Bộ tài liệu Ôn thi HSG môn Lịch Sử Lớp 9

pdf 73 trang Ngọc Diệp 12/03/2026 20
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bộ tài liệu Ôn thi HSG môn Lịch Sử Lớp 9", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfbo_tai_lieu_on_thi_hsg_mon_lich_su_lop_9.pdf

Nội dung text: Bộ tài liệu Ôn thi HSG môn Lịch Sử Lớp 9

  1. ----------– & —---------- BỘ TÀI LIỆU ÔN THI HỌC SINH GIỎI Môn: Lịch sử 9 NĂM HỌC 2020-2021
  2. A. PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI Chủ đề 1: LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG ÂU A/ LIÊN XÔ I. Những thành tựu chủ yếu của Liên Xô trong công cuộc xây dựng CNXH từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm 70 của TK XX. 1) Hoàn cảnh lịch sử Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô phải gánh chịu nhiều khó khăn: - Hy sinh tổn thất nặng nề: trên 27 triệu người chết, 1710 thành phố, 70 ngàn làng mạc bị tàn phá và tiêu huỷ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Đất nước bị chậm lại khoảng 10 năm trong công cuộc phát triển kinh tế - Các nước phương Tây (do Mỹ cầm đầu) đã thực hiện chính sách thù địch với Liên Xô bao vây kinh tế, phát động “chiến tranh lạnh” chạy đua vũ trang, chuẩn bị cuộc chiến tranh tổng lực nhằm tiêu diệt Liên Xô và các nước Chủ nghĩa xã hội. - Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ. 2) Những thành tựu chủ yếu. a/ Kinh tế Trong hoàn cảnh lịch sử đó, nhân dân Liên Xô đã khẩn trương tiến hành công cuộc khôi phục kinh tế , củng cố quốc phòng, giúp đỡ các nước XHCN và phong trào cách mạng thế giới. Hoàn thành kế hoạch 5 năm khôi phục kinh tế (1946-1950) trong 4 năm 3 tháng tổng sản lượng công nghiệp tăng 73 % so với năm 1939, xây dựng
  3. thành công cơ sở vật chất kĩ thuật bằng nhiều kế hoạch dài hạn như kế hoạch 5 năm (1951-1946), (1956-1941), (1959-1065). Đến nữa đầu thập kỉ 70, Liên Xô trở thành cường quốc công nghiệp đứng thứ hai trên thế giới, chiếm gần 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới, tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân là 9,6%. Về nông nghiệp: năm 1970, Liên Xô đạt được sản lượng và năng xuất cao với 186 triệu tấn ngũ cốc và năng xuất trung bình là 15, 6 tạ/ ha. Năm 1972, sản lượng công nghiệp tăng 321 lần, thu nhập quốc dân tăng 112 lần. b/ Khoa học-kĩ thuật Đạt được nhiều thành tựu, đỉnh cao trong các lĩnh vực vật lý, hoá học, khoa học vũ trụ...đi đầu trong các ngành công nghiệp mới bằng công nghiệp vũ trụ, điện nguyên tử, chế tạo thành công bom nguyên tử (1949), phóng vệ tinh nhân tạo (1957) du hành vũ trụ (1961) đưa nhà du hành vũ trụ Gagarin bay vòng quanh Trái Đất mở đầu kĩ nguyên chinh phục vũ trụ của con người. c/ Về xã hội Liên Xô còn đứng đầu thế giới về trình độ học vấn với ¾ dân số có trình độ học vấn đại học và trung học,với 30 triệu người làm việc trí óc, công nhân chiếm ½ dân số người lao động trong nước. d) Về mặt quân sự Đầu những năm 70, đạt thế cân bằng sức mạnh quân sự nói chung và tiềm năng hạt nhân nói riêng so với các nước đế quốc. Năm 1972, chế tạo thành công tên lửa hạt nhân . Sau chiến tranh thế giới thứ hai, uy tín chính trị và vị trí quốc tế của Liên Xô được nâng cao. 3) Ý nghĩa, nguyên nhân của những thành tựu trên. a. Ý nghĩa: Làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ. Thể hiện tính ưu việt của Chủ nghĩa xã hội xây dựng và phát triển kinh tế , quốc phòng vững mạnh, nâng cao đời sống của của nhân dân. Cũng cố hoà bình, tăng thêm sức mạnh của lực lượng cách mạng thế giới.
  4. Những thành tựu mà Liên Xô đạt được là vô cùng to lớn và không thể phủ định được. b. Nguyên nhân. - Nhờ sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của ĐCS Liên Xô. - Sự tin tưởng ủng hộ của nhân dân cùng với tinh thần lao động cần cù, sang tạo. - Liên Xô biết dựa vào sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc và áp dụng thành tựu khoa học – kỉ thuật vào sản xuất. 4) Chính sách đối ngoại và vị trí quốc tế * Đối ngoại a/ Mục tiêu, phương hướng cơ bản. - Đảm bảo điều kiện kinh tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội. - Loại trừ nguy cơ chiến tranh, duy trì hoà bình, an ninh chung. - Mở rộng quan hệ hợp tác với các nước Chủ nghĩa xã hội , thúc đẩy hệ thống Chủ nghĩa xã hội phát triển vững mạnh. - Phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, bình đẳng với các mới giải phóng. - Đoàn kết với các Đảng cộng sản, các đảng dân chủ cách mạng, phong trào công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc - Duy trì và phát triển quan hệ với các nước chủ nghĩa tư bản trên cơ sở chung sống hoà bình, hợp tác cùng có lợi. - Kiên quyết chống lại các chính sách gây chiến, xâm lược của chủ nghĩa Đế quốc và các thế lực phản động thế giới. b/ Thực hiện - Từ năm 1945 đến nữa đầu những năm 70 của thế kĩ 20, Liên Xô đã thực hiên chính sách đối ngoại hoà bình và là chỗ dựa của phong trào cách mạng thế giới. - Giúp đỡ các nước Chủ nghĩa xã hội về vật chất và tinh thần trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội .
  5. - Luôn luôn ủng hộ sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội đặc biệt đối với các nước Phi và Mỹ-Latinh, châu Á. - Đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ hoà bình và an ninh thế giới, kiên quyết chống chính sách gây chiến xâm lược của chủ nghĩa Đế quốc và các thế lực phản động quốc tế. - Tại Liên hiệp quốc, Liên Xô đã đề ra nhiều sáng kiến quan trọng sau trong việc cũng cố hoà bình, tôn trọng độc lập chủ quyền của các dân tộc, phát triển sự hợp tác quốc tế. - Tuyên ngôn về việc thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa thực dân và giao trả độc lập cho các quốc gia và các dân tộc thuộc địa (1960) - Tuyên ngôn về việc cấm sử dụng vũ khí hạt nhân (1961) - Tuyên ngôn về việc thủ tiêu tất cả các hình thức của chế độ phân biệt chủng tộc (1963). * Vị trí (vai trò quốc tế) của Liên Xô Sau chiến tranh thế giới thứ hai, địa vị của Liên Xô được nâng cao. Liên Xô là nước Chủ nghĩa xã hội hùng mạnh nhất thế giới (trở thành một trong hai cực của trật tự Ianta) là thành tựu của hoà bình và là chỗ dựa vững chắt của phong trào cách mạng thế giới. 5. Sự giúp đỡ của Liên Xô đối với Việt Nam từ năm 1954-1991. - Trên cơ sở tổ chức hiệp ước Vacxava (5/1955) Liên Xô đã trở thành 1 nước có vai trò quan trọng trong tổ chức để giúp các nước Chủ nghĩa xã hội cùng phát triển cụ thể đối với Việt Nam sau: - Ủng hộ Việt Nam trong giai đoạn chống Pháp ủng hộ về tinh thần vì Việt Nam đang chiến đấu trong vùng vây kẻ thù Liên Xô là hậu phương quốc tế. - Ủng hộ về vũ khí, phương tiện chiến tranh. +/ Giai đoạn chống Mỹ (1954-1975) - Viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam - Đào tạo chuyên gia kĩ thuật cho Việt Nam
  6. - Các công trình kiến trúc và bệnh viện lớn: cầu Long Biên (Hà Nội), bệnh viện Việt-Xô... +/ Giai đoạn 1975-1991 - Công trình thuỷ điện Hoà Bình (500kw) - Dàn khoan dẫn khí mỏ Bạch Hùng, Bạch Hổ (Vũng Tàu) - Đào tạo chuyên gia, tiến sĩ, kĩ sư thường xuyên. - Hợp tác xuất khẩu lao động - Hàn gắng vết thương chiến tranh. +/ Ý nghĩa của sự giúp đỡ đó đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. - Tăng thêm sức mạnh cho dân tộc ta đánh Pháp, Mỹ và xây dựng Chủ nghĩa xã hội - Giúp đỡ trên tinh thần quốc tế vô sản - Nhiều công trình kiến trúc có giá trị kinh tế trên con đường Việt Nam công nghiệp hoá, hiện đại hoá (dầu khí Vũng Tàu, thuỷ điện Hoà Bình). - Dân tộc Việt Nam không bao giờ quên sự giúp đỡ chân tình của Liên Xô đối với Việt Nam. - Dù lịch sử có qua đi, hôm nay và mãi mãi về sau tình hữu nghị giữa Liên Xô và Việt Nam còn mãi mà người Việt Nam chúng ta cần phải giữ gìn và phát huy. B. Quá trình khủng hoảng và tan rã của Liên bang Xô viết. 2.1. Bối cảnh lịch sử: Năm 1973, thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng dầu mỏ. Để thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng, các nước tư bản đã tìm cách cải cách về kinh tế, thích nghi về chính trị, nhờ đó thoát ra khỏi khủng hoảng. Tuy nhiên, ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô đã chậm trễ trong việc đề ra cải cách cần thiết nên bước sang những năm 80 của thế kỉ XX, nền kinh tế Liên Xô ngày càng lún sâu vào tình trạng khó khăn, trì trệ, khủng hoảng. Năm 1985, Goóc-ba-chốp lên nắm quyền lãnh đạo Đảng và Nhà nước Xô Viết và tiến hành cải tổ. Cuộc cải tổ được tuyên bố như một cuộc cách mạng
  7. nhằm sửa chữa những sai lầm trước kia, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và xây dựng một CNXH theo đúng bản chất và ý nghĩa nhân văn đích thực của nó. 2.2. Nội dung công cuộc cải tổ: Về chính trị - xã hội: thực hiện chế độ Tổng thống nắm mọi quyền lực, thực hiện đa nguyên về chính trị, xoá bỏ chế độ một đảng, tuyên bố dân chủ và công khai mọi mặt. èXa rời chủ nghĩa Mác, Lê – nin đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Về kinh tế: đưa ra nhiều phương án nhưng chưa thực hiện được gì. Kinh tế đất nước vẫn trượt dài trong khủng hoảng. 2.3. Kết quả: Công cuộc cải tổ gặp nhiều khó khăn, bế tắc. Suy sụp kinh tế kéo theo suy sụp về chính trị. Chính quyền bất lực, tình hình chính trị bất ổn, tệ nạn xã hội tăng, xung đột sắc tộc luôn sảy ra, nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô chia rẽ... Ngày 19 tháng 8 năm 1991, một cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống Goóc-ba-chốp nổ ra nhưng thất bại, hệ quả là Đảng Cộng sản Liên Xô bị đình chỉ hoạt động, Chính phủ Xô Viết bị giải tán, 11 nước Cộng hoà tách khỏi Liên bang Xô Viết, thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG). Ngày 25 tháng 12 năm 1991, Tổng thống Goóc-ba-chốp từ chức, chế độ XHCN ở Liên Xô bị sụp đổ. 2.4. Nguyên nhân sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu. + Đã xây dựng mô hình CNXH chứa đựng nhiều khuyết tật và sai sót, không phù hợp với quy luật khách quan trên nhiều mặt: kinh tế, xã hội, thiếu dân chủ, thiếu công bằng. + Chậm sửa đổi trước những biến động của tình hình thế giới. Khi sửa chữa, thay đổi thì lại mắc những sai lầm nghiêm trọng: rời bỏ nguyên lý đứng đắn của CN Mác-Lênin. + Những sai lầm, tha hoá về phẩm chất chính trị, đạo đức của một số nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở một số nước XHCN đã làm biến dạng CNXH, làm mất lòng tin, gây bất mãn trong nhân dân.
  8. + Hoạt động chống phá CNXH của các thế lực thù định trong và ngoài nước. =>Đây chỉ là sự sụp đổ của một mô hình CNXH chưa khoa học, chưa nhân văn, là một bước lùi của CNXH chứ không phải là sự sụp đổ của lý tưởng XHCN của loài người. 2.5 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu. - Kiên định mục tiêu XHCN mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. - Cảnh giác trước các thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước - Xây dưng mô hình XHCN khoa học, nhân văn, đề cao quyền tự do, dân chủ của nhân dân C. SỰ HÌNH THÀNH HỆ THỐNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1/ Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) a/ Hoàn cảnh 8/1/1949, thành lập hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) gồm Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Bungari, Rumani và Anbani để giúp các nước Đông Âu xây dựng nhanh chóng Chủ nghĩa xã hội , thúc đẩy sự hợp tác lẫn nhau về kinh tế, khoa học kĩ thuật. Sau đó có thêm các nước: CHDC Đức, Mông Cổ, Cu-ba, Việt Nam. b/ Mục tiêu Phát triển sự liên hợp quốc tế Chủ nghĩa xã hội . Thúc đẩy sự tiến bộ về kinh tế, kĩ thuật. Không ngừng nâng cao mức sống của các thành viên c/ Tổ chức, hoạt động và tác dụng - Tổ chức cao nhất của SEV là các khoá họp Hội đồng Thủ tướng các nước thành viên. Liên Xô giữ vai trò quan trọng trong hạt động của khối này. - Sau hơn 30 năm hoạt động, SEV đã có những giúp đỡ to lớn đối với các nước thành viên trong công cuộc xây dựng cơ sở vật chất và Chủ nghĩa xã hội góp phần nâng cao đời sống của nhân dân.
  9. - Đến nữa đầu những năm 70, chỉ với số dân bằng 10% dân số thế giới nhưng SEV đã sản xuất được 35% sản lượng công nghiệp thế giới, nhịp độ phát triển trung bình 10% / năm. => Hạn chế: Tuy nhiên hội đồng SEV vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót là khép kín cửa, không hoà nhập với nền kinh tế thế giới, còn nặng về trao đổi hàng hoá mang tính bao cấp. Do sự sụp đổ của chế độ Chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu.28/6/1991,khối SEV ngừng hoạt động. 2. Tổ chức liên minh phòng thủ Vaxava. a/ Hoàn cảnh - Để chống lại âm mưu gây chiến, xâm lược của NATO (4/1949) do Mỹ cầm đầu. 14/5/1955, tổ chức hiệp ước Vacsava được thành lập. b/ Tính chất - Đây là liên minh phòng thủ quân sự, chính trị của Liên Xô và các nước Đông Âu nhằm giữ gìn hoà bình an ninh của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu, nhằm giữ gìn an ninh cho các nước thành viên, duy trì hoà bình ở Đông Âu và cũng cố tình hữu nghị, sự hợp tác của các nước Chủ nghĩa xã hội. c/ Vai trò và tác dụng - Tăng cường sức mạnh quân sự cho các nước Đông Âu giữ gìn hoà bình, an ninh của Liên Xô và các nước Đông Âu. Đối phó với mọi âm mưu gây chiến của bọn Đế quốc, hình thành thế cân bằng chiến lược quân sự. d/ Nguyên nhân giải thể - 31/3/1991, tổ chức hiệp ước Vacsava giải thể vì những biến đổi chính trị ở Liên Xô và Đông Âu và do Xô-Mỹ thoả thuận về việc chấm dứt “Chiến tranh lạnh”.
  10. Chủ đề 2 PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Á, PHI, MI-LA- TINH (1945 - những năm 90 của thế kỉ XX) 1. Khái quát chung về châu Á, châu Phi và khu vực Mĩ La tinh. - Là những khu vực đông dân, có nguồn lao động dồi dào, lãnh thổ rộng lớn với nguồn tài nguyên thiên nhiên hết sức phong phú,vị trí chiến lược quan trọng=> sớm trở thành đối tượng xâm lược của tư bản Phương Tây. - Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước trong khu vực này đều trở thành thuộc địa hoặc nửa thuộc địa của các đế quốc Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, Hà Lan, Bồ Đào Nha - Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước trong khu vực này đều giành được độc lập dân tộc, họ bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước để từng bước củng cố nền độc lập về kinh tế và chính trị, nhằm thoát khỏi sự khống chế, lệ thuộc vào các thế lực đế quốc bên ngoài, đặc biệt là Mĩ. 2.Quá trình phát triển của phong trào. * Giai đoạn từ năm 1945 đến giữa những năm 60 của thế kỷ XX: - Cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc nhằm đập tan hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Khởi đầu là nhân dân Đông Nam Á đã lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, trong đó tiêu biểu là In-đô-nê-xi-a, Việt Nam và Lào - Phong trào đấu tranh lan rộng sang Nam Á, Bắc Phi và Mĩ La-tinh. Nhiều nước giành được độc lập: Ấn Độ (1946-1950), Ai Cập (1952), Cu Ba (1959), năm 1960 là “Năm châu Phi” - Tới giữa những năm 60 của thế kỉ XX hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc - thực dân về cơ bản đã bị sụp đổ. * Giai đoạn từ giữa những năm 60 đến giữa những năm 70 của thế kỉ XX: - Nội dung chủ yếu là phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Ăng- gô-la, Mô-dăm-bích và Ghi-nê Bít-xao. Chính quyền ở Bồ Đào Nha đã tuyên bố trao trả độc lập cho các nước đó. * Giai đoạn từ giữa những năm 70 đến giữa những năm 90 của thế kỉ XX:
  11. - Nội dung chủ yếu là phong trào đấu tranh của nhân dân các nước ở Nam Phi nhằm xóa bỏ chế độ phân biệt chủng tộc (hay còn gọi là chế độ A-pác-thai) - Sau nhiều năm đấu tranh bền bỉ, gian khổ cuối cùng chính quyền thực dân đã phải tuyên bố xóa bỏ chế độ phân biệt chủng tộc: Rô-đê-di-a năm 1980 (nay là Cộng hoà Dim-ba-bu-ê), Tây Nam Phi năm 1990 ( nay là Cộng hoà Na-mi-bi- a) và Cộng hoà Nam Phi năm 1993. - Hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc đã bị sụp đổ hoàn toàn. Lịch sử các dân tộc Á, Phi và Mĩ La-tinh bước sang chương mới: Củng cố nền độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. 3. Ý nghĩa, vị trí của phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, Phi, Mĩ –la – tinh. - Phong trào giải phóng dân tộc đã hoàn toàn dành thắng lợi. - Đem đến nền độc lập của hơn 100 quốc gia trên thế giới và đưa nhân dân các nước thuộc địa, phụ thuộc từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. - Làm cho hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc hoàn toàn bị xóa bỏ đồng thời chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tồn tại nhiều thế kỉ. - Thắng lợi này góp phần làm xói mòn trật tự hai cực Ianta và bản đồ chính trị thế giới có sự thay đổi to lớn và sâu sắc. - Ngày nay các nước Á, Phi, Mĩ latinh ngày càng tích cực tham gia và có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị đặc biệt là việc bảo vệ hòa bình an ninh thế giới và tiến bộ của nhân loại. - Sau khi dành độc lập trong quá trình xây dựng đất nước, phát triển kinh tế nhiều nước Á, Phi, Milatinh đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt như: TQ, Ấn Độ, Singapo, các nước ASEAN 4. Nhận xét đặc điểm chung.. - Quy mô phong trào: bùng nổ ở hầu hết các nước thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, từ châu Á, châu Phi đến khu vực Mĩ Latinh.
  12. - Thành phần tham gia lãnh đạo: Đông đảo các giai cấp tầng lớp nhân dân: công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc (VN: vô sản) - Hình thức và khí thế đấu tranh: đấu tranh vũ trang, chính trị trong đó đấu tranh vũ trang là hình thức chủ yếu. Phong trào nổ ra sôi nổi, quyết liệt làm tan rã từng mảng rồi dẫn đến sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. 5. Nguyên nhân thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, Phi, Mĩ – la –tinh sau chiến tranh bùng nổ và phát triển mạnh. - Sau chiến tranh thế giới thứ II, mâu thuẫn giai cấp, dân tộc ở các nước Á, Phi, Mĩ –la –tinh càng trở nên căng thẳng và sâu sắc do chính sách đẩy mạnh vơ vét bóc lột để bù đắp những tổn thất to lớn do chiến tranh gây ra. - Các lực lượng xã hội như giai cấp tư sản dân tộc, giai cấp vô sản ngày càng lớn mạnh và thành lập các chính đảng để lãnh đạo phong trào cách mạng ở đây. - Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc với sự thắng lợi của Liên Xô và lực lượng dân chủ, sự thất bại của CN phát xít và chủ nghĩa quân phiệt là cơ hội để phong trào phát triển. - Hệ thống XHCN hình thành trở thành chỗ dựa vững chắc cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Chủ đề 3 CÁC NƯỚC CHÂU Á. I. Tình hình chung của các nước châu Á. 1. Tình hình chung - Là châu lục rộng lớn đông dân nhất thế giới có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, có vị trí chiến lược quan trọng. - Trước chiến tranh thế giới thứ 2, các nước châu Á đều chịu sự bóc lột, nô dịch nặng nề của các nước đế quốc thực dân. - Sau CTTG2 một cao trào cách mạng đã diễn ra mạnh mẽ ở châu Á, tới cuối những năm 50, phần lớn các nước châu Á đã giành được độc lập như Trung Quốc, Ấn Độ, In đô-nê-xi-a - Sau “chiến tranh lạnh”, ở một số nước châu Á lại diễn ra những cuộc xung đột, tranh chấp biên giới, lãnh thổ hoặc các phong trào li khai với những hành động khủng bố dã man
  13. - Tuy nhiên, cũng từ nhiều thập niên qua, một số nước châu Á đã đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế, tiêu biểu như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Sin-ga-po, Ma-lai - xi a và Thái lan. Từ sự phát triển nhanh chóng đó nhiều người dự đoán rằng “thế kỉ XXI sẽ là thế kỉ của châu Á” 2. Vì sao từ nửa sau thế kỉ XX tình hình châu Á lại không ổn định. - Trước chiến tranh thế giới thứ 2, các nước châu Á đều chịu sự bóc lột, nô dịch nặng nề của các nước đế quốc thực dân. - Sau CTTG2 một cao trào cách mạng đã diễn ra mạnh mẽ ở châu Á, tới cuối những năm 50, phần lớn các nước châu Á đã giành được độc lập. - Từ nữa sau thế kỉ XX tình hình châu Á không ổn định do nhiều nguyên nhân : + Châu Á là châu lục nhiều tôn giáo, dân tộc khác nhau nên thường diễn ra mâu thuẫn sâu sắc về tôn giáo. + Sự xâm lược trở lại của các nước đế quốc đối với châu Á trong đó TâyÁ và ĐNÁ có vị trí chiến lược quan trọng nên các nước đế quốc tìm cách duy trì địa vị thống trị và ra sức ngăn cản phong trào cách mạng. + Từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc đến nay một số nước châu Á lại diễn ra tình trạng xung đột, tranh chấp biên giới, lãnh thổ hoặc phong trào li khai với những hành động khủng bố dã man như : Ấn Độ, Xi –ri- lan- ca, Pa-ki- xtan + Trong những năm gần đây một loạt điểm nóng ở châu Á rất căng thẳng và có nguy cơ bùng nổ chiến tranh như : tranh chấp biển đông, xung đột tôn giáo giữa đạo hồi và nhà nước tự xưng IS ở Syria. 3. Tại sao nói thế kỉ XXI là thế kỉ của châu Á. + Giới thiệu khái quát về châu Á - Đất rộng, người đông, tài nguyên phong phú; trước chiến tranh thế giới thứ hai chịu sự bóc lột và nô dịch nặng nề của đế quốc thực dân, đời sống nhân khổ cực. - Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á phát triển mạnh, hầu hết các nước đã giành được độc lập. Sau khi giành được độc lập,
  14. các nước châu Á bước vào thời kỳ xây dựng theo nhiều con đường khác nhau nhưng đều đạt được thành tựu to lớn. +Chứng minh sự tăng trưởng về kinh tế: - 3 nước ở vùng Đông Bắc Á gồm Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan được đánh giá là con rồng Châu Á. - Nhật Bản tư một đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề đến những năm 70 đã vươn lên trở thành một trong 3 trung tâm kinh tế, tài chính lớn nhất thế giới. - Trung Quốc: * Từ khi tiến hành cải cách mở cửa đến nay, nền kinh tế phát triển nhanh chóng tăng trưởng cao nhất thế giới; GDP hàng năm tăng 9,6% đứng thứ 7 thế giới. *Đời sống nhân dân nâng cao rõ rệt. Từ 1978 đến 1997 thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn tăng 133,6 đến 2090 nhân dân tệ; ở thành phố từ 343,4 lên 5160,3 nhân dân tệ. - Một số nước khác: * Ấn độ: là nước lớn thứ hai ở châu Á sau khi giành độc lập đã thực hiện kế hoạch dài hạn để phát triển kinh tế, XH và đạt được nhiều thành tựu to lớn từ một nước phải nhập khẩu lương thực nhờ cách mạng xanh trong nông nghiệp đã tự túc được lương thực cho hơn 1 tỉ người .. * Xin-ga-po: Từ 1965 đến 1973 kinh tế tăng trưởng 12% trở thành “ con rồng ở châu Á” * Ma-lai-xi-a: Từ 1963 đến 1983 tăng trưởng kinh tế 6,3%. * Thái Lan: Từ 1987 đến 1990 tăng trưởng 11,4%. + Kết luận: Với sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của các nước châu Á tiêu biểu là Ấn Độ, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á nên nhiều người dự đoán “ Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của châu Á”. II. Trung Quốc. 1. Sự ra đời của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
  15. Sau cuộc kháng chiến chống Nhật thắng lợi, Trung Quốc lâm vào cuộc nội chiến giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và tập đoàn Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch. Kết quả cuối cùng, Đảng Cộng sản Trung Quốc gianhf thắng lợi. Ngày 1 tháng 10 năm 1949, trước Quảng trường Thiên An Môn, Mao Trạch Đông đọc bản tuyên ngôn khai sinh nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Ý nghĩa: Kết thúc 100 năm đô hộ của đế quốc và 1000 nô dịch của phong kiến, đưa đất nước Trung Quốc bước vào kỉ nguyên mới: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Đối với thế giới, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời đã tăng cường cho phe XHCN và làm cho hệ thống CNXH được nối liền từ châu Âu sang châu Á. 2. Công cuộc cải cách - mở cửa của Trung Quốc: * Bối cảnh lịch sử: - Khách quan Năm 1973, cuộc khủng hoảng dầu mỏ bùng nổ, tiếp theo là những cuộc khủng hoảng về chính trị, kinh tế, tài chính Những cuộc khủng hoảng này đặt nhân loại đứng trước những vấn đề bức thiết phải giải quyết như tình trạng vơi cạn dần nguồn tài nguyên, bùng nổ dân số Yêu cầu cải cách về kinh tế, chính trị, xã hội để thích nghi với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học - kỹ thuật và sự giao lưu, hợp tác quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ theo xu thế quốc tế hoá. Trong bối cảnh trên, yêu cầu lịch sử đặt ra đối với tất cả các nước là phải nhanh chóng cải cách về kinh tế, chính trị- xã hội để thích ứng. - Chủ quan: từ năm 1959 đến năm 1978 Trung Quốc trải qua 20 năm không ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội. Với việc thực hiện đường lối “Ba ngọn cờ hồng” nền kinh tế Trung Quốc rơi vào tình trạng hỗn loạn, sản xuất giảm sút nghiêm trọng, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Trong nội bộ Đảng và Nhà nước Trung Quốc diễn ra những bất đồng gay gắt về đường lối, tranh chấp về quyền lực, đỉnh cao là cuộc “Đại cách mạng văn hóa vô sản” (1966-1976)
  16. Bối cảnh lịch sử trên đòi hỏi Trung Quốc tiến hành cải cách để phù hợp với xu thế chung của thế giới và đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng không ổn định Tháng 12-1978, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đề ra đường lối cải cách - mở cửa: Đường lối mới. Chủ trương xây dựng CNXH mang màu sắc Trung Quốc, lấy phát triển kinh tế làm trung tâm, thực hiện cải cách mở cửa. * Thành tựu: Thực hiện đường lối cải cách đất nước Trung Quốc đã có những biến đổi căn bản. + Kinh tế phát triển nhanh chóng, đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới (GDP tăng 9,6%). + Đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt. + Chính trị-xã hội: ổn định, uy tín, địa vị quốc tế của TQ được nâng cao. + Đối ngoại: bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Liên Xô, Mông Cổ, Việt Nam, mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác, thu hồi chủ quyền đ/v Hồng Công, Ma Cao. + Đạt nhiều thành tựu trong phát triển khoa học kỹ thuật, phóng tàu, đưa người lên vũ trụ để nghiên cứu KHKT (Là nước thứ 3 trên thế giới) * Ý nghĩa: Khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới của Trung Quốc, góp phần củng cố sức mạnh và địa vị của trung Quốc trên trường quốc tế, đồng thời tạo điều kiện cho Trung Quốc hội nhập với thế giới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và ngược lại thế giới có cơ hội tiếp cận với một thị trường rộng lớn đầy tiềm năng như Trung Quốc. * Bài học kinh nghiệm từ sự thành công của Trung Quốc. - Kiên định đi theo con đường XHCN - Xây dựng CNXH mang đặc trưng riêng phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, XH của dân tộc mình. - Duy trì, củng cố, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản - Đổi mới kinh tế gắn liền với đổi mới chính trị, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm
  17. - Thực hiện mở cửa, đẩy mạnh hội nhập và hợp tác với các nước trên thế giới nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế gắn với nguyên tắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. - Xây dựng và phát triển đất nước gắn liền với ổn định tình hình chính trị, xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao đời sống nhân dân. * Mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. - Với đặc điểm núi liền núi, sông liền sông Trung quốc và Việt Nam có mối quan hệ lâu đời. Thế hệ các nhà cách mạng tiền bối đứng đầu là Chủ tich Hồ Chí Minh và chủ tịch Mao Trach Đông đã dày công đúc kết trên tinh thần vừa là đồng chí, vừa là anh em. - Trong thời kì chống Pháp và chống Mĩ Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ to lớn từ Trung Quốc về vật chất và tinh thần. - Năm 1978 Trung Quốc đã phát động chiến tranh biên giới làm ảnh hưởng to lớn đến mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước. - Từ những năm 80 của thế kỉ XX đến nay hai nước đã bình thường hóa, quan hệ hữu nghị cùng hợp tác phát triển trên tinh thần 4 tốt( láng giềng tốt, đối tác tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt) - Tháng 5/2014 Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt trái phép dàn khoan HĐ981 trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam, hành động này đã làm tổn hại đến tình cảm, tình hữu nghị giữa hai nước. * Hành động tranh chấp chủ quyền trên biển đông hiện nay của TQ? Đánh giá hành động đó và liên hệ trách nhiệm bản thân. - Hành động: + 5-2014 hạ đặt trái phép giàn khoan HD981 trong vùng biển thuộc chủ quyền VN. + Bồi đắp các đảo nhân tạo và biến những nơi đó thành căn cứ quân sự. + 7- 2019 TQ đưa giàn khoan H8 và hàng chục tàu quân sự hộ tống tiến sâu vào thềm lục địa thuộc chủ quyền VN . - Đánh giá:
  18. + Đó là những hành động vi phạm trắng trợn chủ quyền quốc gia Viêt Nam. + Đi ngược với luật pháp quốc tế và công ước của liên hợp quốc về luật biển 1982 và những cam kết của TQ với ASEAN - Trách nhiệm bản thân. +Là công dân Viêt Nam chung ta phải đoàn kết với các nước trong khu vực ĐNA và các nước trên thế giới làm sáng tỏ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta và đồng thời vạch trần hành động vi phạm chủ quyền nước khác của TQ. + Chúng ta phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt tránh rơi vào âm mưu của TQ, bên cạnh đó là tăng cường đoàn kết kiên quyết một lòng bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ. + Là học sinh chúng em sẽ cố gắng học tập tốt để nâng cao tri thức về KH-KT. Tích cực tham gia phong trào hướng về chủ quyền biển đảo như góp đá xây dựng Trường Sa, viết thư cho các chiến sĩ đang làm nhiệm vụ giữ gìn chủ quyền trên các đảo, đồng thời tham gia các cuộc thi hướng về biển đảo. **Bổ sung kiến thức : *Vấn đề 1. Trong các đường lối xây dựng xã hội chủ nghĩa từ cuối năm 1978 của Đảng và Nhà nước Trung Quốc, theo anh/chị, đường lối nào là đóng vai trò quyết định dẫn đến thắng lợi của công cuộc cải cách ? Tại sao ? Trong các đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội từ cuối năm 1978 ở Đảng và Nhà nước Trung Quốc thì đường lối đóng vai trò quyết định dẫn đến thắng lợi của công cuộc cải cách là : Lấy xây dựng kinh tế làm trọng tâm, kiên trì nguyên tắc: – Con đường xã hội chủ nghĩa – Chuyên chính dân chủ nhân dân. – Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ nghĩa Mác – Lênin – Tư tưởng Mao Trạch Đông. Bởi vì:
  19. – Trước năm 1978, do đường lối “ba ngọn cờ hồng” đã làm cho kinh tế Trung Quốc khủng hoảng (nạn đói diễn ra trầm trọng, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, sản xuất ngưng trệ, tụt hậu so với thế giới) – Kinh tế là nhân tố hàng đầu thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực xã hội, chính trị, quân sự Vì vậy trong đường lối cải cách mở cửa của Trung Quốc, việc phát triển kinh tế được lấy làm yếu tố trung tâm. * Vấn đề 2. Theo anh/chị, công cuộc cải cách kinh tế – xã hội hiện nay tại Trung Quốc còn có những hạn chế gì ? – Một là, tụt hậu xa hơn về kinh tế, khoa học – kĩ thuật so với các cường quốc tư bản phương Tây trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện nay. Vì sự phát triển khoa học – kĩ thuật của thế giới vừa tạo ra thời cơ cho những nước tiếp cận được, đồng thời cũng vừa tạo ra nguy cơ đối với những nước không tiếp cận được. – Hai là, chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Nguy cơ này dẫn tới mất vai trò lãnh đạo của Đảng, mất định hướng xã hội chủ nghĩa. – Ba là nạn tham nhũng, mâu thuẫn xã hội và các tệ nạn xã hội khi phát triển kinh tế thị trường phải đối mặt với suy thoái đạo đức, phân cực giàu nghèo quá lớn, mất công bằng và ổn định xã hội. – Bốn là diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng của Trung Quốc Chủ đề 4. CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
  20. I. Tình hình chung 1. Tình hình ĐNÁ trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai: - ĐNÁ gồm 11 quốc gia, đây là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng, giàu tài nguyên khoáng sản, thị trường rộng lớn do đó sớm trở thành đối tượng xâm lược của thực dân phương Tây. - Hầu hết các nước ĐNA (Trừ Thái Lan) đều là thuộc địa của các nước tư bản Anh, Pháp, Mĩ, Hà Lan - Khi chiến tranh lan rộng toàn thế giới, (12 - 1941), các nước ĐNA lại bị quân Nhật chiếm đóng, thống trị và gây nhiều tội ác đối với nhân dân các nước ở khu vực này. Cuộc kháng chiến chống phát xít Nhật đã bùng lên mạnh mẽ ở khắp nơi. - Lợi dụng thời cơ Nhật đầu hàng Đồng minh (8/1945), nhân dân các nước ĐNA đã nỏi dậy giành chính quyền (điển hình là VN). - Ngay sau khi Nhật đầu hàng, các nước ĐNA nổi dậy giành độc lập. - Sau đó, các nước đế quốc trở lại xâm lược, nhân dân các nước ĐNA tiến hành kháng chiến chống xâm lược, đến giữa những năm 50, các nước ĐNA lần lượt giành được độc lập dân tộc. - Cũng từ giữa những năm 50, đế quốc Mĩ can thiệp vào khu vực ĐNA, tiến hành xâm lược VN, Lào, CPC. - Từ giữa những năm 50, các nước ĐNS có sự phân hóa trong đường lối đối ngoại: một số nước tham gia khối quân sự SEATO, trở thành đồng minh của Mĩ như Thái Lan. Philippin, một số nước thi hành chính sách hòa bình trung lập như In- đô-nê-xi-a, Mi-an-ma. 2. Vị trí kết quả và ý nghĩa( tác động) của phong trào giải phóng dân tộc ở ĐNÁ sau chiến tranh thế giới II. - Kết quả: Đến giữa những năm 50 của thế kỉ XX các nước ĐNÁ đều giành độc lập. - Vị trí: Phong trào giải phóng dân tộc ở khu vực Đông Nam á sau 1945 có vị trí, vai trò quan trọng bởi chính khu vực này là nơi khởi đầu của phong trào cách