SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5A Trường TH Thạnh Phú 2 thực hiện tốt đổi đơn vị đo lường NH 2021-2022 (Trần Thị Phụng)
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5A Trường TH Thạnh Phú 2 thực hiện tốt đổi đơn vị đo lường NH 2021-2022 (Trần Thị Phụng)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_5a_truong_th_thanh_p.doc
Nội dung text: SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5A Trường TH Thạnh Phú 2 thực hiện tốt đổi đơn vị đo lường NH 2021-2022 (Trần Thị Phụng)
- ĐỀ TÀI MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5A TRƯỜNG TIỂU HỌC THẠNH PHÚ 2 THỰC HIỆN TỐT ĐỔI ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG A - PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Bậc tiểu học đã tạo những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bến vững cho các em tiếp tục học tập ở các bậc học trên. Nội dung giảng dạy của tiểu học luôn gắn liền với thực tiễn, không chỉ có thế mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Trong các môn học môn toán là một trong những môn có vị trí rất quan trọng. Các kiến thức, kỹ năng của môn toán có nhiều ứng dụng trong đời sống, giúp học sinh nhận biết mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực. Ngày nay sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin đã làm cho khả năng nhận thức của trẻ cũng vượt trội. Điều đó đã đòi hỏi những nhà nghiên cứu giáo dục luôn luôn phải điều chỉnh nội dung và phương pháp giảng dạy phù hợp với nhận thức của từng đối tượng học sinh nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện góp phần đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho quê hương, đất nước. Môn toán là một môn học chiếm một vị trí rất quan trọng và then chốt trong nội dung chương trình các môn học bậc tiểu học. Các kiến thức kĩ năng của môn toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống, chúng rất cần cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác ở tiểu học và các lớp trên. Môn toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề. Nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động. Trong chương trình môn toán tiểu học lớp 5 bao gồm nhiều mảng kiến thức về các yếu tố: số tự nhiên, các phép tính với số tự nhiên, phân số, các phép tính về phân số, tỉ số, đại lượng và đo đại lượng, thời gian và những khái niệm cơ bản về hình học, Trong đó nội dung dạy học về đại lượng và đo lường giữ vai trò rất quan trọng nhằm giúp học sinh vận dụng vào thực tiễn cuộc sống. Việc giúp học sinh hình thành những biểu tượng hình học và đại lượng hình học có tầm quan trọng đáng kể vì điều đó giúp các em gắn liền việc học tập với cuộc sống xung quanh và hỗ trợ học sinh học tập tốt các môn học khác. Đối với lứa tuổi tiểu học, các em chưa nhận thức rõ thuộc tính đặc trưng của sự vật. Do đó học sinh rất khó khăn trong việc nhận thức đại lượng. Qua thực tế giảng dạy tôi thường xuyên gặp những học sinh học tập yếu kém mà nhiệm vụ được đặt ra là người giáo viên phụ trách lớp phải cố gắng giúp đỡ các em này nhanh chóng theo kịp được với mặt bằng kiến thức chung của lớp mình bằng nhiều biện pháp và hình thức tổ chức dạy học. Trên cơ sở
- 2 nắm vững nội dung tôi đã kết hợp vận dụng linh hoạt các phương pháp một cách nhuần nhuyễn để nâng cao tác dụng của từng khâu trong quá trình dạy học, kích thích mọi hoạt động nhận thức của học sinh nhằm thúc đẩy học sinh tham gia vào một quá trình lĩnh hội kiến thức và vận dụng kiến thức. Thực tế trong quá trình giảng dạy đổi các đơn vị đo lường tôi thấy các dạng: đổi từ đơn vị nhỏ sang đơn vị lớn và ngược lại. Khi vận dụng đổi đơn vị học sinh còn lúng túng và chưa nắm vững cách đổi nên kết quả học tập còn chưa cao. Song, phương pháp và cách thức giảng dạy của giáo viên còn mang nhiều tính áp đặt, chưa phát huy được khả năng của học sinh., Xuất phát từ thực tế và những lí do trên vì vậy tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5A Trường Tiểu học Thạnh Phú 2 thực hiện tốt đổi đơn vị đo lường ”. * Cơ sở lí luận của vấn đề Mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để tiếp tục học trung học cơ sở. Thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học ở Tiểu học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, hình thành và phát triển khả năng tự học cho học sinh; đảm bảo tính phù hợp cho từng đối tượng giáo dục và đặc điểm vùng, miền nhằm khơi dậy hứng thú học tập cho học sinh sao cho các em đạt được kết quả tốt trong học tập. Như vậy, để nâng cao chất lượng dạy học thì người giáo viên phải nắm được, vận dụng được các phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, biết cách thiết kế một kế hoạch bài học theo hướng đổi mới sao cho học sinh là người phát hiện ra vấn đề và giải quyết vấn đề để rút ra kết luận bài học, còn giáo viên đóng vai trò là người chỉ đạo cho học sinh, không làm thay cho học sinh. Muốn được như thế thì người giáo viên phải luôn học tập, tìm tòi các phương pháp, cách tổ chức thế nào để học sinh phát huy được tính tích cực của mình thì đó mới là yếu tố cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. * Cơ sở thực tiễn Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy với môn toán hầu hết các học sinh yếu đều có một nguyên nhân chung là: kiến thức ở các lớp dưới bị hổng; không có phương pháp học tập đúng đắn; tự ti, rụt rè, thiếu hào hứng trong học tập. - Học sinh của lớp đa số là học sinh mới biết và chưa biết cách làm toán, ít có học sinh năng khiếu, học tốt. - Do trong lớp có nhiều đối tượng học sinh. Có sự chênh lệch rất lớn về trình độ của học sinh. Trong quá trình áp dụng sáng kiến kinh nghiệm, tôi có chú ý phân loại đối tượng học sinh theo trình độ như sau: đạt điểm 9 - 10, đạt điểm 7 - 8, đạt điểm 5 - 6, đạt điểm dưới 5. Điều tra phân loại đối tượng học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Thạnh Phú 2. Từ đó mạnh dạn áp dụng những biện pháp nhằm giúp học sinh yêu thích
- 3 và học tốt về đổi đơn vị đo lường trong chương trình Toán lớp 5. Tiếp tục áp dụng những biện pháp nhằm giúp học sinh lớp 5, nhất là học sinh mới biết làm và chưa làm được lại càng thêm yêu thích và học tốt về đổi đơn vị đo lường . Số liệu thống kê: Đầu năm học tôi được Ban giám hiệu phân công chủ nhiệm lớp 5A. Sau khi kiểm tra chất lượng đầu năm tôi nhận thấy còn rất nhiều học sinh chưa đạt kết quả tốt ở môn toán trong số đó có không ít những học sinh chưa thực hiện được phần đo lường. Kết quả kiểm tra chất lượng đầu năm : Lớp 5A: 26 học sinh /10 học sinh nữ. Điểm 9-10: 3 học sinh Điểm 7-8 : 6 học sinh Điểm 5-6 : 11 học sinh Điểm dưới 5: 6 học sinh 2. Giới hạn đề tài - Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu dựa vào kinh nghiệm trong nhiều năm giảng dạy lớp 5. Bên cạnh đó bản thân cũng tham khảo thêm nhiều sách, báo, tài liệu, bảng đơn vị đo lường (bảng đơn vị đo khối lượng, đo độ dài, đo diện tích, đo thể tích, đo thời gian) môn Toán ở chương trình tiểu học. - Thực hiện: Năm học: 2021-2022. Lớp 5A – Trường Tiểu học Thạnh Phú 2. B - PHẦN NỘI DUNG I. Thực trạng vấn đề 1. Thuận lợi: Môn toán là môn học chiếm một vị trí rất quan trọng và then chốt trong nội dung chương trình các môn học bậc tiểu học. Giáo dục toán học bậc tiểu học nhằm giúp học sinh: Có những tri thức cơ bản ban đầu về các số tự nhiên, phân số, các đại lượng cơ bản, hình học cơ bản. Góp phần rèn luyện phương pháp học tập và làm việc khoa học, linh hoạt, sáng tạo. Phát triển năng lực phân tích tổng hợp, bước đầu hình thành và phát triển tư duy . Rèn luyện đức tính chăm học, cẩn thận, tự tin, trung thực. Hệ thống các kiến thức được sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Ngay từ lớp 1, 2, 3, 4 dần dần làm quen lần lượt với các đơn vị đo độ dài, đơn vị đo khối lượng, đơn vị đo thời gian , biết thực hành cân, đo và đổi một số đơn vị đo đã học và các em đã hoàn chỉnh bảng đơn vị đo khối lượng, đo độ dài, đo thời gian, được học các đơn vị đo diện tích và bước đầu biết đổi các đơn vị đo đơn giản. Đến lớp 5 các em được hình thành bảng đơn vị đo độ dài, đo khối lượng thường dùng và phép đổi đơn giản, củng cố toàn bộ hệ thống các đơn vị đo lường thông qua nhiều tiết luyện tập. Thông qua các kiến thức này giúp học sinh thực hiện đúng đổi đơn vị đo lường. Biết phân biệt các dạng: đơn vị đo độ dài, đơn vị đo khối lượng, đơn vị
- 4 đo diện tích, đơn vị đo thời gian . Trên cơ sở nắm chắc cách làm các bài toán về đổi đơn vị đo lường còn nhằm giúp học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết các bài toán có lời văn trong thực tế cuộc sống. Thông qua đó còn giúp các em củng cố các kiến thức số học khác. Môn toán lớp 5 nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức và kỹ năng cơ bản về: số tự nhiên, các phép tính với số tự nhiên, phân số, các phép tính về phân số, tỉ số, đại lượng và đo đại lượng, thời gian và những khái niệm cơ bản về hình học, 2. Khó khăn: - Về giáo viên Trong giảng dạy giáo viên chưa coi trọng việc phân loại kiến thức . Do đó việc tiếp thu của học sinh không được hình thành một cách hệ thống, còn máy móc nên các em rất mau quên. Giáo viên chưa thật triệt để trong việc đổi mới phương pháp dạy học, học sinh chưa thực sự được tự mình tìm đến kiến thức. Chủ yếu, giáo viên còn cung cấp kiến thức một cách áp đặt, không phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh. Sau mỗi dạng bài hay một hệ thống các bài tập cùng loại giáo viên còn chưa coi trọng việc khái quát chung cách giải cho mỗi dạng để khắc sâu kiến thức cho học sinh. Khi hướng dẫn học sinh giải các bài toán phức tạp giáo viên còn chưa chú trọng đến việc giúp học sinh biến đổi các bài toán đó về các bài toán dạng cơ bản đã được học. - Về học sinh Học sinh còn lẫn lộn về mối quan hệ giữa các đơn vị đo Khả năng vận dụng hiểu biết thực tế còn hạn chế dẫn đến khả năng ước lượng đơn vị đo chưa tốt. Khi làm các bài tập về đổi đơn vị đo lường học sinh còn lúng túng. Nguyên nhân: Do chưa thuộc kỹ thứ tự bảng đơn vị đo đó, còn nhầm lẫn quan hệ giữa 2 đơn vị liền nhau của đơn vị đo. Ngoài ra, khả năng tính toán còn hạn chế. Trong lớp đa số học sinh là con em nhà nghèo. Hàng ngày, cha mẹ phải đi làm thuê sinh sống. Vì vậy, các em thiếu sự quan tâm chăm sóc của gia đình đặc biệt là việc học tập của các em. Các em tiếp thu bài chậm mà hay chóng quên. Bên cạnh những em học tốt còn rất nhiều em về nhà còn mê chơi hoặc các em phải phụ giúp gia đình làm những việc như: Trông em, các em đi học thường hay nghỉ học nhiều. 3. Yêu cầu đặt ra: * Về giáo viên:
- 5 + Nắm vững từng bảng đơn vị đo. Thuộc thứ tự bảng đó từ nhỏ đến lớn và ngược lại từ lớn sang nhỏ. + Nắm vững được quan hệ giữa 2 đơn vị đo lường liền nhau và giữa các đơn vị khác nhau. + Xác định loại bài và biết cách chuyển đổi đơn vị đo. - Muốn vậy đòi hỏi giáo viên phải căn cứ vào đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học để lựa chọn phương pháp phù hợp với nội dung và đối tượng học sinh, tạo hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em phát huy trí lực, chủ động lĩnh hội kiến thức, năng động, linh hoạt trong việc luyện tập đổi đơn vị đo. - Để rèn luyện kỹ năng đổi đơn vị đo cho học sinh trước hết giáo viên phải tìm hiểu kĩ nội dung, yêu cầu của sách giáo khoa từ đó phân loại được các bài tập về đổi đơn vị đo lường. Có thể chia các bài tập về đổi đơn vị đo lường bằng nhiều cách khác nhau. *Về học sinh: + Để thực hiện các bài toán về chuyển đổi đơn vị đo đại lượng tôi yêu cầu học sinh phải nắm chắc bảng hệ thống đơn vị đo, hiểu được mối quan hệ giữa các đơn vị liền kề. Có kỹ năng thực hiện các phép tính trên số tự nhiên và số đo đại lượng. + Nhắc lại tất cả các đơn vị đo đã học theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc từ lớn đến bé để ghi vào bảng. + So sánh giá trị hai đơn vị liền nhau để khái quát hóa và rút ra nhận xét chung về mối quan hệ giữa hai đơn vị liên tiếp trong bảng đơn vị đo đại lượng. + Luyện tập đọc, viết, đổi, so sánh, làm tính và vận dụng vào giải toán có lời văn với các số đo đại lượng. II. Những giải pháp thực hiện 1. Dạy hình thành biểu tượng, khái niệm Để hình thành biểu tượng, khái niệm các đại lượng và các đơn vị đo đại lượng cho học sinh trong các tiết học tôi đã thực hiện như sau: Thông qua các hoạt động quan sát, ước lượng, so sánh, liên hệ, đối chiếu để học sinh có biểu tượng về khối lượng, thời gian, diện tích. Ví dụ: Bao gạo, bao xi măng, con gà, con heo, biểu tượng về khối lượng Một tiết học, cả một buổi học, một ngày, một tháng, biểu tượng về thời gian. Bề mặt cái bảng, sân trường, mảnh vườn, biểu tượng về diện tích Thông qua các hình ảnh về thực tế, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày để học sinh có cảm nhận, hình dung về độ lớn của các đơn vị đo đại lượng Ví dụ:
- 6 Con gà nặng 2 kg, con bò nặng 2 tạ, con voi nặng 2 tấn, Quãng đường từ xã Thạnh Phú đến thị trấn Cờ Đỏ khoảng 4 km. Để đo diện tích của quốc gia, của rừng, của biển người ta phải dùng đơn vị đo diên tích là ki-lô-mét vuông (km2) 2. Đổi đơn vị đo độ dài, đo khối lượng Đổi 9 m 7 cm = ....... cm Cách 1: đổi 9 m = 900 cm và 7cm sau đó cộng 900 + 7 = 907cm Hoặc học sinh ghi 9 đọc là 9m ghi tiếp 0 rồi đọc 0dm và ghi chữ số 7 đọc là 7cm đến đơn vị cần đổi thì dừng lại và ghi tên đơn vị. Cách 2: Lập bảng đổi Đề bài m dm cm mm Kết quả đổi 9 m 7cm 9 0 7 907cm Đề bài kg hg dag g Kết quả đổi 8 kg 9g 8 0 0 9 8009 g * Đổi 2 kg 6g =.....g = .....kg giáo viên hướng dẫn học sinh theo 2 cách. Cách 1: 2kg = 2000 g; 2000g + 6g = 2006 g như vậy 2kg 6g = 2006g. Sau khi học sinh đã hiểu được bản chất của phép đổi và thuộc thứ tự bảng đơn vị đo từ lớn đến bé thì có thể suy luận ra phương pháp nhẩm. Học sinh vừa viết vừa nhẩm: 2 (kg) 0 (hg) 0 (dag) 6 (g) để được : 2kg 6g = 2006g. Cách 2: Lập bảng đổi Đề bài Kg hg dag g Kết quả đổi 2 kg 6 g 2 0 0 6 2006 g Căn cứ vào số liệu đề bài học sinh điền các giá trị vào ô tương ứng và ghi kết quả cho phù hợp. Với cách lập bảng như thế này học sinh làm được nhiều bài tập cùng đơn vị đo mà kết quả không hay nhầm lẫn và vẫn đề bài như vậy giáo viên có thể hỏi nhanh nhiều kết quả đổi khác nhau để luyện tập kỹ năng đổi cho học sinh. 3. Đổi đơn vị đo diện tích, thể tích Ví dụ 1: Đổi đơn vị đo diện tích Đổi a) 4dm2 = .. cm2 b) 6m2 642 cm2 = . cm2 Hướng dẫn học sinh cách thực hiện a) Vì 1dm2 = 100 cm2 nên 4 x 100 = 400 cm2
- 7 Vậy 4 dm2 = 400 cm2. Ta điền 400 vào chỗ chấm b) Vì 1 m2 = 10000 cm2 nên 6 m2 = 60000 cm2 mà ta có sẵn 642 cm2 do đó ta lấy 60000 cm2 + 642 cm2 = 60642 cm2 Vậy 6m2 642 cm2 = 60642 cm2 .Ta điền 60642 vào chỗ chấm Ví dụ 2: Đổi đơn vị đo thể tích Đổi a) 4dm3 = .. cm3 b) 6m3 642 cm3 = . cm3 Hướng dẫn học sinh cách thực hiện a)Vì 1dm3= 1000 cm3 nên 4 x 1000 = 4000 cm3 Vậy 4 dm3 = 400 cm3. Ta điền 4000 vào chỗ chấm b) Vì 1 m3 = 1000 000 cm3 nên 6 m3 = 6000 000 cm3 mà ta có sẵn 642 cm3 do đó ta lấy 6000 000 cm3 + 642 cm3 = 6 000 642 cm3 Vậy 6m3 642 cm3= 6000642 cm3 .Ta điền 6 000 642 vào chỗ chấm 4. Đổi đơn vị đo thời gian Đây là đơn vị đo lường mà học sinh hay đổi nhất. Vì quan hệ giữa các đơn vị của chúng không đồng nhất. Khi đổi đơn vị thời gian chỉ có cách duy nhất là thuộc các quan hệ của đơn vị đo thời gian rồi đổi lần lượt từng đơn vị đo bằng cách suy luận và tính toán. Ví dụ : Viết số thích hợp vào chỗ trống a) 5 giờ = . phút b) 240 giây = .. phút c) 3 giờ 30 phút = . phút d) 4 ngày = . giờ Tôi hướng dẫn học sinh như sau: a) Vì 1 giờ = 60 phút nên 60 x 5 = 300 Vậy 5 giờ = 300 phút b) Vì 60 giây = 1 phút nên 240 : 60 = 4 Vậy 240 giây = 4 phút c) Vì 1 giờ = 60 phút nên 60 x 3 = 180. Suy ra 3 giờ = 180 phút, mà ta có sẵn 30 phút. Do đó 180 phút + 30 phút = 210 phút. d) Vì 1 ngày = 24 giờ nên 24 x 4 = 96 Vậy 4 ngày = 96 giờ Ngoài ra học sinh còn hay gặp điền dấu >; < = và 2 giá trị đại lượng. Muốn làm tốt loại bài tập này yêu cầu học sinh phải nắm vững bước đổi đơn vị đo và trình bày tỉ mỉ tránh làm tắt dễ điền sai dấu. 5. Vận dụng vào giải toán có lời văn Sau khi học xong nắm được cách đổi đơn vị đo khối lượng các em vận dụng vào dạng toán có lời văn liên quan đến đơn vị đo lường.
- 8 Ví dụ : - Học sinh đọc đề : Một xe ô tô chở được 32 bao gạo, mỗi bao cân nặng 50 kg. Hỏi chiếc xe đó chở được bao nhiêu tạ gạo? - Phân tích đề : Hỏi : Đề bài cho biết gì? + Một xe ô tô chở được 32 bao gạo. + Mỗi bao cân nặng 50 kg. Hỏi : Đề bài hỏi gì ? Chiếc xe đó chở được bao nhiêu tạ gạo? Hỏi : Muốn tính được xe đó chở được bao nhiêu tạ gạo các em làm như thế nào? Phải tính được số kg gạo của 32 bao. Hướng dẫn giải : Cân nặng của 32 bao gạo = cân nặng của 1 bao gạo x 32. Đổi kết quả vừa tìm được sang đơn vị đo là tạ (lưu ý 1 tạ = 100 kg) Học sinh ghi phép tính vào giấy nháp : 50 x 32 = 1600 (kg) Hỏi : Kết quả cuối cùng 1600 kg gạo như vậy đáp số 1600 kg gạo được chưa? Thực hiện bài giải vào vở Giáo viên gọi một em chữa bài : Bài giải Số kg gạo xe ô tô chở được tất cả là: 50 x 32 = 1600 (kg) Đổi 1600 kg = 16 tạ Đáp số: 16 tạ gạo - Kiểm tra bài giải : Học sinh tự kiểm tra bài làm của mình dựa vào bài làm đúng trên bảng lớp và tự nêu được ưu điểm, hạn chế bài làm của mình . 6. Gây hứng thú học tập cho các em Trong những học sinh chưa thực hiện được có nhiều học sinh không hứng thú đối với việc thực hiện đổi các đơn vị đo. Vậy để kích thích học sinh có hứng thú học tôi xác định điều đầu tiên là phương pháp dạy của giáo viên. Dạy phát huy tính tích cực của học sinh, dạy sát đối tượng bằng cách trong các giờ học tôi có các câu hỏi, bài tập phù hợp với từng đối tượng học sinh để cả học sinh yếu cũng được làm việc, được tham gia vào các hoạt động học tập để tránh tình trạng học sinh không được hoạt động dễ gây ra nhàm chán, thụ động. Sử dụng phương pháp trực quan trong giảng dạy kết hợp hài hòa với các phương pháp dạy học khác. Để tạo hứng thú cho các em học tập, tôi tạo ra không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng. Giúp học sinh tự tin rằng mình có thể thực hiện được như các bạn bằng cách thường xuyên gọi học sinh báo cáo trước lớp kết quả làm việc của
- 9 bản thân hay của nhóm mình. Trong mỗi giờ học, hướng dẫn và kèm cặp các em thật kỹ những kiến thức, kỹ năng cơ bản. Yêu cầu các em làm từng bài tập cho thật hoàn chỉnh rồi mới chuyển sang bài sau, không ôm đồm đòi các em theo kịp các bạn khác trong lớp. Tuyên dương, khen ngợi và động viên sự tiến bộ của học sinh dù là nhỏ nhất. Chú ý đôn đốc, nhắc nhở, dùng tập thể để động viên, cổ vũ, giúp đỡ để các em tự nhận biết và cố gắng học tập. Thường xuyên gần gũi, tìm hiểu, quan tâm lắng nghe mong muốn của học sinh, tạo điều kiện cho học sinh nói lên những suy nghĩ của mình để giáo viên nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, sở thích thái độ học tập của học sinh từ đó sẽ có tác động đúng hướng kích thích các em học tập. Khen ngợi, động viên kịp thời các em. Không chê và phân tích kỹ những chỗ chưa thực hiện được của từng em để các em biết cách khắc phục và tự tin hơn trong học tập. Thường xuyên kiểm tra việc làm bài tập của các em ở nhà, ở lớp. 7. Hướng dẫn học sinh phương pháp thực hiện: - Đọc kỹ yêu cầu của đề bài - Học lý thuyết xong mới thực hành - Cần luyện tập nhiều lần - Với những bài toán có lời văn cần làm tuần tự theo các bước: Tìm hiểu đề bài, gạch chân những từ quan trọng, phân tích yêu cầu của bài, tìm hướng giải, trình bày bài giải và cuối cùng cần phải thử lại để kiểm tra kết quả có phù hợp hay chưa. 8. Thực hành luyện tập - Học sinh chưa thực hiện được thường chậm nhớ, nhanh quên. Vì vậy nếu một kiến thức mà học sinh chưa thành thạo thì học sinh rất dễ quên. Do đó, tôi thường tăng cường các bài tập cùng loại. Cho học sinh thực hành nhiều lần một kiến thức dựa trên các bài mẫu (có thể thay số) nhằm tạo thành đường mòn thì học sinh sẽ nhớ lâu, tăng các bài tập vào các giờ tự học. Sau đó, cho học sinh thực hành làm các bài tập dạng khác nhau đòi hỏi có sự tư duy cao hơn như: so sánh, đối chiếu, phân tích nhưng phải đảm bảo tính vừa sức. - Trên lớp tôi thường giảng bài thật chậm và hướng dẫn học sinh thật kỹ. Khi gặp những dạng toán mới, những bài toán khó thì cần kiên trì gợi mở cho học sinh chứ không nóng vội. * Tận dụng ngay học sinh khá, giỏi, nhóm trưởng để kèm cặp học sinh yếu, tăng cường hoạt động của hội đồng tự quản. - Trong một tiết học với thời lượng từ 35 đến 40 phút ngoài việc tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh cả lớp tôi còn chú ý đến những học sinh thực hiện tốt và đặc biệt là học sinh chưa thực hiện được. Tuy nhiên vì thời gian có hạn nên lớp có khoảng 5 học sinh chưa thực hiện được thì giáo viên không có đủ thời gian để hướng dẫn kỹ đến tất cả những học sinh đó được. Chính vì thế từ khi áp dụng mô hình trường học mới vào lớp học tôi giao nhiệm vụ cho các
- 10 nhóm trưởng hoặc những bạn học khá giỏi trong nhóm cần tiếp tôi kèm cặp, hướng dẫn, kiểm tra việc học của những học sinh này. Chẳng hạn như, đầu giờ nhóm trưởng kiểm tra việc chuẩn bị bài, truy bài đầu giờ, chỉ ra cho bạn những chỗ chưa đúng, chưa hiểu, viết bôi xóa, viết số chưa đúng mẫu... sau đó báo cáo lại với giáo viên để giáo viên đưa ra những biện pháp tiếp theo để tiếp tục kèm cặp giúp đỡ bạn mình cùng tiến bộ hơn. - Bên cạnh việc dạy học chung cho cả lớp tôi rất quan tâm đến việc tổ chức các hình thức học tập cho học sinh như: cá nhân, nhóm đôi, nhóm lớn, tương tác giữa các nhóm. Tôi thường phát huy vai trò học tập của các em theo hình thức cho các em làm việc độc lập rồi tôi theo dõi giúp đỡ những học sinh chưa thực hiện được. Việc dạy theo hình thức này giúp tôi dễ dàng tiếp cận từng đối tượng học sinh. Từ đó đưa ra những bài tập vừa sức cho các em. Khi tham gia học tập theo hình thức này học sinh làm tốt sẽ không nhàm chán công việc của mình còn học sinh chưa thực hiện được cũng có được bài tập vừa sức, nhằm giúp các em có hứng thú khi làm bài tập và hài lòng với kết quả mình làm được. * Thường xuyên theo dõi, kiểm tra học sinh - Thường xuyên theo dõi ý thức, thái độ học tập của các em để phát hiện kịp thời những học sinh có biểu hiện lười học, chán học, rèn luyện số chưa đúng mẫu, bôi xóa bẩn bài làm,....Từ đó có biện pháp giáo dục cho phù hợp. - Hàng tháng, hàng tuần phải theo dõi sát sao kiến thức mà các em lĩnh hội. Nếu kiến thức nào học sinh chưa hiểu tôi bù lấp và hướng dẫn ngay, tránh trường hợp buông lỏng việc theo dõi học sinh yếu để học sinh chồng chất những kiến thức chưa hiểu thì các em này không thể học những kiến thức mới được. - Thường xuyên tự ra đề để khảo sát học sinh chưa thực hiện được. Chấm, chữa tỷ mỷ, chỉ ra lỗi sai và yêu cầu học sinh làm lại khi cần. * Xây dựng nề nếp lớp học Nề nếp lớp học là rất quan trọng quyết định đến chất lượng học tập của mỗi học sinh, nhất là chất lượng học toán của các em. Nếu như các em thường xuyên nghỉ học, đi học không chuyên cần thì các em sẽ bị hổng kiến thức ngay bài các em nghỉ. Do vậy trong lớp tôi thường xuyên động viên các em đi học chuyên cần, chỉ nghỉ học khi ốm đau. Trong giờ học rèn nề nếp lớp ngồi học nghiêm túc chú ý lắng nghe giáo viên giảng bài, hăng say phát biểu ý kiến xây dựng bài. Kết quả đạt được: Năm học 2021 – 2022 * Đầu năm: Lớp 5A: 26 học sinh/ 10 học sinh nữ Điểm 9-10: 3 học sinh Điểm 7-8 : 6 học sinh Điểm 5-6 : 11 học sinh Điểm dưới 5: 6 học sinh
- 11 * Đến cuối học kì II: So với đầu năm chất lượng của các em đến cuối kì II đã tiến bộ rõ rệt. Điểm 9-10 Điểm 7-8 Điểm 5-6 Điểm dưới 5 Thời gian Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ lượng % lượng % lượng % lượng % Đầu năm học 3 11,5 6 23,1 11 42,3 6 23,1 Cuối học kì I 8 30,8 10 38,5 7 26,9 1 3,8 4 Cuối học kì II 12 6,1 10 38,5 4 15,4 0 0 - Số học sinh đạt 9-10 điểm tăng lên (tăng 9 học sinh so với đầu năm học ). - Tất cả học sinh đều đạt từ 5 điểm trở lên (giảm 6 học sinh so với đầu năm). * Kết quả về phẩm chất : Trước đây, lớp tôi các em rất sợ khi đến giờ toán và không thích học. Còn đến nay, các em chờ đón được học một tiết toán mỗi ngày với tất cả lòng nhiệt tình và hào hứng của mình. * Kết quả về năng lực học tập của học sinh: Từ sự tự tin, từ năng lực chủ động, phát huy tính tích cực của mình trong giờ toán. Từ đó làm cho các em càng thêm say mê và sáng tạo. Về bản thân tôi, qua quá trình tìm hiểu việc học tập của học sinh tôi cảm thấy trong công tác giảng dạy môn toán trong trường Tiểu học Thạnh Phú 2. Đồng thời thông qua kiểm tra chất lượng cuối kì II, tôi thấy lớp 5A có nhiều tiến bộ. Song với kết quả đạt được chưa hẳn là cao, bởi tìm tòi sáng tạo trong chuyên môn còn hạn chế, vì vậy kết quả đạt được chưa được như mong muốn. Dạy môn toán đạt được kết quả như vậy là một vấn đề không đơn giản chút nào, nên muốn có kết quả cao hơn nữa thì cả thầy lẫn trò đều phải cố gắng, phải kiên trì trong quá trình rèn luyện. So với năm trước thì mức độ tiếp thu bài của học sinh nhanh hơn, các em có khả năng thuộc các đơn vị đo lường và nắm vững khi thực hiện đổi đơn vị lớn sang đơn vị nhỏ và ngược lại. Biết vận dụng sáng tạo các kiến thức vào các bài tập. Đứng trước mỗi bài toán về từng dạng đổi đơn vị đo lường các em không còn bỡ ngỡ, có khả năng định hướng được cách thực hiện. Có kĩ năng thực hiện nhanh và đúng theo yêu cầu bài tập.
- 12 Các em có kiến thức cơ bản về đổi đơn vị đo lường từ đó các em không ngừng được củng cố mở rộng và phát triển vận dụng vào giải toán có lời văn tốt hơn Các em được trang bị thêm nhiều phương pháp giải toán mới, biết cách khai thác và nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện. Nhiều học sinh có kỹ năng tìm tòi và không chỉ dừng lại ở một cách giải trước mỗi bài toán khó. Kể cả những học sinh tiếp thu chậm vẫn tự mình thực hiện đổi đúng các đơn vi đo lường. Khả năng tư duy của học sinh được phát triển. Từ các biện pháp trên và qua chất lượng học sinh tôi thấy kết quả học môn toán nói chung và nhất là khả năng thực hiện đổi đơn vị đo lường nói riêng ở lớp tôi đã nâng cao lên rõ rệt, đa số các em thực hiện đổi đơn vị đo lường thành thạo . Từ đó chất lượng học tập môn toán ở lớp tôi nâng lên rõ rệt. Trong quá trình học toán, học sinh dần dần biết cách phát hiện ra vấn đề, tự tìm tòi để chiếm lĩnh kiến thức mới. Sự tiến bộ của các em được biểu hiện cụ thể qua điểm số ở các lần kiểm tra. Từ đó, cha mẹ học sinh yên tâm, tin tưởng hơn vào giáo viên và nhà trường, tích cực ủng hộ việc dạy học và giáo dục học sinh của trường. Tuy rằng đây mới chỉ là kết quả hết sức khiêm tốn và việc “giúp cho học sinh thực hiện tốt đổi đơn vị đo lường” là một quá trình lâu dài song với những kết quả bước đầu, nếu tiếp tục rèn luyện lên lớp trên các em sẽ có kỹ năng thực hiện đổi đơn vị đo lường tốt hơn. Tôi tự rút ra bài học cho mình: Muốn đạt được mục đích mà mình mong muốn thì bản thân phải có niềm tin, niềm say mê thực sự, luôn kiên trì, nhẫn nại, rèn luyện không ngừng, chính niềm say mê ấy sẽ giúp ta có thêm sức mạnh to lớn, cuốn hút ta đi vào tìm tòi sáng tạo, mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh. * Bài học kinh nghiệm Để đạt được hiệu quả trên trong công tác giảng dạy tôi rút ra được một số kinh nghiệm sau: - Đầu năm lên kế hoạch điều tra theo dõi nắm từng đối tượng học tập của từng em. - Trước khi lên lớp tôi luôn nghiên cứu bài dạy để tìm mục tiêu phương pháp thích hợp, đối với nội dung bài khó tôi cùng những giáo viên trong khối trao đổi. Trong tiết dạy cần sử dụng đồ dùng dạy học để tiết dạy sinh động mang hiệu quả cao hơn - Tổ chức tốt các hoạt động học tập trong các tiết học để học sinh giải quyết tốt các bài tập trong sách giáo khoa. Học sinh phải hiểu sâu sắc vấn đề, nắm chắc kiến thức và vận dụng tốt vào thực hành.
- 13 - Giáo viên cần giúp học sinh nắm chắc, thuộc lòng các bảng đơn vị đo lường, các công thức đổi mà Sách giáo khoa đã cung cấp. Có kĩ năng vận dụng công thức đổi, bảng đơn vị đo lường vào giải quyết các bài toán. - Rèn cho học sinh tính đúng, tính chính xác khi làm bài cần nhớ lâu, nắm vững kiến thức, nắm bài có khoa học tránh trường hợp học vẹt. - Liên hệ gia đình tìm hiểu nguyên nhân vì sao học sinh chậm tiến bộ và nghỉ học nhiều, động viên phụ huynh tạo điều kiện cho các em có thời gian học ở nhà và kèm cặp thêm. - Ngoài ra tôi học thêm ở các bạn đồng nghiệp bằng nhiều hình thức, và tự học tự nghiên cứu qua sách vở, báo đài. Không ngừng học hỏi, tìm tòi nhiều biện pháp đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy và học. - Phải thường xuyên tự nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, học hỏi, trao dồi kinh nghiệm từ đồng nghiệp, với nhiều hình thức như dự giờ, thao giảng. - Tâm huyết với nghề nghiệp, hết lòng vì học sinh thân yêu. III. Tính hiệu quả: - Hiệu quả kinh tế (nếu có): Nâng cao chất lượng dạy học môn toán lớp 5. - Lợi ích xã hội : Giúp được nhiều học sinh có hứng thú, say mê, sáng tạo trong học tập môn toán và phát triển toàn diện. C - PHẦN KẾT LUẬN 1. Phạm vi áp dụng sáng kiến Sáng kiến được áp dụng lần đầu lớp 5A Trường Tiểu học Thạnh Phú 2. 2. Điều kiện áp dụng và được triển khai, nhân rộng - Trang thiết bị dạy học môn Toán 5: tranh, ảnh, tài liệu, bảng đơn vị đo lường (bảng đơn vị đo khối lượng, đo độ dài, đo diện tích, đo thể tích, đo thời gian). - Sáng kiến được áp dụng lần đầu lớp 5A Trường Tiểu học Thạnh Phú 2. Được nhà trường công nhận và nhân rộng cả khối 4, 5 của trường và các trường Tiểu học trong huyện Cờ Đỏ. Trên đây là một số biện pháp giúp HS thực hiện tốt đổi đơn vị đo lường môn Toán mà tôi đã học hỏi đồng nghiệp và tích lũy kinh nghiệm qua nhiều năm giảng dạy. Bản thân sẽ cố gắng học hỏi hơn nữa để hoàn thành tốt nhiệm vụ của người giáo viên như Bác Hồ đã dạy : “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người". Những ý kiến của tôi đưa ra có thể còn nhiều hạn chế. Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để phương pháp giảng dạy của tôi được nâng cao hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô .
- 14 Thạnh Phú, ngày 15 tháng 4 năm 2023 Người thực hiện Trần Thị Phụng Ý KIẾN NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG .. . . . .. ...
- 15 MỤC LỤC A- PHẦN MỞ ĐẦU Trang 1 1. Lí do chọn đề tài Trang 1 2. Giới hạn đề tài Trang 3 B- PHẦN NỘI DUNG Trang 3 I. Thực trạng vấn đề Trang 3 II. Những giải pháp thực hiện Trang 5 III. Tính hiệu quả Trang 13 C- PHẦN KẾT LUẬN Trang 13 1. Phạm vi áp dụng Trang 13 2. Điều kiện áp dụng Trang 13



