Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 12 - Chuyên đề 3: Lịch sử Việt Nam 1945-1954
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 12 - Chuyên đề 3: Lịch sử Việt Nam 1945-1954", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
chuyen_de_boi_duong_hsg_mon_lich_su_lop_12_chuyen_de_3_lich.pdf
Nội dung text: Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 12 - Chuyên đề 3: Lịch sử Việt Nam 1945-1954
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 1 Chuyên đề 3: LỊCH SỬ VIỆT NAM 1945 - 1954 Bài 1. NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA TỪ NĂM 2/9/1945 ĐẾN 19/12/1946 A. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Tình hình nước ta sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 a. Thuận lợi: * Trong nước: - Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, nhân dân đã giành quyền làm chủ, bước đầu được hưởng tự do, nên rất phấn khởi, gắn bó chế độ, quyết tâm bảo vệ chính quyền. Mặt khác, nhân dân ta có truyền thống yêu nước bất khuất, thiết tha yêu độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc. - Cách mạng nước ta có Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh dày Dạn kinh nghiêm lãnh đạo, đã trở thành trung tâm đoàn kết toàn dân trong cuộc đấu tranh để xây Dựng và bảo vệ thành quả cách mạng. * Trên thế giới: - Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước tư bản bị chiến tranh tàn phá. Trong khi đó hệ thống xã hội chủ nghĩa đang hình thành, phong trào giải phóng dân tộc dâng cao ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ phát triển ở nhiều nước tư bản. Sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới góp phần làm suy yếu sức mạnh của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, đồng thời cổ vũ to lớn công cuộc xây Dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. b. Những khó khăn, thách thức: * Về chính trị: - Chính quyền cách mạng còn non trẻ, chưa được cũng cố, lực lượng vũ trang còn non yếu. Đảng và nhân dân Việt Nam chưa có kinh nghiệm giữ chính quyền. - Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa được nước nào công nhân và đặt quan hệ ngoại giao. Cách mạng Việt Nam ở trong thế bao vây, cô lập. - Nước Việt Nam Dân chủ Công hòa vừa ra đời đã phải đối mặt với nhiều khó khăn thử thách. Quân đội các nước Đồng minh dưới danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật Bản, lũ lượt kéo vào nước ta. + Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc có gần 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc vào Hà Nội và hầu khắp các tỉnh. Theo sau Trung Hoa dân quốc là thế lực phản động Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng Đồng minh hội (Việt cách). Dã tâm của chúng là tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan mặt trận Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ của nhân dân Việt Nam. + Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam có hơn 1 vạn quân Anh kéo vào, tạo điều kiện cho Pháp trở lại xâm lược Việt Nam. Lợi Dụng tình hình trên, các lực lượng phản cách mạng trong nước ngóc đầu Dậy làm tay sai cho Pháp, ra sức chống phá cách mạng. + Ngoài ra còn 6 vạn quân Nhật đang chờ để giải giáp. Một bộ phận theo lệnh đế quốc Anh đánh lại lực lượng vũ trang cách mạng, tạo điều kiện cho quân Pháp mở rộng chiếm đóng Nam Bộ. + Lợi Dụng tình hình trên, các lực lượng phản cách mạng như Đại Việt, Tờrốtkít, bọn phản động trong các giáo phái ngóc đầu dậy làm tay sai cho Pháp, ra sức chống phá cách mạng. + Ngày 2/9/1945, quân Pháp đã xả súng bắn vào đồng bào ta đang Dự cuộc mít tinh ở Sài Gòn. Ngày 23/9/1945, Pháp tiến công Sài Gòn – mở đầu cho cuộc xâm lược trở lại nước ta lần thứ hai. * Về Kinh tế: - Nền kinh tế nước ta chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, còn bị chiến tranh tàn phá nặng nề. - Nạn đói cuối năm 1944 chưa được khắc phục. Nạn lụt lớn, làm vỡ đê ở 9 tỉnh Bắc bộ, tiếp theo đó là hạn hán kéo dài làm cho hơn một nửa diện tích ruộng đất không thế cày cấy được. - Sản xuất công nghiệp đình đốn, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt. Nạn đói lại đang đe Dọa nghiêm trọng đời sống nhân dân. * Về tài chính: - Ngân sách nhà nước hầu như trống rỗng, kho bạc Nhà nước chỉ còn khoản hơn 1,2 triệu đồng Đông Dương, trong đó có một nửa rách nát không lưu hành được. Chính quyền cách mạng
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 2 chưa quản lý được Ngân hàng Đông Dương. Trong khi đó Trung Hoa Dân quốc lại tung ra thị trường các loại tiền của Trung Quốc đã mất giá (Quan kim, Quốc tệ), càng làm cho nền tài chính đang rối loạn. * Về văn hóa, xã hội: - Tàn dư của văn hóa lạc hậu do chế độ thực dân phong kiến để lại hết sức nặng nề, hơn 90 % dân số bị mù chữ. - Các tệ nạn xã hội cũ như mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc, nghiện hút ngày đên hoàn hành. à Như vậy, khó khăn của nước ta lúc này là rất lớn, đã trực tiếp đe Dọa đến sự tồn tại của nhà nước cách mạng, đặt nước ta trong tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc”. 2. Chính quyền cách mạng đã giải quyết khó khăn về chính trị, kinh tế, xã hội và ý nghĩa của các chính sách đó. a. Xây dựng chính quyền cách mạng: - Ngày 6/1/1946, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội trong cả nước. Hơn 90% cử tri đã bầu 333 đại biểu vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. - Sau cuộc bầu cử Quốc hội, tại các địa phương Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, thành lập Ủy ban hành chính các cấp. - Ngày 2/3/1946, Quốc hội Khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa họp phiên họp đầu tiên, thông qua danh sách Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và lập ra Ban Dự thảo Hiến pháp. Ngày 9/11/1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội thông qua. - Quân đội quốc gia Việt Nam ra đời (5/1946). Lực lượng dân quân tự vệ cũng cố và phát triển. Viện kiểm soát nhân dân và Tòa án nhân dân được thành lập. - Ý nghĩa: + Tổng quyển cử bầu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là cuộc vận động chính trị rộng lớn, là cuộc biểu dương sức mạnh và thể hiện ý chí, quyết tâm của nhân dân Việt Nam là xây Dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất. + Giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu chia rẻ, lật đổ và xâm lược của đế quốc và tay sai, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho nhà nước cách mạng để thực hiện nhiệm vụ đối nội, đối ngoại trong thời kỳ mới, góp phần nâng cao uy tín của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên trường quốc tế. + Việc xây Dựng lực lượng vũ trang, Viện kiểm soát, Tòa án nhân dân góp phần kiện toàn bộ máy nhà nước, trở thành công cụ sắc bén phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. b. Giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn về tài chính: - Giải quyết nạn đói: + Biện pháp trước mắt: quyên góp, điều hòa thóc gạo giữa các địa phương trong cả nước, nghiêm trị những kẻ đầu cơ tích trữ gạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân cả nước “nhường cơm sẻ áo”. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên khắp cả nhân dân ta lập “Hũ gạo cứu đói”, tổ chức “Ngày đồng tâm”, không dùng gạo, ngô, khoai, sắn, để nấu rượu. + Biện pháp lâu dài: toàn dân thi đua hăng hái tham gia sản xuất. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “Tăng gia sản xuất!”. Một phong trào thi đua tăng gia sản xuất Dấy lên khắp cả nước dưới khẩu hiệu “Tấc đất tấc vàng!”, “Không một tấc đất bỏ hoang!”. Chính phủ bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lí khác, giảm tô 25%, chia lại ruộng công một cách công bằng. à Nhờ có những biện pháp tích cực nói trên, chỉ sau một thời gian ngắn nạn đói bị đẩy lùi, đời sống nhân dân nhất là nông dân được cải thiện, sản xuất nông nghiệp cả nước nhanh chóng được phục hồi. Nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào chính quyền cách mạng. - Giải quyết nạn dốt và văn hóa xã hội: + Biện pháp cấp bách: ngày 8/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ - cơ quan chuyên trách việc chống “giặc Dốt” và kêu gọi nhân Dân cả nước tham gia xóa nạn mù chữ với tinh thần “Người biết chữ dạy cho người không biết chữ”, “Người học trước dạy cho người học sau”. + Biện pháp lâu dài: Các trường phổ thông và đại học sớm được khai giảng nhằm đào tạo công dân, cán bộ có năng lực phụng sự Tổ quốc. Nội dung và phương pháp giáo Dục đổi mới theo tinh thần dân tộc, dân chủ. à Chỉ sau một năm trên toàn quốc đã tổ chức gần 76.000 lớp học và có 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 3 + Việc bài trừ các tệ nạn xã hội như mê tín Dị đoan được quần chúng nhân dân hưởng ứng sôi nổi; kết hợp với xây dựng nếp sống văn hóa mới. à Góp phần nâng cao trình độ hiểu biết của nhân dân, xây dựng đời sống mới. - Giải quyết khó khăn về tài chính: + Biện pháp trước mắt: Chính phủ kêu gọi tinh thần tự nguyện đóng góp của nhân dân cả nước. Hưởng ứng cuộc vận động xây Dựng “Quỹ độc lập”, phong trào “Tuần lễ vàng” do Chính phủ phát động. Kết quả chỉ sau thời gian ngắn nhân dân cả nước đã quyên góp được 370 kg vàng và 20 triệu đồng vào Quỹ độc lập, 40 triệu vào Quỹ đảm phụ quốc phòng. + Biện pháp lâu dài: Ngày 31/01/1946, Chính phủ ra sắc lệnh phát hành tiền Việt Nam. Ngày 23/11/1946, tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội quyết định lưu hành tiền Việt Nam trong cả nước. Những khó khăn về tài chính từng bước được đẩy lùi. - Ý nghĩa: + Các biện pháp giải quyết khó khăn nhằm phục vụ quyền lợi của nhân dân lao động, thể hiện tính ưu việt của chế độ mới. + Qua đó, xây Dựng được khối liên minh công – nông vững chắc, làm cho nhân dân tin tưởng, gắn bó với chính quyền mới. + Thể hiện tinh thần yêu nước của dân tộc ta. + Tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Tám, đấu tranh chống thù trong giặc ngoài. 3. Đầu tranh chống ngoại xâm, nội phản, bảo vệ chính quyền cách mạng: a. Kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược ở miền Nam: - Ngày 02/09/1945, nhân Dân Sài Gòn – Chợ Lớn tổ chức mít tinh chào mừng “Ngày độc lập”, Pháp xả súng vào đám đông là nhiều người chết và bị thương. - Đêm 22 rạng sáng 23/09/1945, được sự giúp đỡ của quân Anh, Pháp đánh úp trụ sở Ủy ban nhân Dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ thành phố Sài Gòn, xâm lược nước ta lần thứ hai. - Quân Dân Nam Bộ nhất tề đứng lên chiến đấu chống quân xâm lược, bao vây Pháp trong thành phố. - Từ 5/10/1945, sau khi có thêm viện binh Pháp phá vòng vây Sài Gòn - Chợ Lớn, mở rộng đánh chiếm Nam Bộ và Nam Trung Bộ. - Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch lãnh đạo cả nước chi viện cho Nam Bộ và Nam Trung bộ kháng chiến: huy động các “đoàn quân Nam tiến” sát cánh cùng nhân Dân Nam Trung Bộ chiến đấu; tổ chức quyên góp giúp nhân Dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ kháng chiến. b. Đấu tranh với Trung hoa Dân quốc và bọn phản cách mạng ở miền Bắc: *. Đối với quân Trung Hoa Dân quốc (Tưởng): - Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch chủ trương tạm thời hòa hoãn, tránh xung đột với quân Trung Hoa Dân quốc nhằm tránh tình trạng cùng môt lúc đối phó với niều kẻ thù, tập trung mũi nhọn chống Pháp ở Nam Bộ. - Để hòa hoãn với Trung hoa Dân quốc, Quốc hội khóa I đồng ý: + Về chính trị: nhường cho tay sai Tưởng 70 ghế trong Quốc hội cùng 4 ghế Bộ trưởng trong Chính phủ liên hiệp, cho Nguyễn Hải Thần (lãnh tụ Việt Cách) giữ chức Phó Chủ tịch nước mà không thông qua bầu cử. + Về kinh tế: cung cấp một phần lương thực thực phẩm, phương tiện giao thông vận tải, nhận tiêu tiền Trung Quốc đã mất giá (Quốc tệ, Quan kim). *. Đối với các tổ chức phản cách mạng, tay sai: ta kiên quyết vạch trần âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại của chúng, ban hành một số sắc lệnh trấn áp bọn phản cách mạng. à Ý nghĩa: hạn chế mức thấp nhất các hoạt động chống phá của Trung Hoa Quốc Dân đảng và tay sai, làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của chúng. c. Hòa hoãn với Pháp nhằm đẩy quân Trung Hoa Quốc dân đảng ra khỏi nước ta: * Nguyên nhân: - Ngày 28/2/1946, Pháp và Trung Hoa Quốc Dân đảng ký Hiệp ước HoA - Pháp, theo đó Pháp nhượng một số quyền lợi kinh tế, chính trị cho Trung Hoa Dân quốc đảng trên đất Trung Quốc để thay quân Trung Hoa Dân quốc đảng ra miền Bắcgiải giáp quân đội Nhật. - Hiệp ước Hoa - Pháp đã đặt nhân Dân ta trước sự lựa chọn: hoặc cầm súng chiến đấu chống thực Dân Pháp ngay khi chúng đưa quân ra miền Bắc, hoặc hòa hoãn, nhân nhượng Pháp để tránh tình trạng phải đối phó một lúc với nhiều kẻ thù.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 4 - Trên cơ sở phân tích tình hình thực tiễn, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp, do Hồ Chí Minh chủ trì, đã chọn giải pháp “hòa để tiến”. * Những biểu hiện của việc thương lượng hòa hoãn với thực dân Pháp: - Chiều ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kí với G.Xanh-tơ-ni, đại diện Chính phủ Pháp, bản Hiệp định Sơ bộ gồm 3 nội dung chính: + Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự Do, có Chính phủ, Nghị viện, quân đội, tài chính riêng và là thành viên của Liên bang Đông Dương trong khối Liên hiệp Pháp. + Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý để cho 15.000 quân Pháp ra miền Bắc giải giáp quân đội Nhật và rút dần trong thời hạn 5 năm. + Hai bên ngừng xung đột ở miền Nam, tạo thuận lợi đi đến đàm phán chính thức. à Ý nghĩa: + Ta tránh được việc phải đương đầu cùng lúc với nhiều kẻ thù, đẩy được 20 vạn quân Trung Hoa Quốc Dân đảng và tay sai ra khỏi nước ta. + Có thêm thời gian hòa bình để củng cố, chuẩn bị mọi mặt cho kháng chiến lâu Dài chống Pháp. - Sau khi ký Hiệp định Sơ bộ, Pháp tăng cường các hoạt động khiêu khích, chống phá ta, quan hệ Việt - Pháp căng thẳng, có nguy cơ xảy ra chiến tranh. - Cuộc đàm phán giữa ta và Pháp tại Hội nghị trù bị Đà Lạt và chính thức tại Phôngtennơblô bị đổ vỡ. - Trước nguy cơ cuộc chiến tranh Pháp – Việt đang đến gần sẽ bất lợi cho ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đang thăm nước Pháp với tư cách là “thượng khách” đã ký với đại diện chính phủ Pháp Mu-tê Tạm ước 14/09/1946, tiếp tục nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi kinh tế, văn hóa, tạo điều kiện cho ta có thêm thời gian xây Dựng, củng cố lực lượng, chuẩn bị vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp lâu Dài. * Ý nghĩa của những biện pháp trên đối với cuộc kháng chiến chống Pháp : - Đề ra chủ chủ trương sáng suốt, tài tình (cứng rắn về nguyên tắt, mềm Dẻo về phương pháp, biết lợi Dụng mâu thuẫn kẻ thù, không cho chúng tập trung lực lượng chống ta ) đưa nước ta vượt qua mọi khó khăn, chuẩn bị sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp. - Xây Dựng và củng cố được chính quyền cách mạng từ trung ương đến địa phương – lực lượng chỉ đạo kháng chiến sau này. - Xây Dựng và củng cố được lực lượng kháng chiến (vệ quốc đoàn, Dân quân, tự vệ). - Xây Dựng được cơ sở kinh tế - xã hội phục vụ kháng chiến. - Thắt chặt hơn nữa khối đoàn kết - kiến quốc. - Củng cố thêm niềm tin của nhân Dân đối với chính quyền cách mạng. B. MỘT SỐ CÂU HỎI VẬN DỤNG Câu 1: Tại sao nói nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay sau khi thành lập đã ở vào tình thế “Như ngàn cân treo sợi tóc”? Theo anh (chị), nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam trong thời điểm đó là gì? a) Tình thế “Như ngàn cân treo sợi tóc” - Giặc ngoại xâm và nội phản đe dọa nền độc lập: + Chỉ 10 ngày sau khi cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thành công, Quân đội các nước trong phe Đồng minh, với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật Bản, lũ lượt vào nước ta với những âm mưu hết sức thâm độc. + Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc có gần 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc vào Hà Nội và hầu khắp các tỉnh. Theo sau Trung Hoa dân quốc là thế lực phản động Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng Đồng minh hội (Việt cách). Dã tâm của chúng là tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan mặt trận Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ của nhân dân Việt Nam. + Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam có hơn 1 vạn quân Anh kéo vào, tạo điều kiện cho Pháp trở lại xâm lược Việt Nam. Lợi Dụng tình hình trên, các lực lượng phản cách mạng trong nước ngóc đầu Dậy làm tay sai cho Pháp, ra sức chống phá cách mạng. + Ngoài ra còn 6 vạn quân Nhật đang chờ để giải giáp. Một bộ phận theo lệnh đế quốc Anh đánh lại lực lượng vũ trang cách mạng, tạo điều kiện cho quân Pháp mở rộng chiếm đóng Nam Bộ. - Về chính trị:
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 5 + Chính quyền cách mạng còn non trẻ, chưa được cũng cố, lực lượng vũ trang còn non yếu. Đảng và nhân dân Việt Nam chưa có kinh nghiệm giữ chính quyền. + Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa được nước nào công nhân và đặt quan hệ ngoại giao. Cách mạng Việt Nam ở trong thế bao vây, cô lập. - Về kinh tế: + Nền kinh tế nước ta chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, còn bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Sản xuất công nghiệp đình đốn, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt. + Nạn đói cuối năm 1944 chưa được khắc phục. Nạn lụt lớn, làm vỡ đê ở 9 tỉnh Bắc bộ, tiếp theo đó là hạn hán kéo dài làm cho hơn một nửa diện tích ruộng đất không thế cày cấy được. Sản xuất công nghiệp đình đốn, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt. Nạn đói lại đang đe Dọa nghiêm trọng đời sống nhân dân. + Ngân sách nhà nước hầu như trống rỗng, Chính quyền cách mạng chưa quản lý được Ngân hàng Đông Dương. Trong khi đó Trung Hoa Dân quốc lại tung ra thị trường các loại tiền của Trung Quốc đã mất giá, càng làm cho nền tài chính đang rối loạn. - Về văn hóa, xã hội: + Tàn dư của văn hóa lạc hậu do chế độ thực dân phong kiến để lại hết sức nặng nề, hơn 90 % dân số bị mù chữ. + Các tệ nạn xã hội cũ như mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc, nghiện hút ngày đên hoàn hành. - Như vậy, khó khăn của nước ta lúc này là rất lớn, đã trực tiếp đe Dọa đến sự tồn tại của nhà nước cách mạng, đặt nước ta trong tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc”. Tình hình trên đặt ra một yêu cầu cấp bách trước mắt cho toàn Đảng, toàn dân ta là phải bảo vệ nền độc lập, tự do, bảo vệ chính quyền cách mạng vừa mới giành được. b) Nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam - Kẻ thù chính là thực dân Pháp xâm lược. - Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam “vẫn là giải phóng dân tộc”, khẩu hiệu của nhân dân là “dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”. - Bốn nhiệm vụ cấp cách của cách mạng là: cũng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược; bài trừ nội phản; cải thiện đời sống cho nhân dân. Câu 2: Trên cơ sở phân tích thái độ chính trị của các thế lực ngoại xâm đang đe dọa nền độc lập dân tộc ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, hãy xác định kẻ thù chính của cách mạng nước ta. - Chỉ sau 10 ngày Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, quân đội các nước Đồng minh, với danh nghĩa vào giải giáp quân đội Nhật, đã kéo vào nước ta. Các lực lượng đế quốc tuy có mâu thuẩn với nhau về quyền lợi, song cùng do mục đích chống phá cách mạng, nên đều giúp Pháp trở lại chiếm đóng Việt Nam. - Trung Hoa Dân quốc: + Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc có gần 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc vào Hà Nội và hầu khắp các tỉnh. Theo sau Trung Hoa dân quốc là thế lực phản động Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng Đồng minh hội (Việt cách) với âm mưu xúc tiến thành lập một chính phủ bù nhìn. Dã tâm của chúng là tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ của nhân dân Việt Nam. Trước mắt, quân Trung Hoa Dân quốc và bọn phản động Việt quốc và Việt cách đang gây khó khăn cho ta về nhiều mặt. + Tuy nhiên, sau khi chiến tranh kết thúc, lực lượng cách mạng Trung Quốc do Đảng Cộng sản lãnh đạo đang phát triển mạnh, trực tiếp đe Dọa lợi ích chiến lược của Mĩ và Trung Hoa Dân quốc. Vì thế, sớm muộn họ cũng phải rút về nước để đối phó với lực lượng cách mạng Trung Quốc. Như vậy, Trung Hoa Dân quốc không phải là kẻ thù nguy hiểm nhất của cách mạng Việt Nam. - Đế quốc Mĩ: + Ngay sau khi Chiến trang thế giới thứ hai chấm Dứt, Mĩ hậu thuẩn cho Trung Hoa Dân quốc để chiếm nước ta. + Tuy nhiên, hiện tại quân Mĩ chưa có mặt tại Việt Nam và đang tập trung quan tâm đến các vị trí chiến lược ở Châu Âu và Trung Quốc nên chưa có điều kiện can thiệp sâu vào Đông Dương. - Thực dân Anh: + Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, hơn một vạn quân Anh kéo vào, Dọn đường cho thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 6 + Sau Chiến trang thế giới thứ hai, cuộc đấu tranh giành độc lập đang phát triển ở thuộc địa Anh (Ấn Độ, khu vực Trung Đông, Mã Lai ). Chính vì thế, Anh phải tập trung lực lượng đối phó. Trong hoàn cảnh đó, thực dân Anh không có khả năng ở lại Đông Dương lâu dài. Do bản chất đế quốc, thực dân Anh lo ngại ảnh hưởng của Trung Hoa Dân quốc ở khu vực này nên đã hậu thuẩn cho Pháp trở lại xâm lược nước ta. Như vậy, thực dân Anh chưa phải là kẻ thù chính của nhân dân ta. - Nhật Bản: + Sau Chiến tranh, 6 vạn quân Nhật đang chờ để giải giáp, trong đó có một bộ phận theo lệnh đế quốc Anh đánh lại lực lượng vũ trang cách mạng, tạo điều kiện cho quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng Nam Bộ. + Nhật Bản là nước bại trận trong Chiến trang thế giới thứ hai. Quân Nhật ở Đông Dương đang chờ về nước, vì thế, Nhật Bản chưa phải là kẻ thù chính của cách mạng Việt Nam lúc đó. - Thực dân Pháp: + Việt Nam và các nước Đông Dương là thuộc địa cũ của Pháp, chúng có nhiều quyền lợi kinh tế ở các nước này. Thực dân Pháp có quyết tâm xâm lược Việt Nam một lần nữa. + Ngay sau khi Chiến trang thế giới thứ hai kết thúc, Chính phủ Pháp đã cử Đác giăng – li – ơ làm Cao ủy Pháp và thành lập một đội quân viễn chinh do tướng Lơ – cơ – léc chỉ huy nhằm chiếm lại Đông Dương. Ngày 23/9/1945, được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp cho quân đánh úp trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ, mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược trở lại nước ta lần thứ hai. Ngày 5/10/1945, lực lượng quân viễn chinh Pháp đến Sài Gòn. Với lực lượng được tăng cường, lại có sự hỗ trợ của quân Anh và Nhật, quân Pháp phá vòng vây Sài Gòn, mở rộng phạm vi chiếm đóng Nam Bộ. + Với ý chí thực dân, cả trong tư duy và hành động, thực dân Pháp đã bộc lộ rõ dã tâm xâm lược Việt Nam. + Phân tích âm mưu của các nước đế quốc đối với Đông Dương, Trung ương Đảng nêu rõ “kẻ thù chính của nước ta lúc bấy giờ là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”. Câu 3: Trong hơn một năm ngày Cách mạng tháng Tám thành công (1945), chính quyền cách mạng đã giải quyết khó khăn về chính trị, kinh tế, xã hội như thế nào? Nêu ý nghĩa của các chính sách đó. a) Xây dựng chính quyền cách mạng - Ngày 6/1/1946, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội trong cả nước. Hơn 90% cử tri đã bầu 333 đại biểu vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. - Sau cuộc bầu cử Quốc hội, tại các địa phương Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, thành lập Ủy ban hành chính các cấp. - Ngày 2/3/1946, Quốc hội Khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa họp phiên họp đầu tiên, thông qua danh sách chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm chủ tịch và lập ra Ban Dự thảo Hiến pháp. Ngày 9/11/1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội thông qua. - Quân đội quốc gia Việt Nam ra đời (5/1946). Lực lượng dân quân tự vệ cũng cố và phát triển. Viện kiểm soát nhân dân và Tòa án nhân dân được thành lập. - Ý nghĩa: + Tổng quyển cử bầu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là cuộc vận động chính trị rộng lớn, là cuộc biểu dương sức mạnh và thể hiện ý chí, quyết tâm của nhân dân Việt Nam là xây Dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất. + Giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu chia rẻ, lật đổ và xâm lược của đế quốc và tay sai, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho nhà nước cách mạng để thực hiện nhiệm vụ đối nội, đối ngoại trong thời kỳ mới, góp phần nâng cao uy tín của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên trường quốc tế. + Việc xây Dựng lực lượng vũ trang, Viện kiểm soát, Tòa án nhân dân góp phần kiện toàn bộ máy nhà nước, trở thành công cụ sắc bén phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. b) Giải quyết nạn đói và khó khăn về tài chính - Giải quyết nạn đói
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 7 + Biện pháp trước mắt: quyên góp, điều hòa thóc gạo, đồng bào cả nước hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và noi gương Người: Tổ chức hủ gạo cứu đói, tổ chức “ngày đồng tâm” để lấy gạo cứu đói, không dùng lương thực đế nấu rượu. + Biện pháp lâu dài: toàn dân thi đua hăng hái tham gia sản xuất. Chính phủ bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lí khác, giảm tô 25%, chia lại ruộng công một cách công bằng. + Nhờ có những biện pháp tích cực nói trên, chỉ sau một thời gian ngắn nạn đói bị đẩy lùi, đời sống nhân dân nhất là nông dân được cải thiện, sản xuất nông nghiệp cả nước nhanh chóng được phục hồi. Nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào chính quyền cách mạng. - Giải quyết khó khăn về tài chính: + Biện pháp trước mắt: Chính phủ phát động quyên góp, thực hiện “Tuần lễ vàng”, xây Dựng “Quỹ độc lập”. Kết quả chỉ sau thời gian ngắn nhân dân cả nước đã quyên góp được 370 kg vàng và 20 triệu đồng vào Quỹ độc lập, 40 triệu vào Quỹ đảm phụ quốc phòng. + Biện pháp lâu dài: Ngày 23/11/1946, tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội quyết định lưu hành tiền Việt Nam trong cả nước. Những khó khăn về tài chính từng bước được đẩy lùi. - Về văn hóa – xã hội + Ngày 8/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ, cơ quan chuyên trách việc chống “giặc Dốt”. Người kêu gọi toàn dân đi học. Chỉ sau một năm trên toàn quốc đã tổ chức gần 76.000 lớp học và có 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ. + Các trường phổ thông và đại học sớm được khai giảng nhằm đào tạo công dân, cán bộ có năng lực phụng sự Tổ quốc. Nội dung và phương pháp giáo Dục đổi mới theo tinh thần dân tộc, dân chủ. + Việc bài trừ các tệ nạn xã hội như mê tín Dị đoan được quần chúng nhân dân hưởng ứng sôi nổi; kết hợp với xây dựng nếp sống văn hóa mới. + Ý nghĩa: Góp phần nâng cao trình độ hiểu biết của nhân dân, xây dựng đời sống mới. c) Ý nghĩa + Các biện pháp nhằm giải quyết khó khăn nhằm phục vụ quyền lợi của nhân dân lao động, thể hiện tính ưu việt của chế độ mới. + Qua đó, xây Dựng được khối liên minh công – nông vững chắc, làm cho nhân dân tin tưởng, gắn bó với chính quyền mới. + Thể hiện tinh thần yêu nước của dân tộc ta. + Tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Tám, đấu tranh chống thù trong giặc ngoài. Câu 4: Tóm tắt quan hệ của Việt Nam đối với Pháp từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946. a) Thực dân Pháp trở lại xâm lược và cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ: - Sau Cách mạng tháng Tám năm 1954 thành công, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta. Ngày 2/9/1945, trong khi quân dân Sài Gòn – Chợ Lớn mít tinh chào mừng “Ngày độc lập”, thực dân Pháp đã cho quân bắn vào đoàn người Dự mít tinh làm 47 người chết và nhiều người bị thương. Ngày 23/9/1945, được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp nổ súng đánh úp trụ sở Ủy ban Nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Như vậy âm mưu và hành động của thực dân Pháp đã chứng tỏ dã tâm dùng vũ lực để quay trở lại xâm lược nước ta của chúng. - Ngay khi thực dân Pháp trở lại xâm lược, nhân dân Sài Gòn – Chợ lớn cùng nhân dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến. Lực lượng vũ trang đột nhập vào sân bay Tân Sơn Nhất, phá kho tàng, triệt phá nguồn tiếp tế, Dựng trướng ngại vật trên đường phố, bao vây và tấn công quân Pháp trong thành phố. - Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhân dân cả nước hướng về “Thành đồng tổ quốc”, đồng thời tích cực chuẩn bị đối phó với âm mưu của Pháp muốn mở rộng chiến tranh ra cả nước. Các đoàn quân “Nam tiến” sát cánh cùng nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ kháng chiến. - Cuộc chiến đấu của quân dân Nam Bộ đã ngăn chặn được bước tiến công đầu tiên của địch, giữ vững và mở rộng lực lượng, tích lũy được nhiều kinh nghiệm chiến đấu, góp phần bảo vệ và cũng cố chính quyền cách mạng, tạo điều kiện để nhà nước chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến toàn quốc về sau. b) Cuộc đàm phán Việt – Pháp và Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946: - Sau khi chiếm đóng các đô thị ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp thực hiện kế hoạch tiến quân ra Bắc nhằm thôn tính cả nước Việt Nam.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 8 - Ở Trung Quốc, lực lượng cách mạng phát triển mạnh, nên Trung Hoa Dân quốc cần rút quân ở Đông Dương về để đối phó. Trung Hoa Dân quốc và Mĩ muốn tiêu diệt cách mạng Trung Quốc, lại vừa mong muốn chống cách mạng Việt Nam. - Các thế lực đế quốc đã thu xếp công việc nội bộ, kết quả là Chín phủ Pháp và Chính phủ Trung Hoa Dân quốc kí Hiệp ước Hoa – Pháp (tháng 2/1946), thỏa thuận về việc đưa quân ra Bắc thay quân Trung Hoa Dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. - Hiệp ước trên đặt nhân dân Việt Nam trước sự lựa chọn một trong hai con đường, hoặc cầm vũ khí chống lại thực dân Pháp khi chúng tiến quân ra Bắc, hoặc hòa hoãn với Pháp để nhanh chóng gạt 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc ra khỏi miền Bắc, tranh thủ thời gian hòa hoãn, chuẩn bị đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp về sau. - Để tránh tình trạng phải đối phó một lúc với nhiều kẻ thù, Ban Thường vụ Trung ương Đảng chọn giải pháp “Hòa để tiến”. Vào thời điểm đó, Pháp cũng cần hòa với Việt Nam để có thể đưa quân ra Miền Bắc một cách dễ dàng và chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn. - Ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kí với G. Xanhtơni, đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định Sơ bộ: + Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng, nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc khối Liên hiệp Pháp. + Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp ra miền Bắc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật và rút dần trong thời hạn 5 năm. + Hai bên ngừng mọi cuộc xung đột ở Miền Nam đi đến quyết định cuộc đàm phán chính thức. c) Việt Nam kiên trì đàm phán, nổ lực cứu vãn hòa bình: - Việt Nam và Pháp tiếp tục đàm phán ở Hội nghị trù bị Đà Lạt (4/1946) và Hội nghị Phôngtennơblô (7/1946), nhưng không thu được kết quả gì. Trong khi đó, Pháp vẫn tiếp tục gây ra các vụ xung đột ở Nam Bộ. Chúng còn tự ý thành lập chính phủ Nam Kỳ tự trị, nhằm tách Nam Kỳ ra khỏi Việt Nam. - Với nổ lực cứu vãn nền hòa bình, ngày 14/9/1946, Hồ Chí Minh kí với Pháp bản Tạm ước, nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hóa. - Ý nghĩa của cuộc đấu tranh ngoại giao: + Loại bớt được kẻ thù, tránh được tình thế bất lợi phải chiến đấu với nhiều kẻ thù cùng một lúc. + Tạo thêm thời gian hòa bình để củng cố chính quyền cách mạng, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài. + Tỏ rõ thiện chí hòa bình của Chính phủ và nhân dân Việt Nam. d) Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ: - Chính phủ Pháp không thành thật trong việc ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946 với Việt Nam, nên ngay sau ký xong đã tìm cách phá hoại, đẩy mạnh việc chuẩn bị xâm lược nước ta một lần nữa. - Thực dân Pháp ngày càng lấn tới, liên tiếp gây xung đột ở Lạng Sơn, Hải Phòng, Hà Nội. Ngày 18/12/1946, quân Pháp gửi tối hậu thư đòi giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, để cho Pháp làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự ở Hà Nội, nếu không chúng sẽ giành toàn quyền hành động vào sáng ngày 20/12/1946. - Khả năng hòa hoãn không còn nữa. Con đường đàm phán hòa bình bị phá hoại. Sự nhân nhượng của Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã đến giới hạn cuối cùng. Nhân dân Việt Nam chỉ có một con đường cầm vũ khí đứng lên kháng chiến vì độc lập tự do. Đảng và Chính phủ quyết định phát động nhân dân cả nước kháng chiến chống Pháp ngày 19/12/1946. Câu 5. Chủ trương và biện pháp của Đảng Cộng sản Đông Dương và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đối phó với thực dân Pháp và Tưởng trong thời gian trước và sau Hiệp định sơ bộ (6/3/1946) có gì khác nhau? Tại sao có sự khác nhau đó? a) Nguyên nhân: - Sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước ta đứng trước một thù trong giặc ngoài, đặc biệt là Pháp và Tưởng. Mặc Dù chúng có mưu đồ khác nhưng đều có âm mưu chung là lật đổ chính quyền cách mạng, biến nước ta thành thuộc địa của chúng.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 9 - Trước ngày 6/3/1946, hòa hoãn với quân Trung Hoa Dân quốc, tập trung đánh Pháp trở lại xâm lược miền Nam: nhân nhượng quân Trung Hoa Dân quốc một số quyền lợi về kinh tế, chính trị; phát động cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, chi viện cho Nam Bộ kháng chiến - Sau ngày 6/3/1946, hòa hoãn với Pháp, đẩy 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc ra khỏi nước ta: Thực hiện Hiệp định Sơ bộ, cho phép Pháp đưa 15000 quân ra miền Bắc thay thế quân Trung Hoa Dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, nhường cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế, văn hóa, b) Có sự khác nhau đó là vì: - Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta phải đối phó với nhiều kẻ thù trong điều kiện vô cùng khó khăn. Sách lược của Chính phủ ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Pháp và Trung Hoa Dân quốc có sự khác nhau trước và sau ngày 6/3/1946 là để tránh tình trạng cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù. - Do chính quyền cách mạng, lực lượng vũ trang còn non trẻ nên sự thay đổi sách lược tạo điều kiện cho ta củng cố lực lượng, phân hóa kẻ thù, tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chính - Do sự chuyển biến của tình hình buộc ta phải thay đổi sách lược: Pháp và Tưởng bắt tay cấu kết với nhau chống lại ta, ký Hiệp ước Hoa Pháp (28/2/1946), theo đó quân Pháp ra Bắc để quân Tưởng rút về nước. Trong tình hình đó, nếu ta đánh Pháp ở miền Bắc khi quân Tưởng chưa rút về nước thì Tưởng sẽ đứng về Pháp đánh lại ta. Nếu hòa hoãn với Pháp ta chẳng những tránh được cuộc chiến đấu bất lợi mà còn thực hiện được mục tiêu đuổi quân Tưởng ra khỏi nước ta. - Việc nhân nhượng với Pháp, buộc chúng phải công nhận Việt Nam là quốc gia tự do, làm cơ sở pháp lý để ta tiếp tục đấu tranh với Pháp. - Để tỏ thiện chí hòa bình, đáp ứng mong muốn của nhân Dân Pháp và nhân Dân thế giới không muốn chiến tranh xẩy ra, Do đó ta có thể tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của nhân Dân Pháp và nhân Dân thế giới. à Trước và sau ngày 6/3/1946, sự thay đổi sách lược của Chính phủ ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Pháp và Trung Hoa Dân quốc đều nhằm mục đích cuối cùng là bảo vệ nền độc lập dân tộc và những thành quả của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Câu 6: Tại sao Pháp và Tưởng kí với nhau Hiệp ước Hoa – Pháp ngày 28/2/1946? Đảng và Chính phủ ta thực hiện sách lược gì trước tình thế do Hiệp định đó đặt ra? a) Nguyên nhân: - Sau khi chiếm đóng các đô thị ở Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, thực Dân Pháp chuẩn bị tiến công ra Bắc để thôn tính cả nước ta. Để thực hiện mục đích đó, chắc chắn Pháp sẽ váp phải lực lượng kháng chiến của quân Dân Việt Nam và cả sự có mặt của quân Tưởng ở miền Bắc. Vì thế, Pháp Dùn thủ đoạn điều đình vớ chính phủ Tưởng để ra Bắc thay thế quân Tưởn làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Trong khi đó, Tưởng thấy cần phải rút quân về nước, tập trung đối phó với phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. - Tưởng và Pháp đã thỏa hiệp với nhau, kí kết bản Hiệp ước Hoa – Pháp ngày 28/2/1946. Theo đó, Pháp được đưa quân ra Bắc thay thế quân Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật. Đổi lại, Tưởng được Pháp trả lại một số quyền lợi trên đất Trung Quốc, được vận chuyển hàng hóa qua cảng Hải Phòng vào Hoa Nam mà không phải đóng thuế. - Hiệp ước Hoa – Pháp buộc nhân Dân ta phải chọn một trong hai con đường, hoặc là càm vũ khí chống lại thực dân Pháp khi chúng ra miền Bắc, hoặc là cùng hòa hoãn với Pháp để nhanh chóng gạt 20 vạn quân Tưởng ra khỏi miền Bắc, tranh thủ thời gian hòa hoãn, xây Dựng đất nước, chuẩn bị lực lượng để đối phó với cuộc chiến tranh với Pháp về sau. b) Chủ trương của ta: - Trước tình thế à Hệp ước đó đặt ra, Đảng và Chính phủ ta đã thực hiện sách lược hòa với Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí với Xanh-tơ-ni, đại diện chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ 6/3/1946. Theo đó, Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự Do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng thuộc Liên bang Đông Dương nằm trong khối Liên hiệp Pháp; Chính phủ Vệt Nam thỏa thuận cho 15000 quân Pháp ra miền Bắc thay quân Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, số quân này sẽ rút Dần trong thời hạn 5 năm; hai bên thực hiện ngừng bắn, tạo không khí thuận lợi cho việc mở cuộc đàm phán chính thức. - Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 có ý nghĩa rất lớn. Nó đập tan âm mưu cấu kết giữa Pháp và Tưởng, loại bỏ được kẻ thù nguy hiểm là quân Tưởng và tay sai, tránh được một cuộc chiến tranh
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 10 chống nhiều kẻ thù khi lực lượng của ta còn yếu, tranh thủ thờ gian chuẩn bị lực lượng cho cuộc chiến đấu sau nay. - Sau Hiệp định sơ bộ, ta tiếp tục đấu tranh ngoại giao, đàm phán chính thức vớ Pháp tại Phông-ten-nơ-blô, nhưng do Pháp ngoan cố, cuối cùng hội nghị thất bại. Để tiếp tục éo dài thời gian hòa hoãn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí với Chính phủ Pháp bản Tạm ước ngày 14/9/1946, nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi kinh tế - văn hóa ở Việt Nam. - Tranh thủ thời gian hòa hoãn, chúng ta đã củng cố và xây Dựng lực lượng về mọi mặt (về chính trị, kinh tế, quân sự ). Pháp cố ý gây chiến tranh (khiêu khích, tăng quân, đánh chếm Lạng Sơn, Hải Phòng, gây xung đột ở Hà Nội), gửi tối hậu thư ngày 18/12/1946 đòi chính phủ ta giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu và giao quyền kiểm soát thủ đô Hà Nội cho chúng, thực chất là Pháp bắt ta đầu hàng. Ta không thể nhân nhượng được nữa, cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu 19/12/1946. Câu 7: Thiện chí của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giải quyết quan hệ với Pháp bằng con đường hòa bình từ ngày 6/3/1946 đến trước ngày 19/12/1946 thể hiện như thế nào? a) Ký Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946): - Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời mong muốn được các nước công nhân chủ quyền, độc lập. Pháp âm mưu thôn tính và chia cắt nước ta một lần nữa. - Ngày 28/2/1946, thực dân Pháp và Trung Hoa Dân quốc kí Hiệp ước Hoa – Pháp để cho quân Pháp ra miền Bắc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật. Hiệp ước Hoa – Pháp đã đặt Việt Nam trước một cuộc chiến tranh trên quy mô cả nước. - Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng khai thác mọi khả năng hòa bình, chủ động đàm phán với Pháp để đấy lùi nguy cơ chiến tranh, tiếp tục phát triển lực lượng về mọi mặt để đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược và làm cơ sở cho đấu tranh ngoại giao nhằm tiếp tục bảo vệ nền độc lập dân tộc. - Ngày 3/3/1946, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng, do chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì họp, đưa ra quyết định chọn giải pháp “Hòa đề tiến”. - Ngày 6/3/1946, tại Hà Nội, chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ ta, ký với đại diện Chính phủ Pháp G. Xanhtơni bản Hiệp định Sơ bộ: + Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng, nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc khối Liên hiệp Pháp. + Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp ra miền Bắc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật và rút dần trong thời hạn 5 năm. + Hai bên ngừng mọi cuộc xung đột ở Miền Nam đi đến quyết định cuộc đàm phán chính thức. - Việc ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946, tạm thời hòa hoãn với Pháp là chủ trương đúng đắn và kịp thời của chính phủ cách mạng; đã ngăn chặn được âm mưu cấu kết của thực dân Pháp với Trung Hoa Dân quốc; nhanh chóng gạt được 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc và tay sai về nước, tránh được một cuộc chiến tranh nổ ra quá sớm và bất lợi cho ta, tạo thời gian hòa bình để ta chuẩn bị lực lượng chiến đấu về sau. b) Ký Tạm ước Việt – Pháp (14/9/1946): - Sau khi ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946, thực dân Pháp vẫn đẩy mạnh xung đột, tiến tới cuộc chiến tranh để hòan thành xâm lược nước ta. - Mong muốn tìm một giải pháp hòa bình để giải quyết tình trạng xung đột, chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách thượng khách sang thăm nước Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp. - Chính phủ ta đã cử phái đoàn đàm phán với Pháp ở hội nghị trù bị Đà Lạt (tháng 5/1946) và hội nghị Phôngtennơblô (từ tháng 6 đến tháng 9/1946). Do thái độ hiếu chiến của Pháp nên các cuộc đàm phán đều thất bại. Quan hệ Việt – Pháp căng thẳng, nguy cơ một cuộc chiến tranh sắp sửa nổ ra. - Với nổ lực cứu vãn nên hòa bình, chủ tịch Hồ Chí Minh chủ động đàm phán và ký với đại diện Chính phủ Pháp Mute bản Tạm ước Việt – Pháp (14/9/1946): ta tiếp tục nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế - văn hóa ở Việt Nam, nhằm mục đích kéo dài thời gian hòa hoãn, tích cực chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 11 - Cuộc đấu tranh ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ ta trong năm 1946, tuy chưa đạt được mục tiêu cơ bản, nhưng đã làm cho nhân dân Pháp và thế giới hiểu rõ hơn về vấn đề Việt Nam, làm cho số đông người Pháp đồng tình, ủng hộ nền độc lập của Việt Nam. - Kiên trì con đường đàm phán, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện thiện chí hòa bình của Chính phủ Việt Nam, đẩy được Trung Hoa Dân quốc về nước, tránh được một cuộc chiến tranh nổ ra quá sớm và bất lợi cho ta; kéo dài thêm thời gian hòa hoãn để chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến không thể tránh khỏi. Bài 2. NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946 – 1954) A. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nguyên nhân Đảng và Chính phủ phát động phong trào toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp vào ngày 19/12/1946 và đường lối kháng chiến do Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra trong những năm 1946 - 1947. a. Nguyên nhân: * Về phía ta: - Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ Việt Nam mong muốn được các nước công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cũng mong muốn có hòa bình để xây dựng đất nước. - Trước những hành động chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, Chính phủ Việt Nam đã nổ lực cứu vãn nền hòa bình dù rất mong manh, nên đã chủ động đàm phán và ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và Tạm ước (14/9/1946), nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi để đổi lấy hòa bình. - Mặt khác, trong khi nổ lực hòa bình, Chính phủ Việt Nam vẫn tích cực chuẩn bị mọi lực lượng đề phòng tình huống bất trắc xảy ra. Tháng 5/1946, Vệ quốc đoàn được đổi thành Quân đội Quốc gia Việt Nam và ngày 12/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Toàn dân kháng chiến”. * Về phía Pháp: - Sau khi kí Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946, thực Dân Pháp vẫn chuẩn bị mở rộng xâm lược nước ta: + Tiến công các phòng tuyến của ta ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ. + Tháng 11/1946, Pháp khiêu khích ta ở Hải Phòng, Lạng Sơn sau đó đánh chiếm hai tỉnh này. + Ở Hà Nội, Pháp nổ súng, đốt nhà Thông tin, chiếm đóng Bộ tài chính, tàn sát đẫm máu ở một số nơi (tiêu biểu là ở phố Hàng Bún). - Ngày 18/12/1946, Pháp gửi tối hậu thư đòi ta phải giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu giao quyền kiểm soát thủ đô Hà Nội cho chúng, nếu không, chậm nhất sáng 20/12/1946, Pháp sẽ chuyển sang hành động. à Trước hành động ngang ngược của thực Dân Pháp, ngày 18 và 19/12/1946, Hội nghị bất thường Trung ương Đảng quyết định phát động cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp. b. Đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng: - Chỉ thị Toàn Dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (12/12/1946), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/12/1946), và tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi (9/1947) của Tổng Bí thư Trường Chinh là những văn liện lịch sử về đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng, đó là: kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh và trAnh thủ sự ủng hộ củA quốc tế. + Kháng chiến toàn dân: nghĩa là toàn Dân kháng chiến, toàn Dân đánh giặc theo khẩu hiệu: “Mỗi người Dân là một chiến sĩ, mỗi làng xã là một pháo đài”. Xuất Phát từ truyền thống chống giặc ngoại xâm của Dân tộc ta, từ quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng “chiến tranh nhân dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh Có lực lượng toàn dân tham gia mới thực hiện được kháng chiến toàn diện và tự lực cách sinh. + Kháng chiến toàn diện: Do địch đánh ta toàn Diện nên ta phải chống lại chúng toàn Diện. Cuộc kháng chiến của ta bao gồm cuộc đấu tranh trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, giáo dục..., nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp. Đồng thời, ta vừa “kháng chiến” vừa “kiến quốc”, tức là xây Dựng chế độ mới nên phải kháng chiến toàn Diện.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 12 + Kháng chiến trường kỳ: áp Dụng chiến lược đánh lâu Dài, Dựa vào sức mạnh của mình là chính, với ưu thế tuyệt đối của ta về chính trị và tinh thần để khắc phục Dần những nhược điểm về vật chất kỹ thuật khiến cho ta càng đánh càng mạnh, địch càng đánh càng suy yếu Dần Dần, làm cho thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch, cuối cùng đánh bại chúng. + Kháng chiến tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế chính là nhằm phát huy cao độ khả năng tiềm tàng của Dân tộc, tránh ỷ lại bên ngoài, đồng thời ra sức tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. => Đường lối kháng chiến đúng đắn là ngọn cờ để toàn Đảng, toàn Dân, động viên cao nhất sức mạnh của toàn Dân đánh thắng kẻ thù xâm lược. 2. Cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16 * Cuộc chiến đấu ở thủ đô Hà Nội: - Trưa ngày 19/12/1946, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã chỉ thị cho các mặt trận trong cả nước “Chỉ trong vòng 24 giờ là cùng, giặc Pháp sẽ nổ súng. Tất cả hãy sẵn sàng!”. - Khoảng 20 giờ ngày 19/12/1946, công nhân nhà máy điện Yên Phụ (Hà Nội) phá máy, cả thành phố mất điện, cuộc chiến đấu bắt đầu. Vệ quốc quân, công an xung phong, tự vệ chiến đấu đồng loạt tiến công các vị trí quân Pháp. Nhân dân đã khiêng bàn ghế, giường tủ, kiện hàng, hạ cây cối làm thành những chướng ngại vật hoặc chiến luỹ chiến đấu. Cụ già, em nhỏ và những người không tham gia phục vụ chiến đấu, nhanh chóng tản cư ra các vùng ngoại thành. - Từ ngày 19/12 đến ngày 29/12/1946, những cuộc chiến đấu ác liệt đã diễn ra ở nội thành. Hai bên giành nhau từng khu nhà, góc phố, như ở Bắc Bộ phủ, Bưu điện Bờ Hồ, đầu cầu Long Biên, sân bay Bạch Mai, ga Hàng Cỏ, ở các phố Khâm Thiên, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Da, Hàng Trống Quân dân ta đã đánh gần 40 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. - Từ ngày 30/12/1946, địch phản công, ta phải thu hẹp phạm vi chiến đấu, chuyển lực lượng về Liên khu I (thuộc quận Ba Đình và phía Bắc quận Hoàn Kiếm ngày nay). Trong quá trình chiến đấu, Trung đoàn Thủ đô chính thức được thành lập. Những cuộc chiến đấu ác liệt tiếp tục diễn ra ở khu chợ Đồng Xuân, ở rạp hát Olympia (nay là rạp Hồng Hà). - Ngày 17/2/1947, Trung đoàn Thủ đô thực hiện cuộc rút quân vượt khỏi vòng vây của địch, ra căn cứ hậu phương an toàn. * Cuộc chiến đấu ở các đô thị khác: - Cùng với thủ đô Hà Nội, quân dân ta tại các đô thị khác ở phía Bắc vĩ tuyến 16 đứng lên chiến đấu, mở đầu kháng chiến toàn quốc chống Pháp. - Ở thành phố Nam Định, quân dân ta bao vây địch từ ngày 19/12/1946 đến ngày 12/3/1947. - Ở thành phố Vinh, ngay từ đầu cuộc chiến đấu, quân dân ta đã buộc địch đầu hàng. - Ở thành phố Huế, trong 50 ngày đêm, quân dân ta bao vây, tiến công địch. - Ở thành phố Đà Nẵng, quân dân ta tiến công, bao vây, cô lập sân bay và đánh lui nhiều đợt tiến công phá vây của địch. * Ý nghĩa: - Trong 60 ngày đêm chiến đấu, quân và dân Hà Nội đã chiến đấu gần 200 trận, diệt và làm bị thương hàng ngàn tên địch, phá huỷ hàng chục xe cơ giới, 5 máy bay hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giam chân địch trong thành phố một thời gian dài để hậu phương kịp thời huy động lực lượng kháng chiến, di chuyển kho tàng, công xưởng về chiến khu, bảo vệ Trung ương Đảng, Chính phủ về căn cứ lãnh đạo kháng chiến. - Cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16 đã tạo điều kiện cho cả nước chuyển vào cuộc kháng chiến lâu dài. 3. Chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947 a. Âm mưu và cuộc tiến công của Pháp lên Việt Bắc - Tháng 3/1947, Bôlae sang làm Cao ủy Pháp ở Đông Dương, vạch kế hoạch tiến công Việt Bắc, tiêu Diệt cơ quan đầu não kháng chiến và quân chủ lực, triệt đường liên lạc quốc tế của ta, nhanh chóng giành thắng lợi quân sự, lập chính phủ bù nhìn và kết thúc chiến tranh. - Để thực hiện âm mưu đó, Pháp đã huy động 12.000 quân và hầu hết máy bay ở Đông Dương tiến công Việt Bắc theo 3 mũi: + Ngày 7/10/1947 Pháp cho quân Dù Pháp chiếm Bắc Cạn, Chợ Mới, Chợ Đồn + Cùng ngày Pháp cho quân cơ giới từ Lạng Sơn theo đường số 4 lên Cao Bằng, rồi vòng xuống Bắc Cạn theo đường số 3, tạo thành gọng kìm thứ nhất kẹp chặt Việt Bắc theo hướng Đông Bắc.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 13 + Ngày 9/10/1947, bộ binh và lính thủy đánh bộ Pháp từ Hà Nội ngược sông Hồng, sông Lô lên Tuyên Quang, đánh Đài Thị, tạo thành gọng kìm thứ hai kẹp chặt Việt Bắc theo hướng Tây Bắc. => Âm mưu của Pháp là sau khi hội quân tại Đài Thị sẽ mở cuộc tiến công tổng lực tiêu diệt bộ đội chủ lực và cơ quan đầu não của ta nhằm kết thúc chiến tranh. b. Chủ trương của ta: Ngày 15/10/1947, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh ra chỉ thị: “Phải phá tAn cuộc tiến công mùA đông của giặc Pháp”. c. Diễn biến chính: - Trên khắp các mặt trận, quân Dân ta anh Dũng chiến đấu đẩy lui địch: + Mặt trận đường số 3, ta đánh hơn 20 trận, buộc Pháp rút khỏi Chợ Đồn, Chợ Rã... cuối tháng 11/1947. + Mặt trận đường số 4, ta phục kích ở Bản Sao – đèo Bông Lau (30/10/1947), phá hủy 27 xe, bắt sống 240 địch. Đường số 4 trở thành “con đường chết”, địch lâm vào thế cô lập phải rút khỏi Bản Thi. + Mặt trận sông Lô, ta chặn đánh địch ở Đoan Hùng (25/10), Khe Lau (10/11), đánh chìm nhiều tàu chiến, canô địch. => Bẻ gãy hai gọng kìm Đông - Tây của Pháp. Ngày 19/12/947, Pháp phải rút khỏi Việt Bắc. Chiến Dịch Việt Bắc toàn thắng thuộc về ta. - Ở các mặt trận khác: quân ta kiềm chế, không cho địch tập trung binh lực vào các chiến trường chính. d. Kết quả và ý nghĩa: * Kết quả: - Ta tiêu Diệt hơn 6000 tên địch, bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm 11 tàu chiến và ca nô. - Tinh thần binh lính Pháp hoang mang, Dư luận Pháp phẫn nộ. - Cơ quan đầu não kháng chiến được bảo toàn, bộ đội chủ lực của ta trưởng thành. * Ý nghĩa: - Cuộc kháng chiến chống Pháp chuyển sang giai đoạn mới: Pháp buộc phải chuyển từ “đánh nhAnh thắng nhAnh” sang “đánh lâu dài” với ta. - Lực lượng so sánh giữa ta và địch bắt đầu thay đổi theo chiều hướng có lợi cho ta. - Với thắng lợi trong chiến Dịch Việt Bắc thu – đông 1947, đưa cuộc kháng chiến của ta đi từ thế giữ gìn lực lượng sang thế giằng co trên chiến trường. 4. Chiến dịch Biên giới thu - đông 1950 a. Hoàn cảnh lịch sử mới của cuộc kháng chiến: * Thuận lợi: - Sau chiến thắng Việt Bắc Thu – Đông 1947, cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện được đẩy mạnh; lực lượng vũ trang được tăng cường. - Ngày 1/10/1949, cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hoà Nhân Dân Trung Hoa ra đời và đặt quan hệ ngoại giao với ta (18/1/1950). - Từ tháng 1/1950, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đặt quan hệ ngoại giao với ta. - Cuộc kháng chiến của ta được sự ủng hộ và đồng tình của nhân Dân thế giới. * Khó khăn: - Mỹ can thiệp sâu vào Đông Dương: Công nhận chính phủ Bảo Đại; Tháng 5/1949, đồng ý viện trợ cho Pháp; Lập phái đoàn cố vấn quân sự (MAAG) ở Việt Nam. - Ngày 13/5/1949. Mỹ giúp Pháp thực hiện kế hoạch Rơve: Tăng cường hệ thống phòng ngự trên đường số 4, cắt đứt liên lạc của ta với quốc tế; Lập hành lang Đông – Tây (Hải Phòng – Hà Nội – Hòa Bình – Sơn La); Cô lập và chuẩn bị tấn công Việt Bắc lần thứ hai, kết thúc chiến tranh. b. Chiến dịch Biên giới thu – đông 1950 * Chủ trương của Ta: Tháng 6/1950, ta chủ động mở chiến Dịch Biên giới nhằm: Tiêu Diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch; Khai thông biên giới, mở đường thông sang Trung Quốc và thế giới Dân chủ; Mở rộng và củng cố căn cứ Việt Bắc, tạo đà thúc đẩy kháng chiến tiến lên. * Diễn biến chính: - Ngày 16/9/1950, các đơn vị quân đội ta được lệnh nổ súng tiến công vào Đông Khê, đến ngày 18/09, ta đã chiếm Đông Khê. - Mất Đông Khê, quân địch ở Thất Khê lâm vào tình thế bị uy hiếp, Cao Bằng bị cô lập, hệ thống phòng ngự của Pháp trên đường số 4 bị cắt làm đôi.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 14 - Trước nguy cơ bị tiêu diệt Pháp buộc phải rút quân từ Cao Bằng về theo đường số 4. Để yểm trợ cho cuộc rút quân này, Pháp huy động quân từ Thất Khê lên chiếm lại Đông Khê và đón cánh quân từ Cao Bằng về. Đồng thời mở cuộc tiến công lên Thái Nguyên nhằm chia lửa cho mặt trận Biên giới. - Đoán trước được ý định của địch, quân ta chủ động mai phục, chặn đánh địch nhiều nơi trên đường số 4 khiến cho hai cánh quân này không gặp được nhau, tiêu Diệt hai binh đoàn địch. - Đến lượt Thất Khê bị uy hiếp quân Pháp buộc phải rút khỏi Thất Khê về Na Sầm (8/10). - Ngày 13/10/1950, địch rút khỏi Na Sầm, cuộc hành quân của địch ở Thái Nguyên cũng bị đập tan. - Quân Pháp trở nên hoảng loạn, phải rút chạy, đường số 4 được hoàn toàn giải phóng vào ngày 22/10/1950. - Phối hợp với mặt trận Biên giới, ta hoạt động mạnh ở tả ngạn sông Hồng, Tây Bắc, Đường số 6, số 12, buộc địch phải rút khỏi thị xã Hoà Bình. Phong trào Du kích phát triển mạnh ở Bình - Trị - Thiên, Liên khu V và Nam Bộ. * Kết quả: - Sau hơn một tháng chiến đấu ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 8.000 địch, thu nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh. - Giải phóng biên giới Việt – Trung từ Cao Bằng đến Đình Lập Dài 750 km với 35 vạn Dân, chọc thủng “hành lang Đông – Tây” của Pháp. - Thế bao vây cả trong lẫn ngoài đối với căn cứ địa Việt Bắc bị phá vỡ. Kế hoạch Rơ-ve bị phá sản. * Ý nghĩa lịch sử: - Đây là chiến dịch chủ động tiến công lớn đầu tiên của bộ đội chủ lực ta trong kháng chiến chống Pháp. - Với chiến thắng Biên giới, con đường liên lạc của ta với các nước xã hội chủ nghĩa được khai thông; bộ đội ta đã trưởng thành; ta đã giành được thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ; mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến. - Mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến: từ thế giằng co trên chiến trường sang thế chủ động chiến lược hoàn toàn thuộc về ta. B. MỘT SỐ CÂU HỎI VẬN DỤNG Câu 1: Phân tích nguyên nhân bùng nổ cuộc kháng chiến toàn quốc của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược (19/12/1946). a) Về phía chính phủ và nhân dân Việt Nam: - Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ Việt Nam mong muốn được các nước công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cũng mong muốn có hòa bình để xây dựng đất nước. - Trước những hành động chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, Chính phủ Việt Nam đã nổ lực cứu vãn nền hòa bình dù rất mong manh, nên đã chủ động đàm phán và ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và Tạm ước (14/9/1946), nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi để đổi lấy hòa bình. - Mặt khác, trong khi nổ lực hòa bình, Chính phủ Việt Nam vẫn tích cực chuẩn bị mọi lực lượng đề phòng tình huống bất trắc xảy ra. Tháng 5/1946, Vệ quốc đoàn được đổi thành Quân đội Quốc gia Việt Nam và ngày 12/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Toàn dân kháng chiến”. b) Về phía thực dân Pháp: - Trái ngược với thiện chí của Việt Nam, thực dân Pháp ngoan cố bám giữ lập trường thực dân, nuôi hy vọng giành thắng lợi bằng quân sự. Việc đàm phán ký Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và Tạm ước (14/9/1946) chỉ là thủ đoạn để lấn ta từng bước, song vẫn đẩy mạnh việc chuẩn bị chiến tranh xâm lược nước ta một lần nữa. + Ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp tiến đánh các vùng tự do của ta. + Ở Bắc Bộ và Trung Bộ, hạ tuần tháng 11/1946, thực dân Pháp khiêu khích, tiến công ta ở Hải Phòng và Lạng Sơn. Tháng 12/1946, chúng chiếm đóng trái phép ở Đà Nẵng, Hải Dương, đưa thêm viện binh đến Hải Phòng.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 15 + Ở Hà Nội, tình hình nghiêm trọng hơn. Trong các ngày 15 và 16/12, quân Pháp bắn súng, ném lựu đạn ở nhiều nơi: đốt Nhà Thông tin ở phố Tràng Tiền, chiếm đóng cơ quan Bộ Tài chính và Bộ Giao thông công chính. Chúng còn cho xe phá các công sự của ta ở phố Lò Đúc, gây ra những vụ tàn sát đẫm máu ở phố Hàng Bún, phố Yên Ninh, đầu cầu Long Biên, khu Cửa Đông Trắng trợn hơn, trong các ngày 18 và 19/12/1946, tướng Moóclie gửi tối hậu thư đòi ta phá bỏ mọi công sự và chướng ngại trên các đường phố, giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, để quân Pháp làm nhiệm vụ giữ trật tự ở Hà Nội. Nếu yêu cầu đó không được chấp nhận thì chậm nhất là vào sáng 20/12/1946, quân Pháp sẽ chuyển sang hành động! - Những hành động khiêu khích, xâm lược của Pháp đã làm cho nền độc lập, chủ quyền của nước ta bị đe Dọa nghiêm trọng. Chính những hành động gây chiến của thực dân Pháp là nguyên nhân dẫn tới cuộc kháng chiến toàn quốc của nhân dân ta. - Tuy nhiên, hành động dung túng, hổ trợ của quân Anh và Trung Hoa Dân quốc cũng góp phần làm cho thực dân Pháp đẩy mạnh hành động chiến tranh xâm lược. Thủ phạm gây ra cuộc chiến tranh Đông Dương từ năm 1945 đến năm 1954 chính là thực dân Pháp, song phía Anh và Trung Hoa Dân quốc cũng phải chịu trách nhiệm vì họ đã tiếp tay cho Pháp trong việc xâm lược. + Họ đã giúp Pháp trở lại sau Chiến tranh thế giới thứ hai. + Khi cần rút lực lượng Trung Hoa Dân quốc về nước, Mĩ đã dàn xếp công việc nội bộ của phe đế quốc, tạo điều kiện cho Pháp đưa quân ra miền Bắc (Hiệp ước Trùng Khánh ngày 28/2/1946). + Sau này Mĩ và Anh đã giúp Pháp rất nhiều về mặt quân sự để tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. Câu 2: Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ động tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp từ tháng 12/1946 như thế nào? Ta đã chủ động đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, vì: - Cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao trong việc ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và Tạm ước Việt – Pháp (14/9/1946) nhằm cứu vãn một nền hòa bình dù rất mong manh. Trong khi nổ lực cứu vãn nền hòa bình, ta đã sử Dụng biện Pháp nhân nhượng, nhân nhượng không phải là sự nhu nhược. Vì thế, một mặt ta tranh thủ giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình, mặt khác ta cũng tích cực đối phó với khả năng chiến tranh. Ta đã tranh thủ thời gian hòa bình để xây Dựng, cũng cố lực lượng mọi mặt Đặc biệt ta hết sức chăm lo cũng cố căn cứ địa Việt Bắc, phát triển lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang. - Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tích cực Dự đoán các khả năng để chủ động đối phó với âm mưu Pháp. + Tháng 11/1946, khi Pháp chiếm thành phố Hải Phòng, Hồ Chí Minh nói: “Nếu quân Pháp tái chiếm diễn ra ở Hà Nội điều đó đã làm ở Hải Phòng thì nhất định nhân dân ta phải đứng lên kháng chiến chống lại chúng”. + Ngày 12/12/1946, Trung ương Đảng ra bản chỉ thị “Toàn quốc kháng chiến”, phác thảo những nét cơ bản về cuộc chiến tranh nhân dân. Bản chỉ thị nêu các khẩu hiệu: toàn dân kháng chiến, kháng chiến khắp nơi, mỗi phố là một trận địa, mỗi làng là một pháo đài. Mục địch kháng chiến là giành độc lập và thống nhất hoàn toàn. + Ngày 18/ 12/ 1946, khi Pháp gửi tối hậu thư đòi ta hạ vũ khí hàn, nếu không 20/12/1946 chúng sẽ hành động. Vào đúng lúc khả năng hòa hoãn không còn nữa, Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh đã chủ động và kiên quyết phát động toàn quốc kháng chiến vào ngày 19/12/1946, đưa cả dân tộc vào cuộc tổng giao chiến lịch sử. Đó là một quyết định chính xác, đúng như Tổng Bí thư Trường Chinh khẳng định “Đã đánh thì quyết đánh thắng”. Câu 3: “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” ngày 19/12/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời trong hoàn cảnh nào? Nêu tóm tắt nội dung và ý nghĩa của văn kiện đó. a) Hoàn cảnh ra đời: - Mặc dù đã kí Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3 và Tạm ước ngày 14/9/1946, thực dân Pháp vẫn tiếp tục đẩy mạnh việc chuẩn bị chiến tranh xâm lược nước ta một lần nữa. - Ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp mở các cuộc tiến công ta. Ở Bắc Bộ, hạ tuần tháng 11/1946, quân Pháp tiến công ta ở Hải Phòng, Lạng Sơn, sau đó chúng chiếm đóng Hải Phòng (tháng 12/1946). - Ở Hà Nội, quân Pháp chiếm đóng Bộ tài chính, gây ra vụ tàn sát đẫm máu ở phố Hàng Bún, phố Yên Minh
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 16 - Ngày 18/12/1946, quân Pháp gửi tối hậu thư đòi ta giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, để cho Pháp làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự ở Hà Nội, nếu không chúng sẽ hành động vào sáng ngày 20/12/1946. - Tình thế khẩn cấp đã buộc Đảng, Chính phủ ta phải có quyết định kịp thời. Ngày 18 và 19/12/1946, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp, đã quyết định phát động kháng chiến chống Pháp xâm lược. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được truyền đi cả nước. b) Nội dung cơ bản: - Nhân dân Việt Nam mong muốn có hòa bình, nhưng kẻ thù muốn chiến tranh để đặt ách thống trị lên nhân dân Việt Nam: “chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!” - Nhân dân Việt Nam quyết tâm chiến đấu đến cùng để bảo vệ nền độc lập dân tộc: “Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. - Kêu gọi toàn dân đứng lên kháng chiến để đánh thắng kẻ thù: “Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”. - Khẳng định niềm tin tất thắng của cuộc kháng chiến: “Dù phải gian lao kháng chiến thì thắng lợi nhất định thuộc về dân tộc ta!” c) Ý nghĩa: - Lời hiệu triệu, là tiếng gọi của non sông đất nước thấu tới mọi người Việt Nam yêu nước đứng lên kháng chiến chống Pháp. - Là văn kiện lịch sử quan trọng, phác họa những nét cơ bản đường lối chiến tranh nhân dân, hình thành đường lối kháng chiến của Đảng ta. Câu 4: Hãy nêu và phân tích nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng? a) Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng được thể hiện trong các văn kiện: - Ngày 12/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Toàn dân kháng chiến”. Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”. Từ tháng 3 đến tháng 9/1947, đồng chí Trường Chinh viết một số bài báo giải thích cụ thể về đường lối kháng chiến. Tháng 9/1947, được in thành sách với tiêu đề “Kháng chiến nhất định thắng lợi”. - Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến”, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” và tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” là những văn kiện lịch sử quan trọng về đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng. - Đường lối chiến tranh nhân dân với những nội dung cơ bản là: Kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. b) Phân tích nội dung: - Tính chất toàn dân: + Nghĩa là huy động sức mạnh của mọi người dân tham gia vào cuộc kháng chiến. + Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân bằng hình thức chiến tranh cách mạng nhằm đánh đuổi bọn thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất đất nước. + Đường lối này xuất phát từ truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta; từ mục đích của cuộc kháng chiến là vì độc lập dân tộc, vì tự do dân chủ của nhân dân; từ quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” của chủ nghĩa Mác – Lênin; từ tư tưởng “chiến tranh nhân dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và từ chủ trương “kháng chiến toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh” của Đảng. Nhằm huy động sức mạnh toàn dân, trong đó lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. + Muốn phát huy sức mạnh toàn dân phải kháng chiến lâu dài, muốn có lực lượng đánh lâu dài phải huy động lực lượng toàn dân. Có toàn dân mới tham gia được kháng chiến toàn diện và tự lực cánh sinh. - Kháng chiến toàn diện: + Nghĩa là kháng chiến về mọi mặt. + Vì địch không chỉ đánh ta trên mặt trận quân sự mà còn đánh ta trên các mặt trận kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, ngoại giao nên ta phải thực hiện kháng chiến toàn diện trên tất cả các mặt
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 17 trận quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và ngoại giao. Thông qua những hình thức kháng chiến toàn diện mới tạo được điều kiện cho toàn dân tham gia kháng chiến tùy theo khả năng của mình. - Kháng chiến trường kỳ: + Nghĩa là đánh lâu dài. + Đây là một chủ trương sáng suốt của Đảng Dựa trên sự vận Dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp một cách khoa học. + Đồng thời, kế thừa, phát huy truyền thống của dân tộc: “Lấy ít địch nhiều”, “lấy yếu chống mạnh”, “lấy chính nghĩa thắng hung tàn” truyền thống đánh giặc lâu dài của dân tộc ta. + Mặc khác, vì so sánh lực lượng lúc đầu giữa ta và địch chênh lệch, địch mạnh hơn ta về quân sự và kinh tế, ta chỉ hơn địch về mặt tinh thần và có chính nghĩa. Kẻ thù mà ta phải đối mặt là một đội quân nhà nghề của một nước phát triển mạnh hơn ta, lại có nhiều ưu thế về trang bị, vũ khí. Âm mưu của chúng là đánh nhanh thắng nhanh để kết thúc chiến tranh. + Đánh lâu dài sẽ rất phủ hợp với việc ta vừa đánh vừa phát triển lực lượng và gây những khó khăn cho quân thù, tiêu hao chúng, làm cho chúng Dần Dần sa lầy vào cuộc chiến. Đường lối kháng chiến lâu dài là ngọn cờ để đoàn kết dân tộc, động viên cao nhất sức mạnh toàn dân, khắc phục những mặt nhược điểm về vật chất, kỹ thuật, vừa đánh vừa bồi dưỡng sức dân, làm cho ta càng đánh càng mạnh, để cuối cùng giành thắng lợi hoàn toàn. - Kháng chiến tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế: + Vì ta hiểu rõ mối quan hệ giữa các yêu tố chủ quan và khách quan, trong đó yếu tố chủ quan giữ vai trò quyết định nhất. Bởi vì có nổ lực chủ quan mới phát huy hết sức mạnh của mình, mặc dù ta vẫn coi trọng sự hỗ trợ bên ngoài. Phải đem sức ta mà giải phóng cho ta, tránh ỷ lại vào bên ngoài, đồng thời cũng phải ra sức tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế với tinh thần “Cứu bạn là tự cứu mình”, nên cuộc kháng chiến của ta phải tự lực là chính. + Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta mang tính chính nghĩa, tiến bộ, là một bộ phận của công cuộc xây Dựng hòa bình, dân chủ thế giới nên ta cần phải tranh thủ, phối hợp sự ủng hội của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. - Đường lối kháng chiến trên của Đảng nhằm phát huy sức mạnh toàn dân, toàn diện của dân tộc, khắc phục những nhược điểm về vật chất, kỹ thuật, vừa đánh vừa bồi dưỡng sức dân làm cho ta càng đánh càng mạnh để cuối cùng giành thắng lợi hoàn toàn. - Đường lối kháng chiến của Đảng ngày càng phát triển hoàn chỉnh hơn trong quá trình kháng chiến, nhất là qua Đại hội lần thứ II (1951) và qua các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng trong những năm cuối của cuộc kháng chiến. - Đường lối kháng chiến đó được thể hiện một cách phong phú, sinh động trong thực tiễn kháng chiến của quân và dân ta trên tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, - Đường lối kháng chiến của Đảng là ngọn cờ để đoàn kết toàn Đảng, toàn dân; động viên cao nhất sức mạnh toàn dân đánh thắng kẻ thù xâm lược. Câu 5: Phân tích tính chất chính nghĩa và tính nhân dân của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng ta. a) Tính chính nghĩa: - Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình – Hà Nội, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản tuyên nông khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập”. - Ngày 23/9/1945, Pháp trở lại xâm lược Nam Bộ. Sau khi chiếm đóng các đô thị ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp đề ra kế hoạch tiến quân ra Bắc nhằm thôn tính cả nước ta. - Trước âm mưu và hành động trở lại xâm lược nước ta của thực dân Pháp, Đảng và Chính phủ ta chủ trương hòa hoãn, nhân nhượng Pháp với việc kí hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và Tạm ước (14/9/1946). Sau khi kí hiệp định Sơ bộ và Tạm ước, ta thực hiện đúng những điều đã kí nhưng thực dân Pháp cứ lấn tới và cuối cùng, chúng ngang nhiên xé bỏ hiệp định Sơ bộ và Tạm ước. Trước tình thế đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và Chính phủ ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. - Cuộc kháng chiến của nhân dân ta là cuộc kháng chiến để bảo vệ nền độc lập dân tộc mà ta đã giành được trong Cách mạng tháng Tám. Đây là cuộc kháng chiến hoàn toàn chính nghĩa. Nhờ yếu tố chính nghĩa, trong quá trình kháng chiến nhân dân ta đã nhận được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới, đặc biệt là nhân dân Pháp.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 18 - Cũng xuất phát từ tính chính tính nghĩa nên chủ trương kháng chiến lâu dài để chống âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp. Cuối cùng, ta giành thắng lợi hoàn toàn. b) Tính nhân dân: - Trong đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng chủ trương kháng chiến toàn dân; từ đó đã tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia kháng chiến, chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp cứu Tổ quốc ”. Đáp lời kêu gọi ấy, toàn thể nhân dân cùng đứng lên kháng chiến. - Ta tiến hành kháng chiến toàn diện chống Pháp trên tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao. Thông qua những hình thức của cuộc kháng chiến toàn diện, Đảng ta đã huy động toàn dân tham gia kháng chiến tùy theo khả năng của mình – “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng quốc, thuổng, gậy, gộc. Ai cùng phải ra sức chống Pháp cứu nước. - Nhờ tính nhân dân trong đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng, ta đã đánh bại âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của thực dân Pháp. Câu 6: Trong cuộc kháng chiến chống Pháp từ năm 1946 đến năm 1954, chiến thắng nào của quân dân ta đã làm phá sản ý đồ “đánh nhanh, thắng nhanh” của quân Pháp? Trình bày hoàn cảnh, kết quả và ý nghĩa của chiến thắng đó. a) Trong cuộc kháng chiến chống Pháp từ năm 1946 đến năm 1954, chiến thắng của quân dân ta đã làm phá sản ý đồ “đánh nhanh, thắng nhanh” của quân Pháp là Chiến Dịch Việt Bắc thu – đông năm 1947. b) Hoàn cảnh, kết quả, ý nghĩa: * Hoàn cảnh ta mở Chiến dịch Việt Bắc thu – đông năm 1947 + Về phía Pháp: - Sau gần một năm kể từ khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, thực dân Pháp đã chiếm được các đô thị và các đường giao thông chiến lược, song phạm vi chiếm đóng càng mở rộng, Pháp càng gặp khó khăn do phải dàn mỏng lực lượng. - Bước sang năm 1947, nước Pháp gặp nhiều khó khăn về kinh tế - tài chính, chính trị - xã hội. Để giải quyết những khó khăn và thực hiện âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh”, tháng 3/1947 Chính phủ Pháp đã cử Bôlae sang làm cao ủy Pháp ở Đông Dương thay cho Đácgiăngliơ. Bôlae vạch kế hoạch tấn công lên Việt Bắc, nhằm đánh phá căn cứ địa, tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và quân chủ lực, triệt đường liên lạc quốc tế của ta. Chúng âm mưu giành thắng lợi quân sự, tiến tới thành lập chính phủ bù nhìn toàn quốc và nhanh chóng kết thúc chiến tranh. - Thực hiện kế hoạch trên, Pháp đã huy động một lực lượng quân đội lớn với 12.000 quân tinh nhuệ gồm cả không quân, lục quân, thủy quân và hầu hết mày bay có ở Đông Dương, chia thành ba cánh quân mở cuộc tấn công lên Việt Bắc. + Về phía ta: - Sau một năm kháng chiến chống thực dân Pháp, các cơ quan trung ương của ta đã rút về căn cứ Việt Bắc để kháng chiến lâu dài. - Lực lượng kháng chiến của ta lúc này vẫn còn non yếu. Trung ương Đảng chủ trương tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh. * Kết quả, ý nghĩa: - Thực hiện chỉ thị của Đảng, trên khắp các mặt trận, nhân dân ta đã anh dũng chiến đấu tiêu diệt nhiều sinh lực địch, từng bước phá vỡ vòng vây của địch ở nhiều nơi. Cuộc chiến đấu hơn hai tháng giữa ta và địch đã kết thúc bằng cuộc rút chạy của đại bộ phận quân Pháp khỏi Việt Bắc ngày 19/12/1947. Bảo toàn được cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến; bộ đội chủ lực thêm trưởng thành. - Sau 75 ngày đêm chiến đấu, quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 quân địch; bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm và cháy 11 tàu chiến, ca nô; phá huỷ nhiều xe quân sự và pháo các loại, thu nhiều vũ khí và hàng chục tấn quân trang quân dụng. - Là chiến dịch phản công lớn đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. - Chứng minh đường lối kháng chiến của Đảng là đúng, chứng minh tính vững chắc của căn cứ địa Việt Bắc.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 19 - Làm thất bại hoàn toàn chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của giặc Pháp, buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài. - Là mốc khởi đầu sự thay đổi về tương quan, so sánh lực lượng giữa ta và địch có lợi cho cuộc kháng chiến của ta. Câu 7: Trong thời kì 1945-1954, chiến thắng nào của quân dân ta đã làm phá sản hoàn toàn kế hoạch Rơ-ve? Trình bày hoàn cảnh lịch sử, chủ trương của ta và ý nghĩa lịch sử của chiến thắng đó. a) Trong thời kì 1945-1954, chiến thắng của quân dân ta đã làm phá sản hoàn toàn kế hoạch Rơ-ve là thắng lợi của chiến dịch Biên giới thu - đông 1950. b) Hoàn cảnh lịch sử + Sau chiến thắng Việt Bắc thu – đông 1947, cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện được đẩy mạnh; lực lượng vũ trang được tăng cường. + Bước vào năm 1950, cuộc kháng chiến của ta có thuận lợi mới: Cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời. Trung Quốc, Liên Xô và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. + Mặt khác, cuộc kháng chiến cũng gặp khó khăn mới: Mĩ từng bước can thiệp vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Pháp đề ra và thực hiện kế hoạch Rơve, tăng cường hệ thống phòng thủ trên Đường số 4, thiết lập “Hành lang Đông – Tây”, chuẩn bị tiến công Việt Bắc lần thứ hai. c) Chủ trương: Đảng và Chính phủ quyết định mở chiến Dịch Biên giới nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch; khai thông đường sang Trung Quốc và thế giới; mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, tạo đà thúc đẩy cuộc kháng chiến tiến lên. d) Ý nghĩa: Với chiến thắng Biên giới, con đường liên lạc của ta với các nước xã hội chủ nghĩa được khai thông; bộ đội ta đã trưởng thành; ta đã giành được thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ; mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến. Bài 3. BƯỚC PHÁT TRIỂN CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP 1951 - 1953 A. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Mỹ can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương và kế hoạch Đờ Lát đờ Tát-xi- nhi. a. Âm mưu và hành động của Pháp – Mĩ: - Về phía Mĩ: từ tháng 5/1949, Mĩ từng bước can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương: + Kí với Pháp Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương (12/1950), tăng cường viện trợ quân sự, kinh tế, tài chính của Mĩ cho Pháp và tay sai. + Kí với Bảo Đại Hiệp định hợp tác kinh tế Việt – Mĩ (9/1951), nhằm trực tiếp ràng buộc chính phủ Bảo Đại vào Mĩ. + Sau Hiệp định này, viện trợ của Mĩ cho chiến tranh Đông Dương chiếm tỉ lệ ngày càng cao, các trung tâm và các trường huấn luyện của Mĩ bắt đầu tuyển chọn, đưa người Việt sang học ở Mĩ. - Về phía Pháp: Đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương: + Tháng 12/1950, Chính phủ Pháp cử Đờ Lát đơ Tátxinhi làm tổng chỉ huy quân đội, kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương. Dựa vào viện trợ của Mĩ, Đờ Lát đơ Tátxinhi đề ra kế hoạch mới nhằm kết thúc chiến tranh. + Kế hoạch gồm 4 điểm chính: Xây dựng một lực lượng cơ động chiến lược mạnh; xây dựng phòng tuyến công sự xi măng cốt sắt (boong-ke), lập “vành đai trắng”; tiến hành chiến tranh tổng lực, bình định vùng tạm chiếm, vơ vét sức người sức của; đánh phá hậu phương kháng chiến, b. Tác động đến cuộc kháng chiến của nhân dân ta: - Sự cấu kết của Pháp – Mĩ, nhất là kế hoạch Đờ Lát đơ Tátxinhi đã đưa cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương lên quy mô lớn, làm cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, nhất là vùng sau lưng địch trở nên khó khăn và phức tạp. - Tuy nhiên, bản thân kế hoạch này cũng chứa đựng nhiều yếu tố thất bại: ra đời trong thế bị động, làm xuất hiện mâu thuẩn giữa tập trung và phân tán binh lực. 2. Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương (2/1951). a. Hoàn cảnh:
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1945 – 1954) 20 - Từ ngày 11 đến 19/2/1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần II của Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Vinh Quang – Chiêm Hóa (Tuyên Quang), thông qua nhiều nội dung quan trọng. b. Nội dung: - Đại hội thông qua hai bản báo cáo quan trọng: + Báo cáo chính trị Do Hồ Chủ tịch trình bày tổng kết kinh nghiệm đấu tranh trong chặng đường đã qua. + Báo cáo Bàn về cách mạng Việt NAm Do Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày, nêu rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại độc lập, xóa bỏ những tàn tích phong kiến thực hiện “người cày có ruộng”, phát triển chế độ dân chủ nhân dân. - Đại hội quyết định tách Đảng Cộng sản Đông Dương, thành lập ở Việt Nam, Lào, Campuchia mỗi nước một Đảng Mác - Lênin riêng có cương lĩnh phù hợp với từng Dân tộc . - Ở Việt Nam, Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. - Thông qua Tuyên ngôn, Chính cương, Điều lệ mới; xuất bản báo Nhân dân, cơ quan Trung ương của Đảng. - Bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị Do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Trường Chinh làm Tổng Bí thư . => Ý nghĩa Đại hội: đánh Dấu bước phát triển mới trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng. Là “Đại hội kháng chiến thắng lợi”. B. MỘT SỐ CÂU HỎI VẬN DỤNG Câu 1. Hoàn cảnh, nội dung và nêu ý nghĩa Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương (2/1951). a) Hoàn cảnh: - Tình hình thế giới có nhiều chuyển biến tích cực: Đến năm 1950, Liên Xô và các nước Đông Âu hoàn thành khôi phục kinh tế và bước vào công cuộc xây Dựng chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Trung Hoa ra đời. Phe xã hội chủ nghĩa được mở rộng và nối liền từ Âu sang Á. Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa đã đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Trong khi đó, phong trào giải phóng dân tộc cũng phát triển mạnh mẽ ở các nước Á, Phi và Mĩ la tinh. - Đến năm 1950, Mĩ đã cầm đầu các nước tư bản (thông qua kế hoạch Mác san và sự ra đời của khối NATO). Từ cuối năm 1949, Mĩ tăng cường viện trợ cho Pháp tiến hành chiến tranh xâm lược Đông Dương. - Cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn và toàn diện. Sau chiến thắng Biên giới năm 1950, quân và dân ta đã giành được thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ. Hậu phương kháng chiến đã giành được nhiều thắng lợi. Thế và lực của cuộc kháng chiến ngày càng mạnh. - Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ba nước Đông Dương có những bước phát triển mới. - Bối cảnh thế giới và trong nước có những chuyển biến, nhất là Pháp – Mĩ đang âm mưu đẩy cuộc chiến tranh toàn diện, đòi hỏi cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng. - Tháng 2/1951, Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Chiêm Hóa – Tuyên Quang. b) Nội dung: - Quyết định tách Đảng Cộng sản Đông Dương để thành lập ở mỗi nước Việt Nam, Lào, Campuchia một Đảng riêng để đề ra đường lối chính trị phù hợp với tình hình mỗi nước. Ở Việt Nam, Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi là Đảng Lao động Việt Nam; - Thông qua Báo cáo chính trị của Hồ Chí Minh, tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của Đảng; - Thông qua Báo cáo “Bàn về cách mạng Việt Nam” của Tổng Bí thư Trường Chinh, nêu rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là: Đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập dân tộc; xoá bỏ những tàn tích phong kiến, thực hiện “người cày có ruộng”; phát triển chế độ dân chủ nhân dân để từng bước tiến tới chủ nghĩa xã hội;



