tả SKKN Biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa Trường TH Trung An 2 NH 2022-2023 (Võ Thanh Tâm)
Bạn đang xem tài liệu "Bản mô tả SKKN Biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa Trường TH Trung An 2 NH 2022-2023 (Võ Thanh Tâm)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
ban_mo_ta_skkn_bien_phap_giup_hoc_sinh_phan_biet_tu_dong_am.pdf
Nội dung text: Bản mô tả SKKN Biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa Trường TH Trung An 2 NH 2022-2023 (Võ Thanh Tâm)
- 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến huyện Cờ Đỏ. 1. Tên sáng kiến: Biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa. 2. Quyết định công nhận sáng kiến của đơn vị: số............. ngày ....... tháng ..... năm ........... 3. Tác giả sáng kiến: SỐ Ngày tháng Chức vụ, Trình độ Họ và tên TT năm sinh đơn vị công tác chuyên môn 1 Võ Thanh Tâm 23/09/1984 Giáo viên, trường Đại học Sư TH Trung An 2 phạm 4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến (nếu có): Võ Thanh Tâm 5. Thời điểm sáng kiến được áp dụng: năm học 2022 - 2023 6. Nội dung sáng kiến: A – PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Không biết mọi người có cảm giác thế nào khi được nghe, được xem những người nước ngoài nói, đặc biệt là hát tiếng Việt, riêng đối với tôi mỗi khi được thấy ai đó là người ngoại quốc nói "sỏi" hoặc hát được những bài hát tiếng Việt, một cảm xúc thán phục xen lẫn xúc động và niềm tự hào về tiếng Việt lại trào dâng trong lòng. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay, Việt Nam chúng ta đang mở rộng quan hệ ngoại giao với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, nhiều người nước ngoài biết đến Việt Nam, biết nói, hát, giao tiếp bằng tiếng Việt cũng là điều bình thường. Nhưng sự thán phục của tôi đối với họ là bởi một lẽ đi sâu vào ngôn ngữ tiếng Việt của chúng ta thực sự có nhiều khía cạnh khó, đôi khi chính chúng ta cũng còn có sự nhầm lẫn. Một trong những nội dung khó của tiếng Việt là phần nghĩa của từ. Trong chương trình môn tiếng Việt lớp 5, mảng nội dung nghĩa của từ được tập trung và được biên soạn có hệ thống trong phân môn luyện từ và câu. Nhiều năm liền trong quá trình dạy học, tôi thường nhận thấy các em học sinh dễ dàng tìm được các từ trái nghĩa, đồng nghĩa. Tuy nhiên, khi học xong về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa thì các em bắt đầu có sự nhầm lẫn, lúng túng và khả năng phân biệt các từ đồng âm với từ nhiều nghĩa của học sinh không được như mong đợi, kể cả những học sinh khá, giỏi đôi khi cũng làm chưa chính xác. Trăn trở về vấn đề này, qua những năm được phân công dạy lớp 5 tôi đã rút ra một số kinh nghiệm về dạy từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, bài tập phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa. Sau đây tôi xin được chia sẻ những kinh nghiệm nhỏ ấy qua
- 2 đề tài: "Biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa". 2. Giới hạn đề tài: - Phạm vi nghiên cứu của sáng kiến là chương trình môn Tiếng Việt. - Thực hiện nghiên cứu sáng kiến đối với học sinh lớp 5C và thời gian là trong năm học 2022 – 2023. B – PHẦN NỘI DUNG 1. Thực trạng vấn đề: a) Thuận lợi: - Cơ sở vật chất nhà trường cơ bản đầy đủ đáp ứng yêu cầu cho việc dạy học. Lớp học sạch sẽ, thoáng mát, đảm bảo cho việc học. Học sinh có đủ sách và các dụng cụ học tập cần thiết. Học sinh được học 2 buổi/ngày. - Đa số học sinh sống trên cùng địa bàn, điều kiện giao thông thuận tiện nên việc quản lý các em cũng như việc liên lạc thông tin hai chiều có nhiều thuận lợi, dễ dàng. - Ngoài ra, còn được sự quan tâm sâu sát của ban giám hiệu nhà trường, các cấp chính quyền địa phương, các bậc phụ huynh và các mạnh thường quân. Giáo viên nhiệt tình, năng động, sáng tạo, tận tâm trong giảng dạy. Học sinh tích cực học tập. b) Khó khăn: - Do điều kiện công việc của phụ huynh nên việc kèm cặp, rèn luyện của các em còn hạn chế. Hoàn cảnh kinh tế gia đình một số em vẫn còn khó khăn, cha mẹ ít quan tâm, chưa tập trung nhiều cho việc học. - Một số em năng lực học tập còn nhiều hạn chế, chưa có ý thức học tập còn ham chơi. - Học sinh không nắm vững nghĩa của từ, vốn từ ngữ tích lũy được còn rất hạn chế nên hay nhầm lẫn giữa từ đồng âm với từ nhiều nghĩa. c) Yêu cầu đặt ra: - Học sinh nắm được kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa. - Các em phân biệt được từ đồng âm với từ nhiều nghĩa. - Vận dụng được các kiến thức đã học, vốn từ làm được các bài tập ứng dụng, viết câu, đoạn, bài văn có sử dụng từ đồng âm, từ nhiều nghĩa một cách phù hợp và hay. Từ đồng âm được dạy trong 2 tiết. Các em được học khái niệm về từ đồng âm. Các bài tập chủ yếu giúp học sinh phân biệt nghĩa các từ đồng âm, đặt câu phân biệt các từ đồng âm. Từ nhiều nghĩa các em được học 3 tiết. Trong đó một tiết khái niệm về từ nhiều nghĩa. Các bài tập thực hành chủ yếu là phân biệt các từ mang nghĩa gốc và các từ mang nghĩa chuyển. Hai tiết còn lại học sinh được luyện tập về từ nhiều nghĩa với các dạng bài tập như giới thiệu nghĩa của một từ và yêu cầu học sinh tìm hoạt động đúng với nghĩa cho trước, đặt câu phân biệt nghĩa gốc, nghĩa chuyển, nêu nét nghĩa khác nhau của một từ. Duy nhất có 1 bài tập có dạng phân
- 3 biệt, nhận diện từ đồng âm và từ nhiều nghĩa. Như vậy số lượng bài tập thực hành giúp học sinh phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa còn ít. Trong khi đó khả năng tư duy nắm bắt và nhận biết về từ đồng âm với từ nhiều nghĩa của các em còn hạn chế. Do thời lượng có hạn, nên giáo viên chưa lồng ghép liên hệ phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong các bài học được nhiều. Cho nên, sau các bài học về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa học sinh chỉ nắm được kiến thức trên một cách tách bạch. Thực tế cho thấy khi học và làm bài tập về từ đồng âm các em tiếp thu và làm bài nhanh hơn khi học và làm bài tập về từ nhiều nghĩa, có lẽ bởi từ nhiều nghĩa trừu tượng hơn. Đặc biệt, khi cho học sinh phân biệt và tìm các từ có quan hệ đồng âm, các từ có quan hệ nhiều nghĩa với nhau trong một số văn cảnh thì đa số học sinh lúng túng và làm bài chưa đạt yêu cầu. Để kiểm tra khả năng phân biệt chính xác từ đồng âm, từ nhiều nghĩa tôi đã cho học sinh làm bài tập về phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa. Đề bài: Trong các từ in đậm sau đây, những từ nào là từ đồng âm, những từ nào là từ nhiều nghĩa ? a) - Ba em đi ra ruộng. - Em tôi năm nay ba tuổi. b) - Tượng đá này rất đẹp. - Em chơi đá bóng cùng các bạn. c) - Đôi mắt bé mở to. - Quả na mở mắt. d) - Mặt trời lặn xuống chân núi. - Bé đau chân. Đáp án: Các câu a, b là các từ đồng âm. Các câu c, d là các từ nhiều nghĩa. Sau khi chấm bài, kết quả học sinh làm bài tập trên như sau: STT Điểm số Số lượng bài Tỉ lệ % 1 9 - 10 3 13,6 2 7 - 8 7 31,8 3 5 - 6 8 36,4 4 Dưới 5 4 18,2 Qua kết quả, số học sinh làm bài chưa đúng còn chiếm tỉ lệ cao, việc phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa của học sinh còn hạn chế chưa đạt theo yêu cầu. Với kết quả trên tôi đã nghiên cứu, học hỏi và rút kinh nghiệm cho việc dạy học sinh phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa và mạnh dạn áp dụng giảng dạy trong năm học 2022 – 2023. 2. Những giải pháp thực hiện: 2.1. Giải pháp 1: Nắm vững kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa và
- 4 phương pháp dạy từ đồng âm, từ nhiều nghĩa * Từ đồng âm : Là những từ giống nhau về âm nhưng khác nhau về nghĩa - Ví dụ : + cuốc (danh từ), đá (danh từ) - cái cuốc, hòn đá + cuốc (động từ), đá (động từ) - cuốc đất, đá bóng Trong giao tiếp cần chú ý đầy đủ đến ngữ cảnh để tránh hiểu sai nghĩa của từ hoặc dùng từ với nghĩa nước đôi do hiện tượng đồng âm. Ví dụ: Đem cá về kho. Câu trên có thể hiểu là hai cách Cách 1: Đem cá về kho cất để dự trữ Cách 2: Đem cá về để vào nồi kho lên ăn * Từ nhiều nghĩa: là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển. Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau. Ví dụ: Từ “mắt” trong câu “Quả na mở mắt” là nghĩa chuyển. Muốn hiểu rõ hơn khái niệm về từ nhiều nghĩa ta có thể so sánh từ nhiều nghĩa với từ một nghĩa. Từ nào là tên gọi của một sự vật, hiện tượng biểu đạt một khái niệm thì từ ấy chỉ có một nghĩa. Ví dụ: Từ “xe đạp” chỉ loại xe người đi có hai bánh hoặc ba bánh, dùng sức người đạp cho quay bánh. Đó là nghĩa duy nhất thông dụng của từ “xe đạp”, vậy có thể nói, từ “xe đạp” là từ chỉ có một nghĩa. Từ nào là tên gọi của nhiều sự vât, hiện tượng, biểu thị nhiều khái niệm thì từ ấy là từ nhiều nghĩa. Ví dụ: Từ ăn có các nghĩa sau đây: + ăn cơm: đưa thức ăn vào cơ thể để nuôi sống cơ thể + ăn cưới: đi ăn uống nhân dịp cưới + tàu ăn hàng: tiếp nhận hàng để chuyên trở + ăn hoa hồng: nhận lấy để hưởng + da ăn nắng: hấp thụ cho thấm vào, nhiễm vào. + ăn ảnh: vẻ đẹp được tôn lên (trong ảnh). Như vậy từ " ăn" là một từ nhiều nghĩa. * Nắm vững phương pháp dạy từ đồng âm và từ nhiều nghĩa. Khi dạy khái niệm về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, cần thực hiện theo quy trình các bước. - Cho học sinh nhận biết ngữ liệu để phát hiện những dấu hiệu bản chất của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa. - Học sinh rút ra các đặc điểm của từ đồng âm, từ nhiều nghĩa và nêu định nghĩa. - Luyện tập để nắm khái niệm trong ngữ liệu mới. Việc dạy hai bài học trên cũng tuân theo nguyên tắc chung khi dạy luyện từ và câu và vận dụng các phương pháp, hình thức dạy học như: - Phương pháp hỏi đáp - Hình thức học cá nhân
- 5 - Phương pháp giảng giải - Trao đổi cặp đôi - Phương pháp trực quan - Thảo luận nhóm. - Phương pháp luyện tập thực hành. - Tổ chức trò chơi. * Đối với các tiết dạy luyện tập về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, giáo viên chủ yếu tổ chức các hình thức dạy học để giúp học sinh củng cố, nắm vững kiến thức, nhận diện, đặt câu, xác định đúng nghĩa. 2.2. Giải pháp 2: Tìm các căn cứ để giúp học sinh nhận diện, phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa Quay lại với bài kiểm tra ở phần thực trạng, tôi muốn đề cập đến một số lỗi học sinh mắc phải khi phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa. Đó là : + Các em không xác định được nghĩa cuả từ trong từng câu. + Không tìm được mối quan hệ giữa từ mang nghĩa gốc với từ mang nghĩa chuyển. + Không dựa vào văn cảnh để hiểu nghĩa của từ trong mối quan hệ với các từ khác của câu. + Không thuộc định nghĩa (tức phần ghi nhớ) của mỗi bài học. Tìm hiểu và nắm được một số sai lầm của học sinh như trên, tôi đã thử nghiệm một số biện pháp phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa như sau: * Cách 1: Yêu cầu học sinh thuộc ghi nhớ Tâm lí học sinh thích làm những bài tập đơn giản, dễ dàng, ngại học thuộc lòng, ngại viết các đoạn, bài cần yếu tố tư duy. Biết vậy, tôi thường cho học sinh ngắt ý của phần ghi nhớ cho đọc nối tiếp, rồi ghép lại cho đọc toàn phần, đọc theo nhóm đôi, có lúc thi đua xem ai nhanh nhất, ai đọc tốt. Cách làm này tôi đã cho các em thực hiện ở các tiết học trước đó (về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa) do đó dạy đến từ đồng âm, từ nhiều nghĩa các em cứ sẵn cách tổ chức như trước mà thực hiện. Và kết quả có tới 20/22 học sinh thuộc ghi nhớ một cách trôi chảy tại lớp chỉ còn hai em có thuộc nhưng còn ấp úng. * Cách 2: Giúp học sinh hiểu đúng nghĩa của các từ phát âm giống nhau Điều đặc biệt của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là phát âm giống nhau, (nói đọc giống nhau, viết cũng giống nhau). Ví dụ: - Mẹ bỏ đường(1) vào chè cho ngọt. - Các chú công nhân đang sửa đường(2) dây điện. - Ngoài đường(3) xe chạy tấp nập. Ta thấy rõ ràng là “đường”(1), "đường"(2) và “đường”(3) đều phát âm, viết giống nhau. Vậy mà “đường” (1) với “đường” (2) và “đường” (1 ) với "đường' (3) lại có quan hệ đồng âm, còn "đường" (2) với "đường" (3 ) lại có quan hệ nhiều nghĩa. Để có được kết luận trên đây, trước hết học sinh phải hiểu rõ nghĩa của các từ đường (1), đường(2), đường(3) là gì? Đường (1): chỉ một chất có vị ngọt. Đường (2): chỉ dây dẫn, truyền điện phục vụ cho đời sống, sản xuất.
- 6 Đường (3): chỉ lối đi cho các phương tiện, người, động vật. Để có thể giải nghĩa chính xác các từ "đường" như trên, các em phải có vốn từ phong phú, có vốn sống. Vì vậy trong dạy học, giáo viên luôn chú trọng trau dồi, tích lũy vốn từ cho học sinh, nhắc học sinh có ý thức tích lũy cho mình vốn sống. 2.3. Giải pháp 3: Dựa vào yếu tố từ loại để phân biệt được từ đồng âm và từ nhiều nghĩa Trong thực tế đời sống hàng ngày học sinh có thể bắt gặp hiện tượng một từ nào đó phát âm gần nhau nhưng xét về từ loại khác nhau thì kết luận đó là hiện tượng đồng âm. Chẳng hạn khi chơi đùa học sinh hò reo đồng thanh để cổ vũ cho một học sinh được mệnh danh là “ ông cố” vì em này nhỏ, yếu: "Cố lên ông cố ơi!" “Cố” thứ nhất là tính từ, “cố” thứ 2 là danh từ. Vậy đây là hiện tượng đồng âm dễ nhận diện. Tùy trường hợp những từ phát âm giống nhau nhưng cùng từ loại (cùng là danh từ, động từ, tính từ) thì phải vận dụng biện pháp giải nghĩa từ trong văn cảnh đồng thời xét xem các từ đó có mối quan hệ về nghĩa hay không để tránh nhầm lẫn giữa từ đồng âm với từ nhiều nghĩa hoặc quan hệ đồng nghĩa nếu có. Trong trường hợp này thông thường ta dựa vào ngữ cảnh để nhận biết nghĩa của từ đồng âm. Ngữ cảnh có tác dụng hiện thực hóa nghĩa của từ và giúp con người sử dụng ngôn ngữ tránh sự nhầm lẫn. Ví dụ: đồng tiền - cánh đồng vạc dầu - con vạc Xét câu văn sau: "Hôm nay tôi đánh rơi mười nghìn đồng(1) ngay đoạn cánh đồng(2) làng. Vậy từ đồng(1) là đơn vị tiền Việt Nam, từ đồng(2) nằm trong mối quan hệ “cánh đồng” là khoảng đất rộng bằng phẳng trồng lúa hoặc hoa màu. Hiện tượng đồng âm cùng từ loại như trên học sinh rất dễ nhầm lẫn với từ nhiều nghĩa hầu hết các từ nhiều nghĩa đều có cùng từ loại. Trong quá trình dạy học, tôi gặp phần lớn các từ nhiều nghĩa đều có cùng từ loại. Từ 'đi' trong các trường hợp sau đều là động từ: đi bộ Ví dụ: đi đi chơi đi ngủ đi xe Vì vậy khi gặp những từ có cùng âm thanh giống nhau thì học sinh không được vội vàng phán quyết ngay hiện tượng đồng âm hay nhiều nghĩa mà phải suy nghĩ thật kĩ, giải nghĩa chính xác các từ đó trong văn cảnh tìm ra điểm khác nhau hoàn toàn hay giữa chúng có sự liên hệ với nhau về nghĩa. Trong một số trường hợp giống nhau về âm thanh nhưng khó phân biệt hiện tượng đồng âm hay nhiều nghĩa. Ví dụ: Các từ trong mỗi nhóm dưới đây có quan hệ như thế nào?
- 7 a) đánh cờ, đánh giặc, đánh trống. b) trong veo, trong vắt, trong xanh, c) thi đậu, xôi đậu, chim đậu cành. Ở nhóm a) các từ “đánh” đều là động từ nhưng xét về nghĩa các từ 'đánh cờ' (một trò chơi), 'đánh giặc' (chiến đấu với kẻ thù) và 'đánh trống' (dùng dùi hoặc tay đánh vào mặt trống cho phát ra âm thanh) thì nghĩa của chúng có liên quan đến nhau, đều tác động đến một sự vật khác, làm cho sự vật đó có sự thay đổi, vì vậy các từ “đánh” ở nhóm a có quan hệ nhiều nghĩa. Ở nhóm c) các từ “đậu” có quan hệ đồng âm với nhau vì đậu “trong thi đậu” là tính từ (đỗ, trúng tuyển), “đậu” trong “xôi đậu” là danh từ (gạo nếp trộn với đậu ngâm muối để ráo rồi xôi lên), 'đậu' (trong chim đậu trên cành) là động từ (nghỉ, tạm dừng lại). Tuy nhiên các từ “trong” ở nhóm b) cũng là các từ có cùng từ loại (tính từ) nhưng chúng lại có quan hệ đồng nghĩa với nhau. 2.4. Giải pháp 4: Dùng sơ đồ Tôi thấy khi tôi dạy theo cách vẽ sơ đồ thì học sinh nhớ kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa nhiều hơn, nhanh hơn đặc biệt là những học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng. Thông thường khi dạy đến bài tập về từ đồng âm, tôi vừa hướng dẫn vừa giúp học sinh nhớ lại kiến thức bằng việc vẽ hai hình tròn ngang nhau nhưng rời nhau như sau: Khi ấy học sinh hiểu rằng mỗi hình tròn biểu thị cho nghĩa của một từ và các nghĩa ấy hoàn toàn khác nhau, không có mối quan hệ gì. Ví dụ: 'bức tranh' và 'tranh giành' . Còn khi hướng dẫn học sinh các bài tập về từ nhiều nghĩa tôi cũng vừa hướng dẫn vừa vẽ hai hình tròn nhưng hai hình tròn lại có chỗ giao thoa với nhau như sau: Khi ấy, học sinh hiểu rằng chỗ giao thoa giữa hai hình tròn là biểu thị mối quan hệ với nhau về nghĩa, phần không giao thoa giúp các em hiểu giữa các từ ấy có những điểm không hoàn toàn giống nhau về nghĩa. Ví dụ: Mùa xuân(1) là tết trồng cây Làm cho đất nước càng ngày càng xuân(2). xuân(1) chỉ mùa đầu tiên của một năm, từ tháng giêng đến tháng 3 xuân(2) chỉ tuổi trẻ, sức trẻ. Nghĩa của hai từ 'xuân' trên tuy có những điểm khác
- 8 nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ với nhau là cùng nói tới sự tươi trẻ đầy sức sống và đây chính là phần giao nhau trên sơ đồ. 2.5. Giải pháp 5: Tổ chức dạy có sự lồng ghép, gợi mở kiến thức Trong chương trình sách giáo khoa, bài dạy về từ nhiều nghĩa được sắp xếp sau bài dạy về từ đồng âm. Như vậy để phòng tránh sự nhầm lẫn giữa từ đồng âm với từ nhiều nghĩa thì ngay ở bài dạy về từ đồng âm, ngoài ví dụ đúng về các trường hợp đồng âm giáo viên có thể đưa thêm một số ví dụ về các trường hợp không phải đồng âm để các em nhận xét. Ví dụ: Từ “đi” trong các trường hợp sau đây có phải hiện tượng đồng âm hay không? - Buổi sáng, ông em đi bộ tập thể dục. - Cha mới đi Hà Nội về. - Hè này, cả nhà em đi du lịch - Anh đi con mã, tôi đi con tốt. - Thằng bé đã đến tuổi đi học. Thảo luận nhóm Thảo luận cặp đôi Bài tập này giáo viên chỉ yêu cầu học sinh nhận diện từ “đi” trong các câu văn trên là hiện tượng đồng âm hay không phải đồng âm, không yêu cầu các em giải thích gì và sẽ có hai phương án trả lời: đồng âm hay không đồng âm. Giáo viên gợi mở cho các em suy nghĩ tìm hiểu trong sách giáo khoa. Các tiết luyện từ và câu tiếp theo thầy sẽ giúp các em tìm câu giải đáp. Sau phần ghi nhớ của bài học “từ nhiều nghĩa” giáo viên có thể lấy thêm một hai trường hợp về từ nhiều nghĩa, sau đó quay lại lấy một ví dụ về từ đồng âm cho học sinh nhận định về các từ trong ví dụ. Ví dụ: từ 'chỉ' trong các trường hợp sau là từ đồng âm hay nhiều nghĩa? Vì sao? Cái kim sợi chỉ - chiếu chỉ - chỉ đường - một chỉ vàng. Ở câu hỏi này, giáo viên yêu cầu học sinh giải thích lí do lựa chọn để khẳng định kiến thức và khả năng nhận diện, phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa.
- 9 Vấn – đáp(Cá nhân) Chia sẻ cặp đôi Sau khi học sinh trả lời giáo viên chốt lại từ “chỉ” trong các trường hợp trên có quan hệ đồng âm vì nghĩa của từ "chỉ' trong mỗi trường hợp khác nhau, không có quan hệ với nhau. Nội dung trên, giáo viên cũng tiến hành khoảng 2-3 phút, dành thời gian cho các em làm bài tập phần luyện tập. Cuối tiết học giáo viên nhấn mạnh: các em cần lưu ý phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, tránh nhầm lẫn đáng tiếc giữa hai hiện tượng này. 2.6. Giải pháp 6: nghiên cứu các bài tập phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa Dạng 1: Phân biệt nghĩa của các từ * Đối với từ đồng âm: phân biệt nghĩa của các từ đồng âm trong các cụm từ sau: cánh đồng(1) - tượng đồng(2) - một nghìn đồng(3) Bài tập này, giáo viên giúp học sinh hiểu nghĩa của các từ "đồng" ở mỗi trường hợp: đồng (1) chỉ khoảng đất rộng, bằng phẳng, dùng để trồng trọt. đồng(2) là kim loại có màu đỏ, dễ dát mỏng và kéo thành sợi, đồng(3) là đơn vị tiền Việt Nam. Như vậy nghĩa của các từ "đồng" khác nhau, chúng là những từ đồng âm. * Đối với từ nhiều nghĩa: Trong những câu sau câu nào có từ “chân” mang nghĩa gốc và câu nào có từ “chân” mang nghĩa chuyển? Chân: a) Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân. b) Bé đau chân. “chân” trong câu a chỉ một bộ phận làm trụ đỡ của cái kiềng (nghĩa chuyển), “chân” trong câu b một bộ phận của cơ thể đỡ và di chuyển cơ thể (nghĩa gốc). Dạng 2: Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm hoặc nhiều nghĩa. * Đối với từ đồng âm. Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm: bàn, cờ, nước. Ở bài tập này giáo viên hướng dẫn học sinh với mỗi từ các em cần đặt ít nhất là hai câu, các từ đó có quan hệ đồng âm với nhau. Ví dụ: bàn: - Cả nhà ngồi vào bàn để ăn cơm. - Bố mẹ em đang bàn cụng việc.
- 10 * Đối với từ nhiều nghĩa. Đặt câu để phân biệt nghĩa của từ “ đứng” đứng: Nghĩa 1: ở tư thế chân thẳng, chân đặt trên mặt nền. Nghĩa 2: ngừng chuyển động. Ví dụ: Nghĩa 1: Chúng em đang đứng nghiêm trang chào cờ. Nghĩa 2: Trời đứng gió Dạng 3: phân biệt quan hệ đồng âm, quan hệ nhiều nghĩa Ví dụ: Trong các từ in đậm dưới đây, những từ nào có quan hệ đồng âm, những từ nào có quan hệ đồng nghĩa với nhau ? vàng: - Giá vàng tăng đột biến. - Tấm lòng vàng. - Ông tôi mua một vàng lưới để chuẩn bị cho vụ đánh bắt hải sản. Đáp án: Từ “vàng” ở câu 1,2 có quan hệ nhiều nghĩa, từ “vàng” ở câu 3 có quan hệ đồng âm với từ “vàng” câu 1,2 Dạng 4: nối từ, cụm từ với nghĩa đã cho * Đối với từ đồng âm: Ví dụ: Nối các cụm từ ở cột A với nghĩa thích hợp ở cột B: A B 1. Sao trên trời có khi tỏ khi mờ. a. Chép lại hoặc tạo ra văn bản khác theo đúng 2. Sao lá đơn này thành ba bản. bản chính. 3. Sao tẩm chè. b. Tẩm một chất nào đó rồi sấy khô 4. Sao ngồi lâu thế ? c. Nêu thắc mắc không biết rõ nguyên nhân. 5. Đồng lúa mượt mà sao. d. Nhấn mạnh mức độ ngạc nhiên, thán phục e. Các thiên thể trong vũ trụ. Đáp án: 1 – e, 2 – a, 3 – b, 4 – c, 5 – d. * Đối với từ nhiều nghĩa: Ví dụ: Tìm ở cột B lời giải nghĩa thích hợp cho từ “chạy” trong mỗi câu ở cột A. A B 1. Bé chạy lon ton trên sân a. Hoạt động của máy móc. 2. Tàu chạy băng băng trên đường b. Khẩn trương tránh những diều ray. không may sắp xảy đến. 3. Đồng hồ chạy đúng giờ c. Sự di chuyển nhanh của phương 4. Dân làng khẩn trương chạy lũ tiện giao thông d. Sự di chuyển nhanh bằng chân. Đáp án: 1 – d, 2 – c, 3 – a, 4 – b 2.7. Giải pháp 7: Tự tích luỹ các trường hợp về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa trong cuộc sống hàng ngày để có thêm vốn từ trong giảng dạy * Đối với từ đồng âm:
- 11 a) bạc - Cái nhẫn bằng bạc. - Ông Sáu tóc đã bạc. b) đàn - Cây đàn ghi ta. - Đàn chim tránh rét trở về. * Đối với từ nhiều nghĩa: a) chạy - Cầu thủ chạy đón quả bóng. - Nhà ấy chạy ăn từng bữa. b) cứng - Lúa đã cứng cây. - Lí lẽ rất cứng. c) xuân Mùa xuân là tết trồng cây. Làm cho đất nước càng ngày càng xuân. (Hồ Chí Minh) - Khi người ta đã ngoài 70 xuân thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càn thấp. 7. Tính hiệu quả: - Hiệu quả kinh tế: sáng kiến đã góp phần tiết kiệm thời gian, công sức cho giáo viên. Giáo viên có điều kiện thuận lợi để áp dụng vào giảng dạy. Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập cho học sinh. - Lợi ích xã hội: Sáng kiến đã giúp học sinh học tốt hơn về môn Tiếng Việt. Học sinh nắm bắt, hiểu, khắc sâu và vận dụng được kiến thức đã học, góp phần nâng cao ý thức học tập và rèn luyện của học sinh. Tạo được sự đồng thuận trong phụ huynh, uy tín người giáo viên càng được nâng lên. Từ đó thúc đẩy lòng yêu nghề, yêu thương học sinh, sự nhiệt tình, tận tâm giảng dạy của giáo viên. Thống kê một số bài làm về đọc hiểu văn bản và kiến thức tiếng Việt trong bài kiểm tra đọc - hiểu cuối kỳ một của học sinh để đối chiếu với kết quả khảo sát ban đầu, tôi có kết quả như sau: STT Điểm số Số lượng bài Tỉ lệ % 1 9 - 10 7 31,8 2 7 – 8 9 40,9 3 5 - 6 6 27,3 4 Dưới 5 0 0 Qua kết quả trên chứng tỏ học sinh đã có tiến bộ rõ rệt trong phân môn luyện từ và câu nói riêng và môn tiếng Việt nói chung.
- 12 Với những giải pháp trên, sự nỗ lực của bản thân cùng sự cố gắng phấn đấu vươn lên của các em học sinh. Tôi đã hình thành cho học sinh kĩ năng phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa, tạo cho học sinh tính tích cực học tập, kết quả học tập của lớp tôi đã được nâng lên rõ rệt. 8. Phạm vi ảnh hưởng: - Phạm vi áp dụng: Sáng kiến áp dụng trong lớp, trong tổ khối, ở trường và các trường Tiểu học khác. Bản thân tôi đã cố gắng giúp cho học sinh nắm kiến thức mới và vận dụng trong học tập cũng như trong cuộc sống một cách hiệu quả. - Điều kiện áp dụng và triển khai, nhân rộng: Sự đồng thuận của nhà trường; giáo viên nhiệt tình, tận tâm, chấp nhận và làm theo sáng kiến, học sinh tích cực học tập. Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, các ban ngành để sáng kiến này được triển khai, nhân rộng, phổ biến trong phạm vi ở tổ khối, trong nhà trường và các trường Tiểu học khác. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, cũng như chất lượng và hiệu quả giáo dục. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trên là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ Trung An, ngày 18 tháng 4 năm 2023 HIỆU TRƯỞNG Người nộp đơn Võ Thanh Tâm



