Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 12 - Chuyên đề 4: Lịch sử Việt Nam 1954-1975
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 12 - Chuyên đề 4: Lịch sử Việt Nam 1954-1975", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
chuyen_de_boi_duong_hsg_mon_lich_su_lop_12_chuyen_de_4_lich.pdf
Nội dung text: Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 12 - Chuyên đề 4: Lịch sử Việt Nam 1954-1975
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 1 Chuyên đề 4: LỊCH SỬ VIỆT NAM 1954 - 1975 Bài 1. XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC, ĐẤU TRANH CHỐNG ĐẾ QUỐC MĨ VÀ CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN Ở MIỀN NAM (1954 – 1965) A. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Tình hình và nhiệm vụ cách mạng nước ta sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương. a. Tình hình nước ta sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương: * Miền Bắc: - Ngày 10/10/1954, quân ta tiến vào tiếp quản Hà Nội (ngày giải phóng Thủ đô). - Ngày 01/01/1955, Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch ra mắt nhân dân Thủ đô. - Ngày 16/5/1955, toán lính Pháp cuối cùng rút khỏi đảo Cát Bà - Hải Phòng, miền Bắc hoàn toàn giải phóng. * Miền Nam: - Giữa tháng 5/1956, Pháp rút khỏi miền Nam khi chưa thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam theo điều khoản của Hiệp định Giơnevơ. - Mỹ thay Pháp, đưa tay sai Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền ở miền Nam, âm mưu chia cắt Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự ở Đông Dương và Đông Nam Á. b. Nhiệm vụ: - Miền Bắc phải nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, tiến lên chủ nghĩa xã hội để trở thành hậu phương vững chắc cho cách mạng miền Nam đánh Mĩ. - Miền Nam tiếp tục cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thực hiện thống nhất nước nhà. - Mối quan hệ của cách mạng hai miền: miền Bắc là hậu phương lớn có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của cách mạng cả nước; miền Nam là tiền tuyến có vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam. Cách mạng hai miền có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, phối hợp nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển. Đó là quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến. 2. Miền Nam đấu tranh chống chế độ Mĩ – Diệm, giữ gì, phát triển lực lượng cách mạng, tiến tới “Đồng khởi” (1954 – 1960) a. Đấu tranh chống chế độ Mĩ – Diệm, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng (1954 – 1959) - Cách mạng miền Nam từ giữa năm 1954 chuyển sang đấutranh chống Mĩ – Diệm, trước mắt là đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, bảo vệ hòa bình, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng. Phương pháp đấu tranh là mít tinh, biểu tình, bãi công - Mở đầu và tiểu biểu nhất là phong trào “Phong trào hòa bình” của trí thức và các tầng lớp nhân dân ở Sài Gòn - Chợ Lớn (1954). - Khi Mĩ – Diệm khủng bố, đàn áp, Phong trào hòa bình lan rộng ra các thành phố khác như Huế, Đà Nẵng. Từ đấu tranh hòa bình, phong trào chuyển dần sang đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang. - Kết quả, phong trào đấu tranh đã hình thành Mặt trận chống Mĩ – Diệm. Đây là thời kì giữ gìn, phát triển lực lượng cách mạng, chuẩn bị tiến tới “Đồng khởi”. b. Phong trào “Đồng khởi” (1959 - 1960) ở miền Nam * Nguyên nhân bùng nổ: - Lực lượng cách mạng miền Nam được giữ gìn và phát triển qua thực tiễn đấu tranh chính trị, hòa bình, đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, tiến lên dùng bạo lực, kết hợp đấu tranh chính trị với vũ trang, chuẩn bị cho sự bùng nổ phong trào cách mạng mới. - Trong những năm 1957-1959, cách mạng miền Nam gặp muôn vàn khó khăn, tổn thất. Tháng 5/1957, chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành chính sách “tố cộng, diệt cộng”, ra đạo luật 10/59 đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, lê máy chém khắp miền Nam làm lực lượng cách mạng bị tổn thất nặng, đòi hỏi phải có biện pháp quyết liệt để đưa cách mạng vượt qua khó khăn. - Tháng 01/1959, Hội nghị Trung ương Đảng 15 quyết định để cho nhân dân miền Nam sử dụng bạo lực cách mạng đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm. Hội nghị nhấn mạnh: Ngoài con đường dung bạo lực cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác. Phương hướng của cách
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 2 mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân bằng con đường đấu tranh chính trị là chủ yếu, kết hợp với đấu tranh vũ trang đánh đổ ách thống trị của Mỹ - Diệm. * Diễn biến: - Lúc đầu phong trào nổ ra lẻ tẻ ở từng địa phương như Vĩnh Thạnh (Bình Định), Bác Ái (Ninh Thuận) (2/1959), Trà Bồng (Quảng Ngãi) (8/1959) , sau lan khắp miền Nam thành cao trào cách mạng, tiêu biểu là cuộc “Đồng khởi” ở Bến Tre. - Ngày 17/1/1960, “Đồng khởi” nổ ra ở 3 xã Định Thuỷ, Phước Hiệp, Bình Khánh (huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre), từ đó lan khắp huyện Mỏ Cày và tỉnh Bến Tre (huyện Giồng Trôm, Ba Tri, Châu Thành ) - Quần chúng giải tán chính quyền địch, lập Ủy ban nhân dân tự quản, lập lực lượng vũ trang, tịch thu ruộng đất của địa chủ, cường hào chia cho dân cày nghèo. * Kết quả: - Phong trào lan khắp Nam Bộ, Tây Nguyên và một số nơi ở Trung Trung bộ. Cuối năm 1960, ta làm chủ 600/1298 xã ở Nam Bộ, 3.200/5721 thôn ở Tây Nguyên, 904/3829 thôn ở Trung Trung bộ. - Từ khí thế đó, ngày 20/12/1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, đoàn kết toàn dân đấu tranh chống Mỹ - Diệm, lập chính quyền cách mạng dưới hình thức Ủy ban nhân dân tự quản. - Cũng từ trong phong trào “Đồng khởi” đã hình thành “Đội quân tóc dài”. * Ý nghĩa: + Đối với Mĩ - Diệm: - Giáng đòn nặng nề vào chính sách thực dân mới của Mĩ ở miền Nam. - Làm lung lay tận gốc chế độ tay sai Ngô Đình Diệm. “Đồng khởi” của nhân dân miền Nam thể hiện thời kì tạm ổn định của chính quyền địch đã chấm dứt, mở ra thời kì khủng hoảng của chế độ Mĩ – Diệm ở Sài Gòn. + Về phía Ta: - Đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam: chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, bằng cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang. 3. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam a. Hoàn cảnh lịch sử: - Cách mạng miền Bắc hoàn thành việc hàn gắn vết thương chiến tranh, giành được thắng lợi quan trọng trong cải tạo và phát triển quan hệ sản xuất. Ở miền Nam, từ phong trào “Đồng khởi”,cách mạng có bước phát triển nhảy vọt, chuyển sang thế tiến công. - Để nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới, từ ngày 5 đến 10/9/1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam diễn ra tại Hà Nội. b. Nội dung: - Đề ra nhiệm vụ chiến lược cho cách mạng cả nước và nhiệm vụ của cách mạng từng miền, chỉ rõ vị trí, vai trò cách mạng từng miền, mối quan hệ giữa cách mạng hai miền: + Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển cách mạng cả nước. + Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam. + Cách mạng hai miền có quan hệ mật thiết, gắn bó, tác động lẫn nhau nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà. - Đại hội khẳng định đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. - Đại hội thông qua Báo cáo chính trị, Báo cáo sửa đổi điều lệ Đảng và thông qua kế họach 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) xây dựng CNXH ở miền Bắc. - Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, bầu Bộ Chính trị, Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch và Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đảng. => Ý nghĩa: Là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà. 4. “Chiến tranh đặc biệt” (1961 - 1965) ở miền Nam Việt Nam. a. Bối cảnh lịch sử
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 3 - Cuối 1960, sau phong trào “Đồng khởi”, Mĩ đề ra và thực hiện “Chiến tranh đặc biệt” (1961 - 1965) ở miền Nam Việt Nam. - Trong khi đó, trên thế giới, phong trào giải phóng dân tộc dâng lên mạnh mẽ đe doạ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. b. Khái niệm - “Chiến tranh đặc biệt” là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Mĩ, được tiến hành bằng quân đội tay sai, dưới sự chỉ huy của hệ thống “cố vấn” Mĩ, dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh của Mĩ, nhằm chống lại phong trào cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ chiến tranh của Mĩ ở Đông Dương và Đông Nam Á. - Âm mưu cơ bản: “dùng người Việt đánh người Việt” c. Thủ đoạn - Từ năm 1961-1963, Mĩ đề ra kế hoạch Xtalây – Taylo: Bình định miền Nam trong 18 tháng, bằng cách: + Tăng viện trợ quân sự cho Diệm, tăng cường cố vấn Mĩ và lực lượng quân đội Sài Gòn. + Tiến hành dồn dân lập “Ấp chiến lược”, xem “Ấp chiến lược” là quốc sách hàng đầu, là xương sống của “ Chiến tranh đặc biệt”. + Trang bị phương tiện chiến tranh hiện đại, sử dụng phổ biến các chiến thuật mới như “trực thăng vận” và “thiết xa vận”. + Thành lập Bộ chỉ huy quân sự Mĩ ở miền Nam (MACV) trực tiếp chỉ huy quân đội Sài Gòn. + Mở nhiều cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng, tiến hành nhiều hoạt động phá hoại miền Bắc, phong tỏa biên giới, vùng biển nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. - Sau khi lên làm Tổng thống (thay G. Kennơđi bị ám sát ngày 22/11/1963). L. Giônxơn quyết định đẩy mạnh hơn nữa “Chiến tranh đặc biệt”. Kế hoạch Giônxơn – Mác Namara thay thế kế hoạch Xtalây – Taylo được vạch ra nhằm tăng cường viện trợ quân sự, ổn định chính quyền Sài Gòn, bình định miền Nam có trọng điểm trong 2 năm (1964 – 1965). d. Miền Nam chiến đấu chống “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Đảng lãnh đạo nhân dân ta kết hợp đấu tranh chính trị với đầu tranh vũ trang, nổi dậy tiến công địch trên ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn - đồng bằng và đô thị), bằng ba mũi giáp công (chính trị, quân sự, binh vận). - Đấu tranh chống và phá “Ấp chiến lược”: +Từ 1961-1962: diễn ra gay go quyết liệt giữa ta và địch. Ta phá “Ấp chiến lược” đi đôi với dựng làng chiến đấu với khẩu hiệu “Một tấc không đi, một li không rời”. Cuối năm 1962, ta kiểm soát trên nửa tổng số ấp với 70% nông dân ở miền Nam. + Từ cuối năm 1963: từng mảng lớn “Ấp chiến lược” của địch bị phá vỡ, làm phá sản cơ bản “xương sống” của chiến tranh đặc biệt. Cuối năm 1964, địch chỉ còn kiểm soát được 3.300 ấp, tới tháng 6/1965, giảm xuống mức thấp nhất, chỉ còn kiểm soát 2.200 ấp. Vùng giải phóng ngày càng mở rộng, trở thành hậu phương trực tiếp của cách mạng. Tại vùng giải phóng, chính quyền cách mạng các cấp được thành lập, ruộng đất của Việt gian bị tịch thu được chia cho dân cày nghèo. - Đấu tranh quân sự: + Ngày 2/1/1963, quân dân ta thắng lớn ở trận Ấp Bắc (Mỹ Tho), đánh bại cuộc hành quân càn quét của 2000 Mĩ - Ngụy Sài Gòn có cố vấn Mỹ chỉ huy với phương tiện chiến tranh hiện đại. Với chiến thắng “Ấp Bắc” mở ra cao trào”Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công” và chứng minh quân dân ta có thể đánh bại “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ. + Đông - Xuân 1964 - 1965, quân dân ta mở chiến dịch tiến công địch ở miền Đông Nam Bộ và giành thắng lợi lớn ở trận Bình Giã (2/12/1964), loại 1700 tên địch khỏi vòng chiến, đánh bại chiến lược “trực thăng vận” và “thiết xa vận”, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” bị phá sản về cơ bản. Sau đó, ta tiếp tục giành thắng lợi ở An Lão (Bình Định), Ba Gia (Quãng Ngãi), Đồng Xoài (Bình Phước)...làm phá sản hoàn toàn “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. - Đấu tranh chính trị: diễn ra mạnh mẽ khắp các đô thị lớn, nổi bật là đấu tranh của “đội quân tóc dài”, của các “tín đồ” Phật giáo, học sinh - sinh viên => Góp phần đẩy nhanh quá trình suy sụp của chính quyền Ngô Đình Diệm.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 4 - Ngày 1/11/1963, Mỹ giật dây cho các tướng lĩnh Sài Gòn đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm. Chính quyền Sài Gòn lâm vào tình trạng khủng hoảng. c. Ý nghĩa : - Mĩ đã thất bại trong việc sử dụng miền Nam Việt Nam làm thí điểm một loại hình chiến tranh để đàn áp phong trào cách mạng trên thế giới. - Mĩ buộc phải chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (tức thừa nhận sự thất bại của chiến tranh đặc biệt). - Chứng tỏ đường lối lãnh đạo của Đảng là đúng đắn và sự trưởng thành nhanh chóng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. B. MỘT SỐ CÂU HỎI VẬN DỤNG Câu 1: Vì sao sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương, nước ta bị chia cắt làm hai miền? Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 là gì? a) Vì sao sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương, nước ta bị chia cắt làm hai miền? - Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Lào, Camphuchia của thực dân Pháp, có sự giúp sức của đế quốc Mĩ. - Tháng 5/1956, Pháp rút khỏi miền Nam khi chưa thực hiện được hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất hai miền Nam – Bắc theo điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ. - Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Mĩ thay thế chân Pháp dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm nhằm thực hiện âm mưu chia cắt nước ta, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc đại kiểu mới của Mĩ ở Đông Dương và Đông Nam Á. - Do hành động xâm lược của Mĩ và tay sai trong việc chia cắt lâu dài nước ta nên nước ta tạm thời chia làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau: miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ. b) Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 - Miền Bắc: + Trước hết phải đấu tranh với thực dân Pháp để tiếp quản những vùng mới giải phóng, hoàn thành cải cách ruộng đất, hàn gắn vết thương chiến tranh. + Tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất, nhằm đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. + Miền Bắc còn có nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến miền Nam. + Trong thời kỳ chiến tranh phá hoại, miền Bắc có nhiệm vụ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mĩ, bảo vệ miền Bắc. - Miền Nam: + Đấu tranh chống chế độ Mĩ – Diệm để giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện hòa bình, thống nhất đất nước. - Nhiệm vụ chung của cả nước: đấu tranh chống Mĩ và tay sai, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. - Vai trò, vị trí của cách mạng mỗi miền: + Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vai trò quyết định đối với sự phát triển của cách mạng cả nước. + Cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở Miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam. + Cách mạng cả hai miền có quan hệ mật thiết, gắn bó và tác động lẫn nhau nhằm hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện hòa bình, thống nhất đất nước. Câu 2: Vì sao nói: phong trào “Đồng khởi” (1959 - 1960) được coi là mốc đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam? + “Đồng Khởi” thắng lợi đã làm lung lay tận gốc chế độ Mĩ - Diệm ở miền Nam nước ta và là thắng lợi có ý nghĩa quyết định của công nhân miền Nam trong việc đánh bại chiến lược “Chiến tranh một phía” của Mĩ và tay sai. + Thắng lợi của phong trào “Đồng Khởi” đã làm cho lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam xuất hiện. Hai lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đều lớn mạnh. + Vùng giải phóng ở miền Nam nước ta ra đời. Hàng ngàn xã, thôn, ấp ở miền Nam được giải phóng. Nhân dân đã giành quyền làm chủ. Ngày 20/12/1960, Mặt trận Giải phóng miền Nam ra đời. Mặt trận chủ trương: đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống Đế quốc Mỹ
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 5 xâm lược và tay sai Ngô Đình Diệm, thành lập chính quyền liên minh dân tộc dân chủ rộng rãi ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hoà bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc. + Cách mạng miền Nam đi từ thế giữ gìn, bảo vệ lực lượng và cơ sở cách mạng sang thời kỳ tiến công để đánh đổ chế độ thống trị của Mĩ - Diệm, giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. + Với tất cả những điểm đó, cuộc “Đồng khởi” (1959 - 1960) được coi là mốc đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam nước ta. Câu 3: Vì sao Hội nghị lần thứ 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1/1959) quyết định cho phép nhân dân miền Nam sử dụng bạo lực cách mạng đánh đổ chính quyền Mĩ – Diệm? Phân tích điều kiện bùng nổ và kết quả, ý nghĩa của phong trào “Đồng Khởi” (1959 – 1960). a) Giải thích - Từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 được kí kết, Mĩ vào thay chân Pháp, đưa Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền ở miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ. Chính quyền Mĩ – Diệm ra sức phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ. - Những năm 1957 – 1959, Mĩ và tay sai tiến hành các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”, tăng cường dùng bạo lực khủng bố phong trào đấu tranh của quần chúng. Tháng 5/1959, Chính quyền Sài Gòn ra Luật 10 – 59, đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, làm cho lực lượng cách mạng bị tổn thất nặng nề. Sự đàn áp kẻ thù làm cho mâu thuẩn giữa nhân dân miền Nam với đế quốc Mĩ và tay sai càng phát triển gay gắt. Cuộc đấu tranh ở miền Nam đòi hỏi phải có một biện pháp quyết liệt để đưa cách mạng tiến lên. - Như vậy, con đường hòa bình để thống nhất đất nước không còn nữa. Cách mạng miền Nam chỉ có con đường duy nhất là sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng đánh đổ chính quyền Mĩ – Diệm, giành chính quyền về tay nhân dân. - Mặt khác, đường lối chiến lược của Đảng trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930) và Luận cương chính trị (10/1930) cũng xác định con đường đấu tranh cách mạng giành thắng lợi của cách mạng Việt Nam là sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng, lật đổ ách thống trị của đế quốc và tay sai để thiết lập chính quyền cách mạng của nhân dân. - Căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng miền Nam và đường lối chiến lược của Đảng nên Hội nghị lần thứ 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1/1959) quyết định để nhân dân miền Nam sử dụng bạo lực cách mạng đánh đổ chính quyền Mĩ – Diệm. b) Điều kiện bùng nổ và ý nghĩa của phong trào “Đồng khởi” (1959 – 1960) * Điều kiện bùng nổ - Chính sách khủng bố của Mĩ và chính quyền Sài Gòn hết sức tàn bạo: + Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, Mĩ và chính quyền Sài Gòn ra sức phá hoại hiệp định, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa và căn cứ quân sự của Mĩ. + Những năm 1957 – 1959, Mĩ và tay sai tăng cường dùng bạo lực khủng bố phong trào đấu tranh của quần chúng. Tháng 5/1959, chính quyền Sài Gòn ra Luật 10/59, đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật, làm cho lực lượng cách mạng bị tổn thất nặng nề. Sự đàn áp của kẻ thù làm cho mâu thuẩn giữa nhân dân miền Nam với đế quốc Mĩ và tay sai càng phát triển gay gắt và tất yếu dẫn đến phong trào đấu tranh của quần chúng. + Hoàn cảnh đó làm cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam đòi hỏi phải có một biện pháp quyết liệt để đưa cách mạng tiến lên. - Lực lượng cách mạng miền Nam vẫn được bảo toàn qua các cuộc đấu tranh: + Từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 được kí kết, nhân dân miền Nam chuyển sang đấu tranh vũ trang trong kháng chiến chống Pháp sang đấu tranh chính trị, đòi thi hành Hiệp định; rồi phát triển lên đấu tranh chính trị có vũ trang tự vệ, chống chính sách khủng bố của kẻ thù. + Phong trào đấu tranh chính trị có vũ trang tự vệ chống những chính sách “tố cộng”, “diệt cộng”, chống đạo Luật 10/59 của quần chúng nhân dân ngày càng phát triển mạnh mẽ. + Qua thực tiễn đấu tranh, lực lượng chính trị được bảo tồn và phát triển, lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng được xây dựng lại ở nhiều nơi. Đó là điều kiện để tiếp tục đưa cách mạng tiến lên.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 6 - Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1/1959): + Hội nghị đã xác định nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, khẳng định con đường cách mạng bạo lực để đánh đổ chính quyền của đế quốc Mĩ và tay sai. Hội nghị nhấn mạnh: ngoài con đường dùng bạo lực cách mạng, nhân dân miền Nam không còn con đường nào khác. Phương hướng cơ bản của cách mạng miền Nam là: “dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang đế đánh đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thiết lập chính quyền cách mạng của nhân dân”. + Với trận địa và lực lượng được bảo tồn, dưới ánh sáng của Nghị quyết 15 của Đảng, phong trào từ chổ lẻ tẻ ở từng địa phương như cuộc nổi dậy ở Vĩnh Thạnh (Bình Định), Bắc Ái (Ninh thuận) tháng 2/1959, Trà Bồng (Quảng Ngãi) tháng 8/1959, lan rộng khắp miền Nam thành cao trào cách mạng. * Kết quả và ý nghĩa: - Kết quả: + Hệ thống kìm kẹp của địch ở nhiều thôn xã bị phá vỡ từng mảng. Tính đến cuối năm 1960, tại các tỉnh Nam Bộ, cách mạng đã làm chủ hơn 600 xã trong tổng số 1.298 xã, trong đó có 116 xã hoàn toàn giải phóng. Ở vùng núi các tỉnh Trung Trung Bộ, có 904 thôn trong tổng số 3.829 thôn được giải phóng. Ở Tây Nguyên có tới 3.200 thôn trong tổng số 5.721 thôn được giải phóng. + Thắng lợi của phong trào “Đồng Khởi” mở ra vùng giải phóng rộng lớn, liên hoàn, dẫn đến sự ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 20/12/1960 do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch. Mặt trận chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo và nhân sĩ yêu nước đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mĩ và tập đoàn Ngô Đình Diệm. - Ý nghĩa: + Phong trào “Đồng khởi” đã giáng một đòn nặng nề vào chính sách thực dân mới của Mĩ ở miền Nam, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh một phía” của chúng, phá vỡ từng mảng hệ thống chính quyền địch ở nông thôn. + Phong trào “Đồng khởi” thắng lợi đánh dấu bước ngoặt, bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam, chuyển cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, chấm dứt thời kì ổn định tạm thời của chế độ thực dân mới của Mĩ ở miền Nam, mở ra thời kì khủng hoảng của chế độ Sài Gòn. + Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược đầu tiên của cách mạng miền Nam, là thất bại có ý nghĩa chiến lược đầu tiên của Mĩ – Diệm, tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Câu 4: Bằng những sự kiện lịch sử, hãy chứng minh phong trào “Đồng khởi” (1959 – 1960) đã chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. - Mĩ xâm lược miền Nam Việt Nam, dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm, âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ. Thực hiện chính sách “tố cộng”, “diệt cộng”, “luật 10/59”, “cải cách điền địa”, lập “khu dinh điền”, “khu trù mật”, Mĩ – Diệm đã kìm kẹp, bóc lột và đàn áp khốc liệt, phong trào cách mạng miền Nam bị tổn thất nặng nề. - Cách mạng miền Nam lúc này chuyển từ đấu tranh vũ trang chống Pháp sang đấu tranh chính trị chống Mĩ – Diệm để cũng cố hòa bình, giữ gìn lực lượng cách mạng. Phong trào đấu tranh của quần chúng chống “tố cộng”, “diệt cộng”, đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, đòi hòa bình, dân chủ đã đi từ đấu tranh chính trị đến kết hợp với vũ trang tự vệ. - Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền bằng lực lượng quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang. - Phong trào “Đồng khởi” rộng lớn, tiêu biểu là khởi nghĩa Trà Bồng và nổi dậy ở Bến Tre. Đến năm 1960 ở hàng trăm xã thôn chính quyền địch tan rã, chính quyền cách mạng được hình thành. - Phong trào “Đồng khởi” đã đưa tới sự ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960), thành lập Trung ương cục miền Nam, Quân giải phóng miền Nam. “Đồng khởi” đã làm lung lay chính quyền Ngô Đình Diệm và giáng một đòn nặng nề vào chính sách thực dân kiểu mới của Mĩ.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 7 - Như vậy, cách mạng miền Nam đã đi từ đấu tranh chính trị giữ gìn lực lượng tiến dần lên đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang, khởi nghĩa giành chính quyền làm chủ, phát triển thành chiến tranh cách mạng. Câu 5: Trình bày hoàn cảnh lịch sử, nội dung cơ bản và ý nghĩa Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (9/1960). a) Hoàn cảnh lịch sử: - Trên thế giới, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh, phong trào giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ phát triển mạnh mẽ. Chủ nghĩa tư bản, đứng đầu là Mĩ, đang ra sức thực hiện âm mưu ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội. - Trong nước, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, miền Bắc được giải phóng. Trong 6 năm, miền Bắc đã gặt hái được nhiều thành tựu trong công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế; hoàn thành công cuộc cải cách ruộng đất; giành được những thắng lợi trong nhiệm vụ cải tạo quan hệ sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội. - Ở miền Nam, phong trào “Đồng khởi” đã nổ ra và thắng lợi, cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. - Trong bối cảnh đó, Đảng ta tiến hành đại hội để kiện toàn tổ chức và đề ra đường lối cho cách mạng cả nước và cách mạng mỗi miền. - Đại hội họp từ ngày 5 đến ngày 10/9/1960 tại Hà Nội. b) Nội dung đại hội - Đại hội đề ra nhiệm vụ chiến lược của cách mạng cả nước và nhiệm vụ của cách mạng từng miền; chỉ rõ vị trí, vai trò của cách mạng từng miền, mối quan hệ giữa cách mạng hai miền. + Xác định nhiệm vụ chiến lược chung của cách mạng cả nước: Tăng cường đoàn kết dân tộc, quyết tâm đấu tranh giữ vững hòa bình; đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam; tiến tới hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình thế giới. + Xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng mỗi miền: Miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tiế hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng miền Bắc vững mạnh tạo cơ sở cho đấu tranh thống nhất đất nước. Miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, lật đỗ ách thống trị của đế quốc Mĩ và tay sai, nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất đất nước. + Xác định vai trò cách mạng của mỗi miền và mối quan hệ giữa cách mạng hai miền: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của cách mạng cả nước. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam. Cách mạng hai miền có mối quan hệ mật thiết, gắn bó và tác động lẫn nhau và đều nhằm thực hiện một nhiệm vụ chiến lược chung là giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất đất nước. - Đại hội thông qua Báo cáo chính trị, Báo cáo sửa đổi Điều lệ Đảng và thông qua kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965) nhằm xây dựng bước đầu cơ sở vật chất – kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa. - Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương mới của Đảng, bầu Bộ Chính trị. Hồ Chí Minh được bầu lại làm Chủ tịch Đảng, Lê Duẩn được bầu giữ chức Bí thư thứ nhất của Đảng. c) Ý nghĩa của Đại hội - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng là “nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng và toàn dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà”. - Nghị quyết của Đại hội đã soi sáng những vấn đề chủ yếu của cách mạng Việt Nam cả 2 miền Nam, Bắc; hướng dẫn và thúc đẩy nhân dân hăng hái đấu tranh giành thắng lợi trong sự nghiệp cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam; thực hiện hòa bình thống nhất đất nước.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 8 Câu 6: Tại sao Đảng Lao động Việt Nam chủ trương tiến hành đồng thời ở hai miền Bắc, Nam hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau trong thời kỳ 1954 - 1975? Nêu nội dung và ý nghĩa của chủ trương đó. a) Đảng Lao động Việt Nam chủ trương tiến hành đồng thời ở hai miền Bắc, Nam hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau trong thời kỳ 1954 – 1975 vì: - Tình hình Việt Nam sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương : + Ngày 10-10-1954, quân ta tiến vào tiếp quản Hà Nội. + Tháng 5-1955, Pháp rút khỏi đảo Cát Bà (Hải Phòng), miền Bắc hoàn toàn giải phóng. + Giữa tháng 5-1956, Pháp rút khỏi miền Nam khi chưa thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam - Bắc. + Ở miền Nam, Mĩ thay Pháp và đưa Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, thực hiện âm mưu chia cắt Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới...Với âm mưu của Mĩ và chính quyền Ngô Đình Diệm nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền - Xuất phát từ đặc điểm cách mạng trong tình hình đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau, cách mạng ở mỗi miền có yêu cầu riêng, vì vậy Đảng Lao động Việt Nam đề ra chủ trương trên. b) Nội dung chủ trương đó là: - Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và các mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Mỗi chiến lược có những nhiệm vụ cụ thể : + Hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế ở miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội... là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. + Chống đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc cho nhân dân trong thời kì cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà là những nhiệm vụ chiến lược của cách mạng miền Nam. + Miền Bắc là hậu phương có vai trò quyết định nhất, miền Nam là tiền tuyến có vai trò quyết định trực tiếp. Cách mạng hai miền có quan hệ gắn bó với nhau, phối hợp nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển.... c) Ý nghĩa của những chủ trương đó: - Chủ trương sát hợp và đúng đắn với hoàn cảnh từng miền, vì vậy có tác dụng thúc đẩy cách mạng ở mỗi miền phát triển. - Chủ trương đó đã phát huy khả năng cách mạng ở mỗi miền và sức mạnh tổng hợp của cách mạng hai miền trong cuộc đấu tranh chung và là nhân tố quyết định trong mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975. Câu 7: Trình bày và nhận xét nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam được đề ra tại Hội nghị thành lập Đảng (1 - 1930), Đại hội Đảng toàn quốc lần II (2 - 1951) và Đại hội Đảng toàn quốc lần III (9 - 1960). a) Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1 - 1930) thông qua Cương lĩnh chính trị do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo: - Nhiệm vụ: Đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến và tư sản phản cách mạng làm cho nước Việt Nam độc lập tự do, lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông, tịch thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc, tịch thu ruộng đất của đế quốc và bọn phản cách mạng chia cho dân cày nghèo. - Nhận xét: Cương lĩnh chính trị đã giải quyết hai nhiệm vụ cơ bản và cấp thiết của cách mạng Việt Nam đó là giải phóng dân tộc và cách mạng ruộng đất. b) Đại hội Đảng toàn quốc lần II vào tháng 2 – 1951: - Nêu rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là tiến hành Cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân nhân: đánh đuổi đế quốc, tay sai, giành độc lập hoàn toàn cho dân tộc; xóa bỏ những tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng; phát triển chế độ dân chủ nhân dân, xây dựng cơ sở cho CNXH ở Việt Nam. - Nhận xét: Đại hội đã quyết định những vấn đề quan trọng liên quan đến nhiệm vụ chiến lược cách mạng Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp, đánh đấu bước phát triển mới trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta, là Đại hội đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến thắng lợi.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 9 c) Đại hội Đảng toàn quốc lần III vào tháng 9 – 1960: - Đại hội đề ra nhiệm vụ chiến lược cho cách mạng cả nước và từng miền trong kháng chiến chống Mỹ: Miền Bắc tiến hành cách mạng XHCN, là hậu phương lớn, có vai trò quyết định nhất đối với sự nghiệp cách mạng cả nước. Miền Nam tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, là tiền tuyến lớn, có vai trò quyết định trực tiếp đối với công cuộc thống nhất Tổ quốc. Cách mạng hai miền có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau nhằm hoàn thành Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc. - Nhận xét: Đại hội đã đề ra nhiệm vụ của cách mạng cả nước và nhiệm vụ cách mạng từng miền; chỉ rõ vị trí, vai trò của cách mạng hai miền Nam - Bắc, mối quan hệ giữa cách mạng hai miền. Là Đại hội đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đi đến thắng lợi. Câu 8: Nêu âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mĩ trong việc tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam (1961 – 1965). Trình bày những thắng lợi của quân và dân ta ở miền Nam từng bước đánh bại Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mĩ (1961 – 1965). a) Âm mưu và thủ đoạn * Âm mưu - Từ cuối năm 1960, hình thức thống trị bằng chính quyền tay sai độc tài Ngô Đình Diệm bị thất bại, đế quốc Mĩ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961 – 1965). - “Chiến tranh đặc biệt” là một hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới, được tiến hành bằng quân đội tay sai, dưới sự chỉ huy của hệ thống “cố vấn” Mĩ, dựa vào vũ khí, trang bị kĩ thuật, phương tiện chiến tranh của Mĩ, nhằm chống lại các lực lượng cách mạng và nhân dân ta; đồng thời, còn nhằm rút kinh nghiệm để đàn áp phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. - Âm mưu cơ bản của Mĩ trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” là “dùng người Việt đánh người Việt”; nhằm chia cắt lâu dài nước Việt Nam; biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự; làm bàn đạp tiến công miền Bắc và ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội xuống khu vực Đông Nam Á. * Thủ đoạn: - Để tiến hành “Chiến tranh đặc biệt”, Mĩ đề ra “Kế hoạch Xtalây – Taylo” với nội dung chủ yếu là bình định miền Nam trong vòng 18 tháng bằng một loạt các thủ đoạn: + Tăng cường viện trợ quân sự cho chính quyền Ngô Đình Diệm, tăng nhanh lực lượng quân đội Sài Gòn. Viện trợ quân sự của Mĩ tăng gấp đôi. Bộ Chỉ huy quân sự Mĩ (MACV) được thành lập tại Sài Gòn ngày 8/2/1962 thay cho Đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mĩ (MAAG) thành lập năm 1950 để trực tiếp chỉ huy cuộc chiến tranh ở Việt Nam. + Tiến hành dồn dân lập “ấp chiến lược”. “Ấp chiến lược” (sau đó gọi là “ấp tân sinh”) được Mĩ và chính quyền Sài Gòn coi như “xương sống” của “Chiến tranh đặc biệt” và nâng lên thành “quốc sách”. Chúng coi việc lập “ấp chiến lược” như một cuộc chiến tranh tổng lực nhằm đẩy lực lượng cách mạng ra khỏi các xã ấp, tách dân khỏi cách mạng, tiến tới nắm dân, thực hiện chương trình “bình định” miền Nam. Chúng dự định dồn 10 triệu nông dân vào 16.000 ấp trong tổng số 17.000 ấp toàn miền Nam. + Sử dụng phổ biến các chiến thuật mới “trực thăng vận”, “thiết xa vận”. + Được Mĩ hỗ trợ chiến đấu và chỉ huy bằng hệ thống cố vấn, quân đội Sài Gòn liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng, tiến hành những hoạt động phá hoại miền Bắc, phong toả biên giới, vùng biển nhằm ngăn chặn chi viện của hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam. - Sau khi lên làm Tổng thống (thay G. Kennơđi bị ám sát ngày 22/11/1963). L. Giônxơn quyết định đẩy mạnh hơn nữa “Chiến tranh đặc biệt”. Kế hoạch Giônxơn – Mác Namara thay thế kế hoạch Xtalây – Taylo được vạch ra nhằm tăng cường viện trợ quân sự, ổn định chính quyền Sài Gòn, bình định miền Nam có trọng điểm trong 2 năm (1964 – 1965). b) Những thắng lợi của quân và dân ta ở miền Nam Việt Nam - Dưới ngọn cờ đoàn kết cứu nước của Mặt trận Dân tộc giải phóng do Đảng lãnh đạo, Quân giải phóng miền Nam cùng với nhân dân đẩy mạnh đấu tranh chống Mĩ và chính quyền Sài Gòn, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, nổi dậy với tiến công trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị), tiến công địch bằng cả ba mũi chính trị, quân sự, binh vận. - Trên mặt trận chống, phá “ấp chiến lược”:
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 10 + Cuộc đấu tranh chống và phá “ấp chiến lược” diễn ra gay go, quyết liệt giữa ta và địch, có hàng chục triệu lượt người tham gia phá “ấp chiến lược” đi đôi với xây dựng làng chiến đấu. Với quyết tâm “một tấc không đi, một li không rời”, nhân dân miền Nam kiên quyết bám đất, giữ làng, phá thế kìm kẹp của địch. + Mĩ và chính quyền Sài Gòn dù tập trung sức vào dồn dân lập “ấp chiến lược” nhưng cũng chỉ thực hiện được một phần kế hoạch (gần một nửa trong tổng số 16 000 ấp). Đến cuối năm 1962, cách mạng kiểm soát trên một nửa tổng số ấp, với gần 70% nông dân. + Từ cuối năm 1963, từng mảng lớn “ấp chiến lược” của địch đã bị phá vỡ. Cuối năm 1964, địch chỉ còn kiểm soát được 3 300 ấp (khoảng 1/5 số ấp dự kiến), tới tháng 6/1965, giảm xuống mức thấp nhất, chỉ còn kiểm soát 2 200 ấp. “Ấp chiến lược” – xương sống của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” – đã bị phá sản về cơ bản. Vùng giải phóng ngày càng mở rộng, trở thành hậu phương trực tiếp của cách mạng. Tại vùng giải phóng, chính quyền cách mạng các cấp được thành lập, ruộng đất của Việt gian bị tịch thu được chia cho dân cày nghèo. - Phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị: + Phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân trong các đô thị, cả ở những thành phố lớn như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, có những bước phát triển mạnh mẽ, nổi bật là đấu tranh của các tín đồ Phật giáo, của “đội quân tóc dài” chống lại sự đàn áp của chính quyền Diệm. + Ngày 8/5/1963, hai vạn tăng ni, Phật tử ở Huế biểu tình phản đối chính quyền Sài Gòn cấm treo cờ Phật. Một làn sóng ủng hộ phong trào Phật tử ở Huế lan rộng trong cả nước, nhất là ở Sài Gòn, Đà Nẵng. Sự kiện Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn để phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm đã gây xúc động mạnh trong nhân dân. Ngày 16/6/1963, 70 vạn quần chúng Sài Gòn xuống đường biểu tình chống Mĩ – Diệm, làm rung chuyển cả thành phố. + Phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị cùng với phong trào phá “ấp chiến lược” ở nông thôn và những đòn tiến công liên tiếp của các lực lượng vũ trang cách mạng đã đẩy nhanh quá trình suy sụp của chính quyền Ngô Đình Diệm. Ngày 1/11/1963, Mĩ giật dây các tướng lĩnh trong quân đội Sài Gòn, do Dương Văn Minh cầm đầu, làm cuộc đảo chính giết anh em Diệm – Nhu, với hi vọng ổn định tình hình để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược. Nhưng cuộc đảo chính đã làm cho chính quyền Sài Gòn lâm vào khủng hoảng triền miên. Chỉ trong vòng 18 tháng sau đó, liên tục diễn ra trên 10 cuộc đảo chính. - Trên mặt trận quân sự: + Trong những năm 1961 – 1962, Quân giải phóng đã đẩy lùi nhiều cuộc càn quét, đồng thời với tiến công tiêu diệt nhiều đồn bốt lẻ của địch. Năm 1962, quân dân ta đã đánh nhiều cuộc càn quét lớn của địch vào chiến khu D, căn cứ U Minh, Tây Ninh, phía Bắc và Tây Bắc Sài Gòn. + Thắng lợi đầu tiên trên mặt trận quân sự là chiến thắng Ấp Bắc. Ngày 2/1/1963, hơn 2.000 quân Sài Gòn (được cố vấn Mĩ chỉ huy, có cả lính dù cùng với xe tăng, xe bọc thép, tàu chiến, máy bay lên thẳng) tiến công vào Ấp Bắc (xã Tân Phú – Cai Lậy – Mĩ Tho). Bám sát trận địa, chờ khi địch tiến sát, Quân giải phóng mới nổ súng. Suốt một ngày chiến đấu, tuy lực lượng của Quân giải phóng bằng 1/10 lực lượng của địch, nhưng các mũi tiến công của địch từ nhiều hướng vào Ấp Bắc đều bị bẻ gãy. Ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 450 địch (có 19 cố vấn Mĩ), bắn rơi 8 máy bay, bắn cháy 13 xe bọc thép M.113. + Chiến thắng Ấp Bắc đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam, đã bước đầu đánh bại các chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của địch, đánh sụp lòng tin của quân đội Sài Gòn vào trang bị vũ khí hiện đại của Mĩ. Chiến thắng này cũng chứng minh quân dân miền Nam hoàn toàn có khả năng đánh bại “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ và chính quyền Sài Gòn. Sau trận Ấp Bắc, phong trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công” dấy lên khắp miền Nam. + Sau chiến thắng Ấp Bắc, Quân giải phóng nhanh chóng trưởng thành và tiến lên đánh những trận có quy mô lớn. Cuối năm 1964, quân và dân Đông Nam Bộ mở chiến dịch tiến công đông – xuân 1964 – 1965 với trận mở màn đánh vào ấp Bình Giã. + Ngày 2/12/1964, Quân giải phóng mở trận tiến công vào ấp Bình Giã (Bà Rịa). Trong hơn 1 tháng, Quân giải phóng đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.700 địch (trong đó có 60 cố vấn Mĩ), tịch thu và phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. + Thừa thắng sau chiến thắng Bình Giã, Quân giải phóng và nhân dân miền Nam đẩy mạnh tiến công xuân – hè 1965 và giành nhiều thắng lợi trong các chiến dịch An Lão (Bình Định), Ba Gia (Quảng Ngãi), Đồng Xoài (Bình Phước). Từng đơn vị lớn của địch bị tiêu diệt gọn hoặc thiệt hại
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 11 nặng. Quân đội Sài Gòn, lực lượng nòng cốt của “Chiến tranh đặc biệt”, không còn đủ sức đương đầu với các cuộc tiến công lớn của Quân giải phóng và đứng trước nguy cơ tan rã. Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” thất bại hoàn toàn. - Kết quả, ý nghĩa: + Những thắng lợi lớn của quân dân miền Nam đã làm cho chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ đứng trước nguy cơ bị phá sản hoàn toàn. Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược lần thứ hai của quân dân miền Nam và cũng là thất bại có ý nghĩa chiến lược lần thứ hai của Mĩ và chính quyền Sài Gòn, buộc địch phải thay đổi chiến lược quân sự, chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. + Thắng lợi này một lần nữa chứng minh đường lối của Đảng ta là hoàn toàn sát hợp với thực tiễn miền Nam, là cơ sở tạo cho cách mạng miền Nam tiến lên đập tan những chiến lược chiến tranh mới của đế quốc Mĩ. Bài 2. NHÂN DÂN HAI MIỀN TRỰC TIẾP CHIẾN ĐẤU CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC. NHÂN DÂN MIỀN BẮC VỪA CHIẾN ĐẤU VỪA SẢN XUẤT (1965 – 1973) A. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ ở miền Nam a. Bối cảnh lịch sử Giữa 1965, trước nguy cơ chiến lược “chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, Mĩ phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng phá hoại ra miền Bắc. b. Khái niệm - “Chiến tranh cụ bộ”: là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Mĩ, được tiến hành bằng lực lượng viễn chinh Mĩ là chủ yếu cùng quân đồng minh của Mĩ và quân đội Sài Gòn với các phương tiện chiến tranh hiện đại nhằm tiêu diệt phong trào cách mạng miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ chiến tranh của Mĩ ở Đông Dương và Đông Nam Á. - Âm mưu cơ bản: Nhanh chống tạo ra ưu thế về binh lực và hỏa lực có thể áp đảo quân chủ lự của ta bằng chiến lược quân sự mới “tìm diệt”, cố giành lại thế chủ động trên chiến trường đẩy lực lượng vũ trang của ta trở về phòng ngự, buộc ta phải phân tán đánh nhỏ, hoặc rút về biên giới, làm cho cuộc chiến tranh tàn lụi dần. c. Thủ đoạn - Mĩ ồ ạt đưa quân vào miền Nam và tăng cường phát triển ngụy quân. - Với ưu thế về quân sự với quân số đông, vũ khí hiện đại, Mĩ cho mở cuộc hành quân “tìm diệt” vào Vạn Tường (Quãng Ngãi)và 2 cuộc phản công 2 mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967 bằng hàng loạt cuộc hành quần “tìm diệt” và “bình định” vào vùng “Đất thánh của Việt cộng”. - Mĩ dùng không quân và hải quân đánh phá,nhằm đe dọa tinh thần, ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho miền Nam. e. Quân dân miền Nam chiến đấu chống “Chiến tranh cục bộ” Quân dân ta chiến đấu chống “chiến tranh cục bộ” bằng sức mạnh cả dân tộc, của tiền tuyến và hậu phương với ý chí quyết chiến quyết thắng giặc Mĩ xâm lược. * trên mặt trận quân sự: Ø Trận Vạn Tường (Quãng Ngãi): + Mờ sang ngày 18/08/1965, Mĩ huy động 9000, 105 xe tăng và xe bọc thép, 100 máy bay lên thẳng, 70 máy bay phản lực chiến đấu, 6 tàu chiến mở cuộc hành quân tấn công vào thôn Vạn Tường nhằm tiêu diệt một đơn vị chủ lực của ta. + Kết quả: Sau 1 ngày chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến 900 địch, 22 xe tăng, 13 máy bay và quân ta rút lui một cách an toàn. + Ý nghĩa: Vạn Tường được coi là “Ấp Bắc” đối với Mỹ, mở đầu cho cao trào “tìm Mĩ mà đánh, lùng Ngụy mà diệt” trên khắp miền Nam. Đồng thời chứng minh quân dân ta có đủ khả năng để đánh bại chiến tranh cục bộ của Mĩ (mở ra khả năng đánh bại Chiến tranh cục bộ của Mĩ). Ø Mùa khô thứ nhất ( 1965 – 1966): + Mĩ huy động 72 vạn quân (22 vạn Mỹ và đồng minh), mở 450 cuộc hành quân, trong đó có 5 cuộc hành quân “tìm diệt” lớn, nhắm vào hai hướng chiến lược chính: Liên khu V và Đông Nam Bộ với mục tiêu đánh bại chủ lực quân giải phóng.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 12 + Ta tấn công khắp nơi, giành nhiều thắng lợi, loại khỏi vòng chiến 104.000 địch (có 45.500 Mĩ và đồng minh), bắn rơi 1430 máy bay. Ø Mùa khô thứ hai (1966 – 1967): + Mĩ huy động 98 vạn quân (44 vạn Mỹ và đồng minh), mở 895 cuộc hành quân, có 3 cuộc hành quân “bình định” và “tìm diệt” lớn, tiêu biểu là Gian-xơn Xi-ti đánh vào căn cứ Dương Minh Châu (Bắc Tây Ninh) nhằm tiêu diệt quân chủ lực và cơ quan đầu não của ta. + Ta tấn công khắp nơi, đập tan cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” của Mĩ, loại khỏi vòng chiến 151.000 địch (73.500 Mỹ và đồng minh), bắn rơi 1231 máy bay. - Ý nghĩa 2 mùa khô: Làm thất bài âm mưu của Mĩ - chính quyền Sài Gòn trong việc tiêu diệt quân chủ lực và cơ quan đầu não của ta. Tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta mở Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968. Ø Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968: + Hoàn cảnh lịch sử: Bước vào mùa xuân năm 1968, xuất phát từ nhận định so sánh lực lượng thay đổi có lợi cho ta sau hai mùa khô. Đồng thời, lợi dung mâu thuẫn ở Mĩ trong năm bầu cử tổng thống (1968), ta chủ trương mở một cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, trọng tâm là đô thị. + Mục tiêu: Tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân viễn chinh Mĩ, quân đồng minh của Mĩ; Đánh đòn mạnh vào chính quyền và quân đội Sài Gòn để giành chính quyền về tay nhân dân; buộc Mĩ phải tiến hành đàm phán, rút quân về nước. + Diễn biến: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy diễn ra trong 3 đợt: - Đợt 1: từ 30/1/1968 đến 25/02/1968: Ta đồng loạt tấn công 37/44 tỉnh, 4/6 đô thị, 64/242 quận. ü Tại Sài Gòn: Ta tấn công các vị trí đầu não của địch (Dinh Độc lập, Toà đại sứ Mĩ, Bộ Tổng tham mưu Ngụy, Tổng nha cảnh sát Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất, đài phát thanh ). ü Kết quả: Ta loại khỏi vòng chiến 147.000 địch (43000 Mĩ), phá hủy khối lượng lớn vật chất và các phương tiện chiến tranh của địch. - Đợt 2 (tháng 5, 6) và đợt 3 (tháng 8, 9): lực lượng của ta gặp nhiều khó khăn và tổn thất vì địch còn đông, cơ sở thành thị mạnh - Nguyên nhân: Do ta “chủ quan trong đánh giá tình hình, đề ra yêu cầu chưa sát với thực tế , không kịp thời kiểm điểm rút kinh nghiệm để đánh giá tình hình và có chủ trương chuyển hướng kịp thời, chậm thấy những cố gắng mới của địch và khó khăn lúc đó của ta”. + Ý nghĩa: Làm lung lay ý chí xâm lược của Mĩ. Buộc Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hoá” chiến tranh (tức thừa nhận thất bại chiến tranh cục bộ) và chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận đến bàn hội nghị Pari đàm phán về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam. * trên mặt trận chống phá bình định: - Phong trào phá “ấp chiến lược” tiếp tục diễn ra trên toàn miền Nam. Nhiều “ấp chiến lược” của Mĩ – Ngụy bị phá vỡ, các vùng giải phóng không ngừng được mở rộng. - Các tăng ni phật tử, học sinh, sinh viên và nhân dân lao động tiếp tục xuống đường đấu tranh đòi Mĩ rút quân về nước, đòi tự do dân chủ. * Trân mặt trận chính trị: + Uy tín Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam lên cao. Cương lĩnh của mặt trận được 41 nước, 12 tổ chức quốc tế và 5 tổ chức khu vực ủng hộ. 2. “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh”của Mĩ ở miền Nam a. Bối cảnh lịch sử - Đầu năm 1969, Tổng thống Níchxơn vừa lên nắm chính quyền đã đề ra chiến lược toàn cầu “Ngăn đe thực tế”. - Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mỹ phải chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh”. b. Khái niệm - “Việt Nam hóa chiến tranh”: là hình thức chiến tranh thực dân kiểu mới của Mĩ được tiến hành bằng quân đội Sài Gòn là chủ yếu, có sự phối hợp của hỏa lực và không quân Mĩ, vẫn do Mĩ chỉ huy bằng hệ thống cố vấn, nhằm tiêu diệt phong trào cách mạng miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ chiến tranh của Mĩ ở Đông Dương và Đông Nam Á.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 13 - Âm mưu cơ bản: vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt”. Mở rộng xâm lược Lào và Campuchia, thực hiện âm mưu “Dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương”. c. Thủ đoạn - Mĩ tăng viện trợ giúp quân số ngụy tăng lên 1 triệu người cùng với trang thiết bị hiện đại để quân ngụy tự gánh vác được chiến tranh. - Lợi dụng mâu thuẫn Trung - Xô, thoả hiệp với Trung Quốc, hoà hoãn với Liên Xô nhằm hạn chế sự giúp đỡ của các nước đó đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta. - Từ tháng 4/1972, Mĩ tăng cường dùng không quân đánh phá miền Bắc, nhằm đe dọa và và uy hiếp tinh thần, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, đồng thời ép ta phải kí Hiệp định Pari theo những điều khoản do Mĩ đưa ra. e. Chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến ttranh” của Mĩ Chiến đấu chống “Việt Nam hóa chiến tranh” là chống lại cuộc chiến tranh toàn diện được tăng cường và mở rộng ra toàn Đông Dương. Ta vừa chiến đấu trên chiến trường vừa đấu tranh trên bàn đàm phán với địch. * Thắng lợi về chính trị, ngoại giao + Ngày 6/6/1969, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành lập, được 23 nước công nhận, 21 nước đặt quan hệ ngoại giao. + Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, đó là tổn thất vô cùng to lớn đối với dân tộc ta, đối với cách mạng nước ta, cả nước quyết biến nổi đau thành hành động cách mạng quyết tâm thực hiện thắng lợi di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. + Ngày 24 đến 25/4/1970: Hội nghị cấp cao 3 nước Đông Dương họp nhằm đối phó việc Mĩ chỉ đạo bị tay sai làm đảo chính lật đổ Chính phủ trung lập của Xihanúc (18/3/1970) để chuẩn bị cho bước phiêu lưu quân sự mới; biểu thị quyết tâm đoàn kết chống Mỹ. * Trên mặt trận chống “bình định” và phá “ấp chiến lược” + P hong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân và sinh viên, học sinh nổ ra liên tục. + Quần chúng nổi dậy phá “Ấp chiến lược”, chống “bình định”. Đầu năm 1971, cách mạng làm chủ thêm 3600 ấp với 3 triệu dân. * Thắng lợi quân sự + Từ ngày 30/4 – 30/6/1970, quân dân Việt – Campuchia đập tan cuộc hành quân xâm lược Campuchia của 10 vạn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến 17.000 địch, giải phóng 5 tỉnh đông bắc với 4,5 triệu dân. + Từ 12/2 đến 23/3/1971, quân dân Việt – Lào đập tan cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của 4,5 vạn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến 22.000 địch, đuổi hết quân Mĩ và quân đội Sài Gòn khỏi đường 9 – Nam Lào, giữ vững hành lang chiến lược của cách mạng Đông Dương. Ø Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 - Hoàn cảnh lịch sử: ü Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mĩ chuyển sang chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương, thực hiện chiến lược “Đông Dương hoá chiến tranh”. ü Mĩ thoả hiệp với Trung Quốc, hoà hoãn với Liên Xô nhằm hạn chế sự giúp đỡ của các nước này đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta. ü Miền Bắc khôi phục kinh tế, bảo đảm tiếp nhận tốt hàng viện trợ từ bên ngoài và chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam. ü Từ năm 1969 đến năm 1971, quân dân ta ở miền Nam phối hợp với quân dân Lào và Campuchia, đẩy mạnh đấu tranh, giành nhiều thắng lợi trên ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao.u - Diễn biến và kết quả: ü Ngày 30/3/1972, ta bất ngờ mở cuộc tiến công chiến lược đánh vào Quảng Trị, lấy Quảng Trị làm hướng tấn công chủ yếu, rồi phát triển rộng khắp miền Nam, kéo dài suốt năm 1972.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 14 ü Kết quả: đến cuối 6/1972, quân taddax chọc thủng 3 phòng tuyên mạnh nhất của địch là Quảng Trị, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 20 vạn quân Sài Gòn, giải phóng vùng đất đai rộng lớn. ü Sau đó, địch phản công mạnh, gây cho ta nhiều thiệt hại. Mỹ tiến hành trở lại chiến tranh phá hoại miền Bắc từ ngày 6/4/1972. - Ý nghĩa: ü Mở ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mĩ, giáng đòn mạnh mẽ vào quân nguỵ và quốc sách “bình định” ü Buộc Mỹ phải tuyên bố “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến tranh tức thừa nhận sự thất bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. 3. Hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mĩ a. Cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất (5/8/1964 – 1/11/1968) * Âm mưu - Do thất bại liên tiếp trong âm mưu xâm lược miền Nam, từ đầu năm 1965, Mĩ thực hiện chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta, nhằm phá hoại tiềm lực kinh tế, quốc phòng – an ninh, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. - Ngăn chặn nguồn chi viện từ ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam. - Uy hiếp tinh thần, làm lung lay ý chí chống Mĩ của nhân dân ta. * Thủ đoạn, hành động - Tháng 8/1964, Mĩ dựng nên “Sự kiện vịnh Bắc Bộ”, rồi lấy cớ “trả đũa” quân giải phóng tiến công Mĩ ở Plâyku (2/1965). Sau đó, Mĩ chính thức gây ra cuộc chiến tranh phá hoại miền bắc lần thứ nhất. - Mĩ đã huy động một lực lượng không quân và hải quân rất lớn, gồm hàng nghìn máy bay tối tân thuộc 50 loại khác nhau, cả những loại mới nhất, như F111, B52... và các loại vũ khí hiện đại. - Không quân và hải quân Mĩ tập trung đánh vào các mục tiêu quân sự, các đầu mối giao thông, các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, các công trình thuỷ lợi, khu đông dân. Chúng đánh cả trường học, nhà trẻ, bệnh viện, khu an dưỡng, đền, chùa, nhà thờ. - Máy bay, tàu chiến Mĩ ném bom, bắn phá liên tục, khắp mọi nơi, mọi lúc, trong mọi thời tiết, với cường độ ngày càng tăng. Trung bình mỗi ngày có 300 lần chiếc máy bay Mĩ đi gây tội ác với 1.600 tấn bom đạn trút xuống các làng mạc, phố xá. Bom đạn của chúng đã cướp đi biết bao sinh mạng và gây thương tích cho bao nhiêu người khác. Bom đạn của chúng đã tàn phá biết bao của cải, cơ sở kinh tế, công trình văn hoá, giáo dục, y tế mà nhân dân ta đã tạo nên trong hơn 10 năm trước đó. b. Cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai (1972 – 1973) * Âm mưu - Do thất bại liên tiếp trong các chiến lược chiến tranh, sau một thời gian tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, ngày 16/4/1972, Tổng thống Mĩ Nich-xơn chính thức phê chuẩn kế hoạch dùng không quân phá hoại miền Bắc nước ta lần thứ hai. Đánh phá miền Bắc lần này, Mĩ tiếp tục thực hiện âm mưu phá tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh và phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; ngăn chặn nguồn chi viện từ ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam, uy hiếp tinh thần, làm lung lay ý chí chống Mĩ của nhân dân ta và nhằm cứu vãn sự thất bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh”. - Đặc biệt, Mĩ đã phong tỏa cảng Hải Phòng và tổ chức nhiều cuộc tập kích chiến lược bằng đường không và Hà Nội, Hải phòng cuối tháng 12/1972, nhằm hủy diệt hai thành phố này, gây thiệt hại cho ta về kinh tế, từ đó giảm bớt sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, đồng thời hi vọng giành lấy thắng lợi quân sự quyết định, ép phía ta phải kí Hiệp định Pari theo hướng có lợi cho Mĩ. * Thủ đoạn, hành động của Mĩ - Mĩ dùng không quân và hải quân ném bom phá hoại các mục tiêu quân sự, đầu mối giao thông quan trọng, các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, công trình thủy lợi và khu dân cư đông đúc. Chúng còn cho máy bay ném bom xuống cả trường học, nhà trẻ, bệnh viện, khu an dưỡng, đền chùa, nhà thờ, - Máy bay và tàu chiến của Mĩ bắn phá liên tục mọi lúc, mọi nơi, mọi điều kiện thời tiết, cả ngày lẫn đêm với cường độ ngày càng tăng. - Cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai của Mĩ vượt xa cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất cả về quy mô, tốc độ, cường độ đánh phá, sử dụng nhiều loại máy bay hiện đại nhất
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 15 như F111 và pháo đài bay B52. Riêng cuộc tập kích chiến lược bằng không quân và hải quân vào Hà Nội và Hải Phòng 12 ngày đêm cuối năm 1972 (từ ngày 18/12 đến ngày 29/12), Mĩ ném bom xuống miền Bắc nước ta khoảng 10 vạn tấn bom, tương đương sức công phá của 5 quả bom nguyên tử mà chúng từng ném xuống Hirôxima và Nagaxaki ở Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ hai. à Như vậy, cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mĩ đẫ gây cho nhân dân ta nhiều thiệt hai về người và của, khiến không chỉ nhân dan miền Nam mà thế giới đều lên án. 4. Hiệp định Pari năm 1973 về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. a. Hoàn cảnh lịch sử - Đầu năm 1967, sau thắng lợi trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967, ta chủ trương mở thêm mặt trận tiến công ngoại giao. Mục tiêu ngoại giao trước mắt là đòi Mĩ chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, coi đó là điều kiện để đi đến thương lượng ở bàn hội nghị. - Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968 và thắng lợi của ta trong chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ I, Mĩ phải thương lượng với ta kể từ ngày 13/5/1968 giữa 2 bên là Chính phủ Hoa Kì và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. - Từ ngày 25/01/1969, Hội nghị diễn ra giữa 4 bên: Chính phủ Hoa Kì, Việt Nam Công hòa và Chính phủ Việt NamDaan chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam(sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam). - Sau nhiều cuộc tiếp xúc, lập trường hai bên quá xa nhau: Việt Nam đòi Mỹ và đồng minh rút quân, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản và quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam. Ngược lại, Mỹ đòi miền Bắc rút quân và từ chối ký dự thảo Hiệp định dù đã thỏa thuận (10/1972). - Tháng 12/1972, Mỹ mở cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B52 vào Hà Nội và Hải Phòng trong 12 ngày đêm (từ ngày 18 đến hết ngày 29/12/1972) với ý đồ buộc phía Việt Nam hý dự thảo Hiệp định do Mỹ đưa ra. Quân dân ta đã đập tan cuộc tập kích bằng không quân của Mỹ, làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ phải trở lại ký Hiệp định Pari. - Ngày 27/1/1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam được ký kết giữa 4 Bộ trưởng đại diện các Chính phủ tham dự hội nghị. b. Nội dung cơ bản của Hiệp định Pari: - Hoa Kì và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. - Hai bên ngừng bắn ở miền Nam lúc 24 giờ ngày 27/01/1973 và Hoa Kì cam kết chấm dứt mọi hoạt động chống phá miền Bắc Việt Nam. - Hoa Kì rút hết quân đội của mình và quân đồng minh trong vòng 60 ngày kể từ khi kí hiệp định, huỷ bỏ các căn cứ quân sự Mỹ, cam kết không tiếp tục can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam. - Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của họ thông qua tổng tuyển cử tự do, không có sự can thiệp của nước ngoài. - Hai bên ngừng bắn, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt. - Các bên công nhận thực tế miền Nam Việt Nam có 2 chính quyền, 2 quân đội, 2 vùng kiểm soát và 3 lực lượng chính trị (lực lượng cách mạng, lực lượng hoà bình trung lập và lực lượng chính quyền Sài Gòn). - Hoa Kì cam kết góp phần vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương, tiến tới thiết lập quan hệ mới, bình đẳng và cùng có lợi giữa hai nước. c. Ý nghĩa lịch sử: - Là một văn bản mang tính pháp lí quốc tế, là thắng lợi của sự kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao của nhân dân Việt Nam. Hiệp định Pari là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của quân dân ta trên cả 2 miền đất nước. - Mở ra bước ngoặt mới của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, tạo thời cơ thuận lợi để nhân dân ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam. - Với Hiệp định Pari, Mĩ phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta, rút hết quân về nước. - Tạo cơ sở pháp lí để nhân dân hai miền đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, chống âm mưu và hành động mới của Mĩ và chính quyền Sài Gòn.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 16 B. MỘT SỐ CÂU HỎI VẬN DỤNG Câu 1: Âm mưu và thủ đoạn của Mĩ trong việc tiến hành Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam (1965 – 1968). Trình bày những thắng lợi của quân dân ta ở miền Nam từng bước đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mĩ. a) Âm mưu và thủ đoạn * Âm mưu: - Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mĩ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam - “Chiến tranh cục bộ” là một loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới, được tiến hành bằng quân Mĩ, quân một số nước đồng minh Mĩ và quân đội Sài Gòn nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ chiến tranh của Mĩ ở Đông Dương và Đông Nam Á. - Với chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mĩ âm mưu nhanh chóng tạo ra ưu thế về binh lực và hoả lực để có thể áp đảo quân chủ lực của ta bằng chiến lược quân sự mới “tìm diệt”, cố giành lại thế chủ động trên chiến trường, đẩy lực lượng vũ trang của ta trở về phòng ngự, buộc ta phải phân tán đánh nhỏ, hoặc rút về biên giới, làm cho chiến tranh tàn lụi dần. - Quân đội Mĩ cùng quân đội các nước đồng minh của Mỹ tham gia “Chiến tranh cục bộ” còn nhằm cứu quân đội Sài Gòn khỏi bị tan rã sau thất bại trong “Chiến tranh đặc biệt”, tiếp tục giữ miền Nam dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân mới. * Thủ đoạn: - Dựa vào ưu thế quân sự, với quân số đông, vũ khí hiện đại, hoả lực mạnh, quân Mĩ vừa mới vào miền Nam đã cho mở ngay cuộc hành quân “tìm diệt” vào căn cứ của Quân giải phóng ở Vạn Tường (Quảng Ngãi). - Tiếp đó, Mĩ mở liền hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (đông – xuân) 1965 – 1966 và 1966 – 1967 bằng hàng loạt cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” vào vùng “Đất thánh Việt Cộng”, nhằm đánh vào căn cứ địa cách mạng, tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và quân chủ lực của ta. - Kết hợp với việc tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc nhằm đánh phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiêu hủy tiềm lực kinh tế - quốc phòng miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện bên ngoài vào miền Bắc và từ Bắc vào Nam, đồng thời làm lung lay quyết tâm chống Mĩ của nhân dân Việt Nam. b) Thắng lợi của quân dân ta miền Nam * Thắng lợi trên mặt trận quân sự: - Ngày 18/8/1965, quân Mĩ mở cuộc hành quân vào Vạn Tường (Quảng Ngãi). Sau một ngày chiến đấu, quân chủ lực và quân dân địa phương đã đẩy lùi được cuộc hành quân của 1 sư đoàn quân Mĩ có các phương tiện chiến tranh và vũ khí hiện đại, loại khỏi vòng chiến đấu 900 tên. Chiến thắng Vạn Tường được coi là “Ấp Bắc” đối với quân Mĩ, chứng tỏ khả năng đánh thắng chiến lược “chiến tranh cục bộ”, mở đầu cao trào “Tìm Mĩ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” trên khắp miền Nam. - Đập tan cuộc phản công chiến lược mùa khô thứ nhất (Đông – Xuân 1965 – 1966), bẻ gãy 450 cuộc hành quân, trong đó có 5 cuộc hành quân “tìm diệt” lớn của địch, nhằm vào hai hướng chiến lược chính ở Đông Nam Bộ và Liên khu V. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 104 000 địch, trong đó có 42 000 quân Mĩ và 3 500 quân đồng minh của Mĩ. - Đập tan cuộc phản công chiến lược mùa khô thứ hai (Đông – Xuân 1966 – 1967) với 895 cuộc hành quân, trong đó 3 cuộc hành quân lớn “tìm diệt” và “bình định”, lớn nhất là cuộc hành quân Gianxơn Xiti đánh vào căn cứ Dương Minh Châu (Bắc Tây Ninh), nhằm tiêu diệt quân chủ lực và cơ quan đầu não của cách mạng. Trong mùa khô thứ hai, Ta loại khỏi vòng chiến đấu 151 000 địch, trong đó có 68 000 quân Mĩ, 5 500 quân đồng minh của Mĩ. - Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, diễn ra đồng loạt trên toàn miền Nam, trọng tâm là các đô thị, mở đầu bằng cuộc tập kích chiến lược của quân chủ lực vào hầu khắp các đô thị trong đêm 30 rạng sáng 31/1/1968 (Tết Mậu Thân); làm lung lay ý chí xâm lược của Mĩ, buộc Mĩ phải tuyên bố “Phi Mĩ hóa chiến tranh”; ngừng ném bom miền Bắc và ngồi vào bàn đàm phán Pari để bàn về chấm dứt chiến tranh; mở ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. * Thắng lợi trên về chính trị, ngoại giao:
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 17 - Phong trào chống ách kìm kẹp của địch, phá từng mảng “ấp chiến lược” diễn ra mạnh mẽ ở nông thôn. Ở thành thị: công nhân, các tầng lớp nhân dân lao động, học sinh, sinh viên, Phật tử và một số sĩ quan quân đội Sài Gòn đấu tranh đòi Mĩ rút về nước, đòi tự do dân chủ. - Sau sự phát triển của phong trào đấu tranh chính trị, cùng với những thắng lợi của quân giải phóng, có thêm nhiều lực lượng mới chống Mĩ, mặt trận đoàn kết dân tộc chống Mĩ, cứu nước được mở rộng. Tổ chức liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ, hòa bình ở miền Nam Việt Nam đại diện cho các tầng lớp tri thức, tư sản dân tộc tiến bộ được thành lập. - Từ đầu năm 1967, đấu tranh ngoại giao được nâng lên thành một mặt trận, nhằm kết hợp với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, đưa cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước tiếp tục tiến lên. - Uy tín của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đến cuối năm 1967, mặt trận đã có cơ quan thường trực ở hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa và một số nước thuộc “thế giới thứ ba”. Cương lĩnh của mặt trận được 41 nước và 12 tổ chức quốc tế, 5 tổ chức khu vực lên tiếng ủng hộ. - Sau đòn tấn công bất ngờ của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), chính quyền Giôn-xơn phải tuyên bố ngừng ném bom bắn phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và bắt đầu đàm phán với Việt Nam. Câu 2: Tóm tắt cuộc đấu tranh trên mặt trận quân sự của quân dân miền Nam trong giai đoạn 1965 – 1968? Đánh giá thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968? a) Tóm tắt cuộc đấu tranh trên mặt trận quân sự của quân dân miền Nam trong giai đoạn 1965 – 1968 - Chiến đấu chống lại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” là chống lại cuộc chiến tranh xâm lược được tăng cường và mở rộng với lực lượng quân đội mạnh và vũ khí hiện đại. Nhưng với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mĩ xâm lược, được sự phối hợp và chi viện của miền Bắc, quân dân miền Nam đã anh dũng chiến đấu với các thắng lợi mở đầu ở Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi). - Ngày 18/8/1965, quân Mĩ mở cuộc hành quân vào Vạn Tường (Quảng Ngãi). Sau một ngày chiến đấu, quân chủ lực và quân dân địa phương đã đẩy lùi được cuộc hành quân của 1 sư đoàn quân Mĩ có các phương tiện chiến tranh và vũ khí hiện đại, loại khỏi vòng chiến đấu 900 tên. Chiến thắng Vạn Tường được coi là “Ấp Bắc” đối với quân Mĩ, chứng tỏ khả năng đánh thắng chiến lược “chiến tranh cục bộ”, mở đầu cao trào “Tìm Mĩ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” trên khắp miền Nam. - Đập tan cuộc phản công chiến lược mùa khô thứ nhất (Đông – Xuân 1965 – 1966), bẻ gãy 450 cuộc hành quân, trong đó có 5 cuộc hành quân “tìm diệt” lớn của địch, nhằm vào hai hướng chiến lược chính ở Đông Nam Bộ và Liên khu V. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 104 000 địch, trong đó có 42 000 quân Mĩ và 3 500 quân đồng minh của Mĩ. - Đập tan cuộc phản công chiến lược mùa khô thứ hai (Đông – Xuân 1966 – 1967) với 895 cuộc hành quân, trong đó 3 cuộc hành quân lớn “tìm diệt” và “bình định”, lớn nhất là cuộc hành quân Gianxơn Xiti đánh vào căn cứ Dương Minh Châu (Bắc Tây Ninh), nhằm tiêu diệt quân chủ lực và cơ quan đầu não của cách mạng. Trong mùa khô thứ hai, Ta loại khỏi vòng chiến đấu 151 000 địch, trong đó có 68 000 quân Mĩ, 5 500 quân đồng minh của Mĩ. - Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, diễn ra đồng loạt trên toàn miền Nam, trọng tâm là các đô thị, mở đầu bằng cuộc tập kích chiến lược của quân chủ lực vào hầu khắp các đô thị trong đêm 30 rạng sáng 31/1/1968 (Tết Mậu Thân); làm lung lay ý chí xâm lược của Mĩ, buộc Mĩ phải tuyên bố “Phi Mĩ hóa chiến tranh”; ngừng ném bom miền Bắc và ngồi vào bàn đàm phán Pari để bàn về chấm dứt chiến tranh; mở ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. b) Đánh giá thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 - Đây là một lại hình chiến dịch độc đáo, chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh thế giới, làm cho Mĩ bị bất ngờ và choáng váng, ý chí xâm lược bị lung lay, buộc Mĩ phải tuyên bố “Phi Mĩ hóa chiến tranh” (tức tức thừa nhận thất bại của “Chiến tranh cục bộ”), chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc (1/11/1968); chấp nhận đàm phán ở Pari để bàn về chấm dứt chiến tranh. Đó là bước ngoặt đi xuống của Mĩ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam. - Mở ra bước ngoặt mới của cuộc chiến tranh cách mạng nhân dân Việt Nam, liên tục kết hợp tiến công và nổi dậy, kết hợp đấu tranh trên ba mặt quân sự, chính trị và ngoại giao. Trong cục diện
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 18 “vừa đánh, vừa đàm”, quân đội và nhân dân Việt Nam tiếp tục tiến lên “Đánh cho Mĩ cút, đánh cho ngụy nhào”, đưa sự nghiệp chống Mĩ, cứu nước từng bước đến toàn thắng. Câu 3: Phân tích những điểm giống nhau và khác nhau giữa hai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ ở miền Nam Việt Nam. Từ năm 1961 đến 1968, Mĩ liên tục tiến hành các chiến lược chiến tranh xâm lược Việt Nam: “Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965) và “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968), giữa hai chiến lược này có những điểm giống và khác nhau: * Giống nhau: - Đều là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mĩ. - Đều nằm trong chiến lược toàn cầu "Phản ứng linh hoạt". - Đều nhằm mục đích tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam. - Đều muốn biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ chiến tranh của Mĩ ở Đông Dương và Đông Nam Á. * Khác nhau: + Lực lượng: - “Chiến tranh đặc biệt” được tiến hành bằng quân đội Sài Gòn, dưới sự chỉ huy của “cố vấn” Mĩ, được Mỹ trang bị phương tiện chiến tranh và cung cấp USD... - “Chiến tranh cục bộ” được tiến hành bằng quân viễn chinh Mĩ, quân đồng minh của Mĩ và quân đội Sài Gòn (trong đó quân Mĩ giữ vai trò quan trọng)... + Biện pháp: - “Chiến tranh đặc biệt” được thực hiện với hai kế hoạch: “Xtalây - Taylo” và “Giônxơn - Mác Namara” với các biện pháp như: xây dựng quân đội Sài Gòn, dồn dân lập “ấp chiến lược”, sử dụng các chiến thuật “Trực thăng vận” và “Thiết xa vận”... - “Chiến tranh cục bộ” được thực hiện bằng những cuộc hành quân “bình định”, “tìm diệt” với hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng... + Qui mô: - “Chiến tranh đặc biệt” chỉ tiến hành ở miền Nam... - “Chiến tranh cục bộ” vừa tiến hành ở Miền Nam đồng thời gây chiến tranh phá hoại Miền Bắc... Câu 4: Vì sao từ năm 1965 đến năm 1973, Mĩ tiến hành hai lần cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc? Điểm khác nhau cơ bản của cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai là gì? Quân và dân miền Bắc đã đánh thắng chiến tranh phá hoại của Mĩ như thế nào? a) Giải thích - Từ năm 1965 đến năm 1973, Mĩ hai lần tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc: lần thứ nhất (từ tháng 8/1964 đến tháng 11/1968) và lần thứ hai (từ tháng 4/1972 đến tháng 1/1973). - Mĩ dựng lên “Sự kiện vịnh Bắc Bộ” (tháng 8/1964), sau đó lấy cớ “trả đũa” quân giải phóng tiến công quân Mĩ ở Plâyku (tháng 2/1965), chính thức tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất. Huy động một lực lượng không quân và hải quân lớn, gồm hàng nghìn máy bay tối tân như F111, B52 và các vũ khí hiện đại, leo tháng đánh phá miền Bắc. Nhằm vào tất cả các mục tiêu quân sự, giao thông, nhà máy, trường học, nhà trẻ, bệnh viện, đền, chùa, nhà thờ - Do thất bại trong Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” và “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam nên Mĩ tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc. Cả hai cuộc chiến tranh phá hoại đều nhằm hỗ trợ cho chiến lược quân sự thực hiện ở miền Nam nên nó đều là bộ phần của chiến lược chiến tranh đó. - Âm mưu của Mĩ: Phá tiềm lực kinh tế, quốc phòng, phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, ngăn chặn chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam, uy hiếp tinh thần, làm lung lay ý chí quyết tâm chống Mĩ của nhân dân ta ở cả hai miền Nam – Bắc. b) Điểm khác nhau cơ bản của chiến tranh phá hoại lần thứ hai - Tiến hành chiến tranh phá hoại lần thứ hai nhằm cứu nguy cho sự thất bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (từ tháng 4/1972 đến tháng 1/1973). - Diễn ra trong lúc cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và Mĩ với hình thái “vừa đánh, vừa đàm”, vì vậy ngoài ý đồ cứu nguy cho Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mĩ còn nhằm tạo thế mạnh cho cuộc đàm phán ở Hội nghị Pari. Mĩ muốn giành một thắng lợi quân sự quyết định trên
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 19 chiến trường buộc ta phải chấp nhận những điều kiện do Mĩ áp đặt để rút ra khỏi chiến tranh Việt Nam trong thế thắng. - Mĩ sử dụng những loại phương tiện không quân hiện đại nhất, chủ yếu là máy bay chiến lược B52; mở cuộc tập kích chiến lược đánh phá những trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng nhất cả nước (Hà Nội và Hải Phòng). c) Quân dân miền Bắc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại - Đế đối phó với âm mưu trên của Mĩ, quân dân miền Bắc đã chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mĩ, đồng thời vẫn phải tiếp tục sản xuất làm, vừa làm nghĩa vụ hậu phương cho tiền tuyến miền Nam. Miền Bắc đã chuyển mọi hoạt động từ thời bình sang thời chiến: sơ tán và tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại. - Triển khai cuộc chiến tranh nhân dân, đánh địch bằng mọi thứ vũ khí, các đơn vị phòng không, không quân, hải quân sẵn sàng chiến đấu. Cả miền Bắc diễn ra phong trào thi đua sôi nổi. Miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu, đường giao thông vẫn thông suốt, chi viện đắc lực cho tiền tuyến miền Nam. - Kết quả: + Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất: quân dân miền Bắc bắn rơi 3.243 máy bay, bắt sống nhiều giặc lái Mĩ; bắn cháy, bán chìm 143 tàu chiến. Mĩ phải tuyên bố ngừng ném bom phá hoại miền Bắc (tháng 11/1968). Miền Bắc đã hoàn thành nhiệm vụ vừa chiến đấu, vừa sản xuất và làm tròn nghĩa vụ hậu phương, đã đập tan âm mưu của Mĩ, góp phần to lớn đánh bại Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ ở miền Nam. Mĩ phải xuống thang chiến tranh: chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán Hội nghị tại Pari. + Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai: Quân dân miền Bắc đã đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 của không quân Mĩ vào Hà Nội và Hải Phòng (cuối tháng 12/1972), làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Quân dân ta đã bắn rơi 81 máy bay (trong đó có 34 máy bay B52, 5 máy bay F111), bắt sống 43 phi công Mĩ. Tính chung, trong cả cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai (từ 6/4/1972 đến ngày 15/1/1973), miền Bắc bắn rơi 735 máy bay Mĩ (trong đó có 61 máy bay B52, 10 máy bay F111), bắn chìm 125 tàu chiến, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm phi công Mĩ. “Điện Biên Phủ trên không” là trận quyết định của ta, đã buộc Mĩ phải tuyên bố ngừng hẳn các hoạt động chống phá miền Bắc (15/1/1973) và kí Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam (27/1/1973). Câu 5: Cuộc tiến công chiến lược nào của quân và dân ta ở miền Nam đã buộc Mĩ phải tuyên bố “Mĩ hoá” trở lại chiến tranh xâm lược Việt Nam ? Tóm tắt hoàn cảnh lịch sử, diễn biến và kết quả của cuộc tiến công đó. Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân ta ở miền Nam đã giáng đòn nặng nề vào chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, buộc Mĩ phải tuyên bố “Mĩ hoá” trở lại chiến tranh xâm lược Việt Nam. - Hoàn cảnh lịch sử + Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mĩ chuyển sang chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương, thực hiện chiến lược “Đông Dương hoá chiến tranh”. + Mĩ thoả hiệp với Trung Quốc, hoà hoãn với Liên Xô nhằm hạn chế sự giúp đỡ của các nước này đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta. + Miền Bắc khôi phục kinh tế, bảo đảm tiếp nhận tốt hàng viện trợ từ bên ngoài và chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam. + Từ năm 1969 đến năm 1971, quân dân ta ở miền Nam phối hợp với quân dân Lào và Campuchia, đẩy mạnh đấu tranh, giành nhiều thắng lợi trên ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. - Diễn biến và kết quả + Ngày 30/3/1972, ta bất ngờ mở cuộc tiến công chiến lược đánh vào Quảng Trị, lấy Quảng Trị làm hướng tấn công chủ yếu, rồi phát triển rộng khắp miền Nam, kéo dài suốt năm 1972. + Kết quả: đến cuối 6/1972, quân taddax chọc thủng 3 phòng tuyên mạnh nhất của địch là Quảng Trị, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 20 vạn quân Sài Gòn, giải phóng vùng đất đai rộng lớn.
- Tài Liệu bồi dưỡng Đội tuyển mở rộng môn Lịch sử - Phần LSVN (1954 – 1975) 20 + Sau đó, địch phản công mạnh, gây cho ta nhiều thiệt hại. Mỹ tiến hành trở lại chiến tranh phá hoại miền Bắc từ ngày 6/4/1972. Câu 6: Những thắng lợi trên mặt trận quân sự của quân và dân miền Nam trong chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ. Thắng lợi nào buộc Mĩ phải tuyên bố “Phi Mĩ hoá” chiến tranh xâm lược? a) Những thắng lợi trên mặt trận quân sự của quân và dân miền Nam trong chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ”: - “Chiến tranh Cục bộ” (1965-1968) là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ, được tiến hành bằng lực lượng quân viễn chinh Mĩ cùng quân đồng minh và quân đội Sài Gòn với các phương tiện chiến tranh hiện đại nhằm tiêu diệt phong trào cách mạng miền Nam và biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mĩ. - Dựa vào ưu thế quân sự Mĩ cho mở cuộc hành quân “tìm diệt” vào căn cứ quân giải phóng ở Vạn Tường, hai cuộc phản công chiến lược mùa khô bằng hàng loạt cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” vào vùng “ Đất thánh Việt Cộng”. - Chiến thắngVạn Tường: + mờ sáng ngày 18/8/1965 Mĩ huy động 9.000 quân, 105 xe tăngvà xe bọc thép, 100 máy bay lên thẳng và 70 máy bay phản lực chiến đấu, 6 tàu chiến mở cuộc hành quân vào Thôn Vạn Tường nhằm tiêu diệt một đơn vị chủ lực của ta. + Sau một ngày chiến đấu ta loại khỏi vòng chiến đấu 900 tên địch, bắn cháy 22 xe tăng và bọc thép, hạ 13 máy bay. + Vạn Tường được coi là “Ấp Bắc” đối với quân Mĩ, mở đầu cao trào “tìm Mĩ mà đánh, lùng nguỵ mà diệt” trên khắp miền Nam. - Chiến thắng mùa khô 1965-1966: + Với 72 vạn quân địch mở 450 cuộc hành quân trong đó có 5 cuộc hành quân “tìm diệt”lớn nhằm vào Đông Nam Bộ và Liên khu V với mục tiêu đánh bại chủ lực quân giải phóng. + Ta loại khỏi vòng chiến đấu 104.000 địch, bắn rơi 1430 máy bay. - Chiến thắng mùa khô 1966-1967: + Với lực lượng 98 vạn (trong đó Mĩ và đồng minh chiếm 44 vạn), Mĩ mở cuộc phản công với 895 cuộc hành quân . Lớn nhất là cuộc hành quân Gian xơn Xiti đánh vào căn cứ Dương Minh Châu nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của ta. + Ta loại khỏi vòng chiến đấu 151.000, bắn rơi 1231 máy bay. - Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 + Đêm 30 rạng ngày 31/1/1968 (Đêm giao thừa tết Mậu Thân) quân chủ lực tấn công vào hầu hết các đô thị miền Nam + Ta mở ba đợt tiến công (30/1- 25/2; tháng 5, 6; tháng 8, 9). + Trong đợt một ta tấn công vào hầu hết các cơ quan đầu não như toà Đại sứ Mĩ, Dinh Độc lập, Sân bay Tân Sân Nhất, Đài phát thanh...loại khỏi vòng chiến 147 000 địch trong đó có 43 000 lính Mĩ. + Trong đợt 2 và 3, lực lượng ta gặp khó khăn và chịu tổn thất do lực lượng địch vẫn còn mạnh. b) Thắng lợi nào buộc Mĩ phải tuyên bố “ Phi Mĩ hoá” chiến tranh xâm lược là: - Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 làm lung lay ý chí xâm lược của quân Mĩ, buộc Mĩ phải tuyên bố “Phi Mĩ hoá” chiến tranh (tức là thừa nhận sự thất bại của “Chiến tranh cục bộ”) chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận đến đàm phán ở Pa-ri để bàn về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, mở ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Câu 7: Quân và dân miền Bắc đã đánh bại cuộc tập kích bằng không quân của đế quốc Mĩ cuối năm 1972 như thế nào? Nêu kết quả và ý nghĩa. - Hoàn cảnh: + Ngày 6/4/1972, Mĩ ném bom một số nơi thuộc khu IV cũ. Ngày 16/4/1972, chính thức tiến hành chiến tranh không quân phá hoại miến Bắc lần II. Ngày 9/5/1972 tuyên bố phong tỏa cảng Hải Phòng, các cửa sông, luồng lạch, vùng biển miền Bắc. - Âm mưu: - Phá tiềm lực kinh tế - quốc phòng, phá công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc. - Ngăn chặn chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam.



