SKKN Một số biện pháp nâng cao kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 1A trường TH Thạnh Phú 2 NH 2022-2023 (Nguyễn Thị Ngọc Quyên)

docx 17 trang Đình Bắc 11/08/2025 180
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp nâng cao kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 1A trường TH Thạnh Phú 2 NH 2022-2023 (Nguyễn Thị Ngọc Quyên)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_bien_phap_nang_cao_ki_nang_viet_dung_chinh_ta_ch.docx

Nội dung text: SKKN Một số biện pháp nâng cao kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 1A trường TH Thạnh Phú 2 NH 2022-2023 (Nguyễn Thị Ngọc Quyên)

  1. ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ TRƯỜNG TIỂU HỌC THẠNH PHÚ 2  SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM BIỆN PHÁP MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO KĨ NĂNG VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 1A TRƯỜNG TIỂU HỌC THẠNH PHÚ 2 Người thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Quyên Chức vụ : Giáo viên Chức vụ : Giáo viên Năm học: 2022 - 2023
  2. 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO KĨ NĂNG VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 1A TRƯỜNG TIỂU HỌC THẠNH PHÚ 2 A - PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục chỉ rõ rằng: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”. Để con người có khả năng đáp ứng được yêu cầu về sự phát triển kinh tế xã hội, chúng ta phải bắt đầu từ bậc Tiểu học, bởi đây là nền móng cơ bản cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân. Ở bậc Tiểu học, Tiếng việt là một môn học vô cùng quan trọng. Trong đó, Chính tả là một trong những phân môn quan trọng nhất của môn Tiếng Việt. Phân môn này hình thành cho học sinh tri thức và kĩ năng chính tả, phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở dạng viết và hoạt động giao tiếp. Nếu môn tập viết dạy cho học sinh biết viết tạo ra chữ thì môn chính tả giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả góp phần giúp các em đọc thông, viết thạo. Việc dạy học chính tả đang là vấn đề quan tâm của rất nhiều người. Song kết quả học sinh viết chính tả chưa đáp ứng được yêu cầu kĩ năng hình thành giao tiếp. Một số học sinh còn nói ngọng, viết chưa đúng chính tả, mắc nhiều lỗi chính tả thông thường gây hiểu nhầm cho người cùng giao tiếp. Một số học sinh viết bài chính tả một cách vội vàng, không có chú ý đến việc viết đúng, chỉ viết xong bài, chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc viết đúng chính tả. Tình hình này đã ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng chữ viết của học sinh tiểu học nhất là đối với các em học sinh lớp 1. Bên cạnh đó, nhiều giáo viên còn có những hạn chế trong việc tổ chức một tiết học sao cho đúng yêu cầu và đạt hiệu quả cao. Chưa vận dụng nhuần nhuyễn việc hình hành kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh, quá trình dạy học còn mang nặng lối truyền thống thầy giảng học sinh nghe mà không có sự tác động qua lại giữa thầy và trò. Một số giáo viên chưa coi trọng việc rèn chữ cho học sinh nên mới chỉ dừng lại ở góc độ đọc, viết, nhận xét chưa thật sự sát sao với học sinh, có tâm lý ngại chấm chữa chính tả cho học sinh. Vì vậy, để khắc phục tình trạng trên và đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Phân môn Chính tả, tôi nhận thấy cần xây dựng các biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh. Xuất phát từ thực tế và những lí do trên, tôi chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 1A trường Tiểu học Thạnh Phú 2”. 1.1. Cơ sở lí luận. a. Chính tả Chính tả là quy ước mà xã hội đặt ra đối với chữ viết để người sử dụng biết viết đúng. Một số quy định về chữ viết tiếng Việt như quy định đánh dấu phụ,
  3. 3 dấu thanh, quy tắc viết hoa tên riêng, quy tắc dùng dấu nối, quy tắc về việc sử dụng phụ âm đầu, vần và thanh điệu là những vấn đề chính tả mà người sử dụng ngôn ngữ hay mắc phải. Chính tả Tiếng Việt bao gồm nhiều yếu tố. Muốn học sinh viết đúng chính tả cần hiểu rõ đặc điểm các yếu tố sau: - Âm: Khi nói, luồng hơi phát ra từ phổi, làm rung các dây thanh ở họng, qua khoang miệng hoặc cả khoang mũi tạo thành âm. Âm gồm nguyên âm và phụ âm. - Chữ cái: Đó là chữ dùng để ghi âm. Bảng chữ cái Tiếng Việt gồm 29 chữ cái: a, ă, â, b, c, d, đ, e, ê, g, h, i, k, l, m, n, o, ô, ơ, p, q, r, s, t, u, ư, v, x, y (Theo Quyết định số 31/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 14/06/2002 của Bộ Giáo dục và Đào tạo). - Tiếng: Tiếng do một hay nhiều âm phát ra cùng một lúc tạo thành. Các yếu tố tạo thành tiếng: âm đầu, vần, thanh. - Chữ: Chữ dùng để ghi tiếng, chữ do một hoặc nhiều chữ cái cùng dấu thanh tạo thành. - Thanh và dấu: Thanh là hiện tượng nâng cao hoặc hạ thấp trong một tiếng. Tiếng Việt có 6 thanh: ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng và được thể hiện bằng 5 dấu. - Từ: Từ gồm một tiếng hoặc một tổ hợp tiếng có ý nghĩa hoàn chỉnh. Vì vậy việc chuẩn hóa và khắc phục lỗi chính tả Tiếng Việt trong nhà trường là một yêu cầu đúng đắn mang đầy đủ tính lí luận, vừa mang tính cấp thiết, vừa mang tính lâu dài. b. Cơ sở tâm lí học Viết chữ và viết đúng không chỉ là những vận động cơ bắp mà còn là những thao tác trí óc của người viết. Kĩ năng chính tả bao gồm các cử động phối hợp thuần thục của ngón tay, bàn tay, cổ tay, cánh tay để sử dụng bút thực hiện đúng các chữ, đảm bảo sự khu biệt và tốc độ viết chữ nhanh. Mức độ thông thạo của chính tả thể hiện ở việc viết đúng các chữ cái ở mọi vị trí cần thiết của chúng, phụ thuộc vào hoạt động cơ bắp và thần kinh của cơ thể trực tiếp tham gia hoạt động viết. Ở lứa tuổi của học sinh lớp 1 ghi nhớ không chủ định giữ vai trò quan trọng, các em thường học thuộc bài một cách máy móc theo tài liệu (đúng từng câu, từng chữ). Sự chú ý vẫn còn gắn với một động cơ ngắn, chẳng hạn: siêng phát biểu để được cô khen, để được bố mẹ thưởng Sự chú ý của các em còn chưa bền vững do quá trình ức chế còn yếu, các em không thể tập trung chú ý lâu vào công việc mà dễ bị phân tán. Vì thế trong quá trình dạy học Tiếng Việt nói chung và quá trình dạy học Chính tả nói riêng, giáo viên cần đa dạng hoá các phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học nhằm duy trì sự chú ý và hứng thú học tập của học sinh. 1.2. Cơ sở thực tiễn
  4. 4 Thực tế hiện nay trong những giờ Chính tả, giáo viên thường thực hiện quá trình dạy học một cách cứng nhắc, làm sao cho hết giờ là hết bài, những kĩ năng chính tả mà học sinh cần được củng cố vẫn chưa được coi trọng. Vì vậy đã gây cho học sinh nhiều khó khăn trong việc hoàn thiện năng lực và thói quen viết đúng chính tả. Bên cạnh đó, việc rèn luyện kĩ năng viết chính tả có đạt được theo đặc điểm chính tả tiếng Việt hay không còn bị chi phối bởi đặc điểm nhận thức của học sinh. Nhiều học sinh viết chưa đúng chính tả do các em không phân tích được cấu tạo của chữ viết, không hiểu được nghĩa của các từ cần viết, không hiểu nội dung của văn bản cần viết, không nắm được ý của từng câu, từng vế câu. Ở nước ta có ba vùng phương ngữ lớn, mỗi vùng có cách phát âm mang màu sắc địa phương và phát âm một số từ lệch chuẩn dẫn đến viết chưa đúng chính tả theo vùng do đó phải tập cho học sinh phát âm đúng, phát âm phù hợp với chuẩn phát âm đã được thừa nhận trong ngôn ngữ hay nói cách khác là đúng chính âm. Qua đó, ta thấy được viết đúng chính tả cho học sinh là một trong các mục tiêu chính của Bậc tiểu học. Việc rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh giúp cho học sinh nắm chắc quy tắc chính tả, học môn Tiếng việt tốt hơn, bên cạnh đó các em ý thức được tầm quan trọng của việc viết đúng chính tả. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, là một giáo viên làm công tác chủ nhiệm và giảng dạy nhiều năm với mong muốn giúp học sinh viết đúng chính tả tôi đã quyết định nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 1A trường Tiểu học Thạnh Phú 2”. 2. Giới hạn đề tài Sáng kiến tập trung nghiên cứu và đưa ra biện pháp nhằm nâng cao kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 1A trường Tiểu học Thạnh Phú 2, năm học 2021 - 2022. B. PHẦN NỘI DUNG 1. Thực trạng Năm học 2021 – 2022, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 1A. Qua quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy lớp mình có những thuận lợi và khó khăn sau: 1.1. Thuận lợi Được sự quan tâm và chỉ đạo của các cấp lãnh đạo về chuyên môn. Tổ chức tập huấn bồi dưỡng giáo viên, cung cấp đủ tài liệu, phương tiện để nghiên cứu, giảng dạy. Ban Giám hiệu nhà trường đặc biệt quan tâm cung cấp đủ đồ dùng, các trang thiết bị nghe nhìn hiện đại.
  5. 5 Bản thân tôi nhiệt tình, tâm huyết với nghề. Được tham gia các lớp tập huấn đổi mới Sách giáo khoa, được tham gia học tập, bồi dưỡng thường xuyên các Mô – đun theo Chương trình GDPT 2018. Phụ huynh quan tâm, mua sắm đủ sách vở, đồ dùng học tập. Thường xuyên nhắc nhở và tạo điều kiện tốt cho con em mình đến lớp cũng như học tập ở nhà. Các em ngoan ngoãn, vâng lời thầy cô giáo, chịu khó trong học tập. 1.2. Khó khăn Một số học sinh còn tồn tại tình trạng phát âm chưa rõ tiếng, một số em nói lắp, nói ngọng dẫn đến phát âm lệch chuẩn; với lứa tuổi này, các em cũng chưa thể hiểu được tầm quan trọng của việc viết đúng chính tả. Nhiều em nhầm lẫn các âm đầu như l/n, ch/tr, s/x, r/d/gi, và nhầm lẫn giữa một số vần. Đặc biệt, trong giờ chính tả nghe – viết, các em thường mất thời gian vào việc xác định âm đầu, vần của một số tiếng, từ nên tốc độ viết chậm. Mặt khác, đầu năm chữ viết của một số học sinh lớp tôi chưa đẹp, ý thức giữ vở viết của các em còn hạn chế và không khí giờ học chính tả thường không sôi nổi. Đa số phụ huynh quan tâm dạy dỗ con cái nhưng lại sử dụng tiếng địa phương để hướng dẫn con học dẫn đến tình trạng học sinh nhầm lẫn, nhận dạng vần sai bởi cách dạy của thầy cô và của ba mẹ bị lệch cách phát âm. * Kết quả khảo sát thực trạng học sinh viết chính tả cuối Học kì 1 năm học 2021 – 2022 ở lớp tôi như sau: Các lỗi thường gặp TSHS Âm đầu Vần Dấu thanh 30 Viết Còn nhầm Viết Còn Viết Còn đúng lẫn đúng nhầm lẫn đúng nhầm lẫn Cuối HK1 14 16 13 17 19 11 Qua khảo sát, tôi nắm được những lỗi chính tả học sinh thường gặp. Từ đó, tôi tìm tòi, học hỏi ở đồng nghiệp để đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp mình. 2. Giải pháp thực hiện 2.1. Rèn phát âm chuẩn cho học sinh Xuất phát từ tình hình thực tế các lỗi chính tả thường gặp ở học sinh, giáo viên hình thành nội dung giảng dạy, xác định các trọng điểm để học sinh viết đúng chính tả. Chúng ta đều biết phương ngữ địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình viết chính tả của học sinh. Vì vậy, tôi yêu cầu học sinh tăng cường luyện đọc, tôi rèn cho các em luyện phát âm hoặc đánh vần những từ, tiếng các
  6. 6 em đọc chưa đúng. Trong các tiết học, tôi đặc biệt chú ý đến luyện phát âm cho học sinh bằng cách đọc nhấn giọng hoặc kết hợp với khẩu hình khi phát âm. Đối với những từ dễ nhầm lẫn, tôi phân loại để hướng dẫn học sinh lắng nghe giáo viên đọc kết hợp quan sát khẩu hình khi phát âm, sau đó yêu cầu học sinh thực hiện lại cho đúng. Vì vậy, khi đọc hay viết các em sẽ chính xác hơn. Ví dụ: * Nhầm lẫn về âm đầu: - Âm /d/: đầu lưỡi hơi thụt vào trong, bật đầu lưỡi cho hơi thoát ra mạnh, dứt khoát. - Âm /gi/: đầu lưỡi gần chạm chân răng, lưỡi hơi ép sát lợi trên, cho hơi thoát ra đường mũi, sau đó mở miệng cho hơi thoát ra trên mặt lưỡi, luồng hơi có thể kéo dài. * Nhầm lẫn về vần: - Vần /ac/: mở miệng rộng, hơi thoát ra gần trong chân lưỡi. - Vần /at/: môi mở hơi rộng, đưa lưỡi chạm vào lợi trên, hơi ra trên mặt lưỡi. * Nhầm lẫn về dấu thanh: - Tiếng có thanh nặng: phát âm thấp giọng và nặng, dứt khoát. - Tiếng có thanh sắc: đọc nhẹ nhàng hơn tiếng có thanh ngã, hơi ngắn, đọc nhanh, không kéo dài. - Tiếng có thanh ngã: đọc hơi kéo dài, luyến giọng, lên cao giọng. - Tiếng có thanh hỏi: đọc dứt khoát, rõ ràng, không kéo dài. Việc rèn phát âm không chỉ được thực hiện trong phân môn Tập đọc mà còn phải thực hiện thường xuyên, liên tục và lâu dài trong các tiết học khác. Đặc biệt, dành nhiều thời gian quan tâm, hướng dẫn những học sinh có vần đề về mặt phát âm như nói ngọng để hướng dẫn các em đọc đúng, từ đó các em sẽ viết đúng chính tả. 2.2. Thực hiện đúng quy trình dạy học phân môn Chính tả Mục đích của phân môn Chính tả là giúp học sinh viết đúng chính tả từ, câu, đoạn. Trong chương trình Tiếng Việt lớp 1 bộ sách Chân trời sáng tạo có hai dạng bài chính: chính tả nhìn – viết và chính tả nghe – viết, được thực hiện từ tuần 15. Để học sinh viết đúng Chính tả, hình thành thói quen trình bày khoa học, viết đúng, viết đẹp tôi luôn thực hiện đúng quy trình dạy học phân môn Chính tả. a. Chính tả nhìn – viết (tập chép) Dạng bài này giúp học sinh tri nhận các vấn đề chính tả bằng thị giác, đặc biệt hữu ích với các trường hợp chính tả phương ngữ. Do vậy, giáo viên cần giúp học sinh đọc lại câu/đoạn cần chép, đặt câu hỏi giúp HS hiểu nghĩa và ghi
  7. 7 nhớ mặt chữ của những từ ngữ có vấn đề chính tả. Giáo viên cần tổ chức cho học sinh giải thích nghĩa của những từ này bằng ngữ cảnh, tranh ảnh/động tác trực quan, đặt câu. Ví dụ: Chính tả nhìn - viết: Bài Bông hoa niềm vui, SGK Tiếng Việt 1 tập 2, trang 27. - Giáo viên yêu cầu học sinh đọc yêu cầu viết chính tả. - Yêu cầu học sinh đánh vần một số tiếng, từ khó đọc, dễ nhầm lẫn: niềm đau, dịu, cơn đau. Hướng dẫn học sinh giải thích nghĩa của những từ đó và đặt câu. - Giáo viên hướng dẫn những điều lưu ý khi nhìn – viết: Đầu câu viết hoa (nếu chữ đó đã được học), lùi đầu dòng 1 ô tập, cuối câu có dấu chấm. - Học sinh nhìn và viết vào vở. - Yêu cầu học sinh dò lại bài. - Yêu cầu học sinh đổi vở theo nhóm đôi để soát và sửa lỗi. - Học sinh chọn biểu tượng đánh giá phù hợp với kết quả bài viết của mình. - Giáo viên nhận xét, chỉnh sửa. b. Chính tả nghe – viết Dạng bài này giúp học sinh luyện tập khả năng chuyển đổi âm thanh được nghe thành chữ viết đúng chính tả, rèn kĩ năng nghe – hiểu đúng nghĩa của từ, câu, đoạn. Do vậy, giáo viên cần giúp học sinh đọc lại câu/đoạn cần viết, đặt câu hỏi giúp học sinh hiểu đúng nghĩa của từ, câu, đoạn cần viết. Trường hợp đoạn cần viết có các tiếng từ khó đọc, dễ mắc lỗi do đặc điểm phương ngữ, giáo viên cần tổ chức cho học sinh đánh vần, nhận diện tiếng dễ mắc lỗi. Ví dụ: Chính tả nghe - viết: Bài Mũ bảo hiểm, SGK Tiếng Việt 1 Tập 2, trang 77. - Giáo viên yêu cầu học sinh đọc yêu cầu viết chính tả và trả lời một số câu hỏi về nội dung câu/ đoạn cần viết: Khi đội mũ bảo hiểm, chúng ta phải làm gì ? Quai mũ phải cài như thế nào ? - Yêu cầu học sinh đánh vần một số tiếng, từ khó đọc, dễ nhầm lẫn: cài khóa, chắc chắn, quai, sát, chật,... Hướng dẫn học sinh giải thích nghĩa của những từ đó và đặt câu. - Giáo viên hướng dẫn những điều lưu ý khi nghe – viết: Đầu câu viết hoa (nếu chữ đó đã được học), lùi đầu dòng 1 ô tập, cuối câu có dấu chấm. Khi giáo viên đọc, học sinh phải lắng nghe và viết vào vở, viết xong cầm bút giơ lên. Nếu học sinh không viết kịp thì giơ tay xin trợ giúp. - HS nghe và viết đoạn văn vào vở, quy trình đọc như sau: + Lần 1: Giáo viên đọc cả đoạn văn cần viết.
  8. 8 + Lần 2: Giáo viên đọc từng cụm từ có nghĩa của một câu, lần lượt hết đoạn văn. + Lần 3: Giáo viên đọc lại cả đoạn để học sinh dò lại bài. - Yêu cầu học sinh đổi vở theo nhóm đôi để soát và sửa lỗi. - Học sinh chọn biểu tượng đánh giá phù hợp với kết quả bài viết của mình. - Giáo viên nhận xét, chỉnh sửa. Ngoài việc viết vào Vở tập viết, tôi còn yêu cầu học sinh viết lại nội dung bài vào vở Chính tả trong giờ học buổi chiều. Như thế, học sinh sẽ khắc phục những lỗi chính tả, viết chữ cẩn thận hơn, từ đó các em ghi nhớ cách viết đúng, nâng cao kĩ năng viết đúng chính tả và chữ viết ngày càng tiến bộ hơn. 2.3. Giúp học sinh hiểu nghĩa từ - ghi nhớ từ Để giúp học sinh viết đúng chính tả, thì việc giúp học sinh hiểu được nghĩa của từ là một điều vô cùng quan trọng. Hiểu được nghĩa của từ là một trong những cơ sở giúp các em viết đúng chính tả. Đó là đặc trưng về phương diện ngôn ngữ của chính tả Tiếng Việt, giúp học sinh giải quyết được những lỗi chính tả do ảnh hưởng theo cách phát âm phương ngữ. Học sinh lớp tôi viết chưa đúng chính tả, phần lớn do các em không nắm được nghĩa của từ. Vì thế, khi dạy chính tả hoặc các môn học khác, tôi luôn chú trọng đến những việc sau: - Hiểu nghĩa của từ, phân biệt những từ ngữ có âm đầu hoặc phần vần, dấu thanh dễ nhầm lẫn để các em ghi nhớ cách viết của mỗi từ. Ví dụ: Khi đọc một từ có hình thức ngữ âm là “chanh” thì học sinh sẽ lúng túng trong việc xác định hình thức chữ viết của từ này. Nhưng nếu đặt vào một ngữ cảnh hoặc gắn cho nó một nghĩa xác định giúp học sinh hiểu đúng nghĩa của từ như: Quả chanh rất chua; Các bạn đang vẽ tranh. Bên cạnh đó, trong các tiết Tập đọc, sau phần Luyện đọc sẽ là phần mở rộng vốn từ. Học sinh sẽ tìm các từ ngoài bài chứa vần theo yêu cầu, và đặt câu với từ ngữ vừa tìm. Hoạt động này giúp học sinh tự tìm một từ và tự tìm ngữ cảnh cho từ đó. Các em sẽ nắm được nghĩa của từ dễ dàng và làm điểm tựa cho trí nhớ. Ví dụ: Bài Ngưỡng cửa, SGK Tiếng Việt 1 Tập 2 trang 74. - Yêu cầu học sinh tìm tiếng ngoài bài có vần an, ang: bàn, bàng. - Học sinh đặt câu với từ vừa tìm được: Cái bàn được làm bằng gỗ; Cây bàng che bóng mát cho chúng em. - Sau khi đặt câu, học sinh sẽ hiểu nghĩa của từ: bàn – cái bàn; bàng – cây bàng.
  9. 9 Ngoài việc đặt từ vào trong một ngữ cảnh để giải nghĩa, tôi còn đưa những từ dễ nhầm lẫn vào các cụm từ giúp các em hiểu nghĩa từ dễ dàng hơn: Ví dụ: * Phân biệt bông/bong bông – thỏ bông; bong – bong bóng. * Phân biệt sửa/ sữa sửa – sửa bài; sữa – hộp sữa. Vì vậy, để học sinh viết đúng chính tả tôi cho học sinh hiểu nghĩa từ trong bài đọc, hiểu câu, hiểu nội dung cơ bản của bài đọc. Trước khi viết bài chính tả, tôi gợi ý, hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài viết. Như vậy, khi viết chính tả, học sinh bắt đầu đã có vốn từ, nắm được nội dung bài, học sinh sẽ tự đọc – phân tích – viết đúng, đặc biệt là những tiếng, từ viết khó, hạn chế sự mắc lỗi. 2.4. Sử dụng linh hoạt hệ thống bài tập Bên cạnh việc rèn phát âm chuẩn, giáo viên cần sử dụng linh hoạt hệ thống bài tập để giúp cho học sinh nâng cao kĩ năng viết đúng chính tả. Bài tập chính tả giúp học sinh nhận biết những tri thức chính tả qua các giờ thực hành luyện tập, qua một loạt thao tác để tạo ra cách viết chữ đúng đó là những thao tác như: điền âm, vần, tiếng đúng vào chổ trống để tạo ra từ có nghĩa, lựa chọn những từ điền vào chỗ trống, tìm từ có phụ âm, vần, tiếng theo yêu cầu , bài tập chính tả lựa chọn những hiện tượng chính tả để qua đó cung cấp tri thức chính tả và được trình bày dưới nhiều hình thức bài tập. Mỗi phần chính tả Âm vần đều đã cung cấp một vài bài tập, được tiến hành trong thời gian còn lại của tiết học, nhiệm vụ của giáo viên và học sinh là giải quyết các bài tập này để rèn kỹ năng chính tả. a. Sử dụng bài tập điền từ để sửa lỗi phụ âm đầu Đây là loại bài tập mà đề bài đưa ra một số từ, câu, đoạn văn hoặc câu đố trong đó có một số tiếng chứa các âm, vần dễ nhầm lẫn. Yêu cầu học sinh tìm các tiếng, âm, vần thích hợp điền vào chỗ trống để được các từ, câu, đoạn văn đúng. Để thực hiện bài tập này học sinh phải có kiến thức cơ bản về ngữ âm, các em phải đọc để hiểu nghĩa của từ có chứa đơn vị cần điền. Việc sử dụng loại bài tập này giúp các em phân biệt được các âm, vần dễ nhầm lẫn khi viết. * Âm đầu c/k; g/gh; ng/ngh: Ví dụ 1: Bài Cầu vồng, SGK Tiếng Việt 1 tập 2 trang 41. Điền c hoặc k: cái kén; con kênh; kính thiên văn. Ví dụ 2: Bài Mâm cơm ngày Tết ở Huế, SGK Tiếng Việt 1 tập 2 trang 50. Điền g hoặc gh: gói bánh chưng; làm mứt gừng; lau bàn ghế.
  10. 10 Ví dụ 3: Bài Những bông hoa nhỏ trên sân, SGK Tiếng Việt 1 tập 2 trang 30. Điền g hoặc gh: nguệch ngoạc; ngay ngắn; ngộ nghĩnh. Đối với dạng bài tập này, tôi yêu cầu học sinh ghi nhớ Quy tắc chính tả e, ê, i: - Viết k, gh, ngh khi đứng trước các âm chính: i, ê, e, iê, ia. Ví dụ: kí, kể, nghe, ghiền, nghía, - Viết c, g, ng khi đứng trước các âm còn lại. Ví dụ: ca, gỗ, ngọc, gương, cuốc, Để học sinh ghi nhớ quy tắc này, tôi treo bảng quy tắc trên tường lớp học để quan sát hằng ngày, thường xuyên nhắc lại trong các giờ học chính tả, từ đó học sinh viết đúng chính tả. * Âm đầu r/g, s/x, ch/tr, d/gi: Ví dụ 1: Bài Ban mai trên bản, SGK Tiếng Việt 1 tập 2 trang 110. Điền r hoặc g: ga Đồng Đăng; ruộng bậc thang Sa Pa; rừng Cúc Phương. Ví dụ 2: Bài Làng gốm Bát Tràng, SGK Tiếng Việt 1 tập 2 trang 113. Điền s hoặc x: bãi xương rồng; đồi sim; dòng sông ngoằn ngoèo. Ví dụ 3: Bài Mâm cơm ngày Tết ở Huế, SGK Tiếng Việt 1 tập 2 trang 50. Điền d hoặc gi: dựng cây nêu; đi du lịch; cắt giò lụa. Với dạng bài này, các em còn nhầm lẫn chủ yếu do phương ngữ, vì vậy bên cạnh việc hướng dẫn học sinh phát âm chuẩn, tôi còn yêu cầu học sinh dựa vào nghĩa của từ để điền đúng những âm đầu dễ nhầm lẫn. b. Sử dụng bài tập điền từ để sửa lỗi phần vần Tương tự như hệ thống bài tập để rèn kỹ năng viết đúng phụ âm đầu, bài tập điền từ cũng được sử dụng trong việc rèn kỹ năng viết đúng phần vần rất hiệu quả. Việc sử dụng loại bài tập này giúp các em phân biệt được các âm, vần dễ lẫn lộn khi viết. Ví dụ 1: Bài Làm bạn với bố, SGK Tiếng Việt 1 tập 2 trang 56. Điền vần iêm hoặc im: tiêm thuốc ; chơi trốn tìm; nuôi chim sáo. Ví dụ 2: Bài Những trò chơi cùng ông bà, SGK Tiếng Việt 1 tập 2 trang 59. Điền vần ôm hoặc ơm:
  11. 11 nấu cơm; câu tôm; chó đốm. Ở bài tập trên, tôi hướng dẫn học sinh có thể dựa vào các vần đã học, dựa vào nghĩa của từ hoặc có thể dùng phương pháp loại trừ để chọn đúng vần. c. Sử dụng bài tập điền từ để sửa lỗi dấu thanh Tiếng Việt là ngôn ngữ có 6 thanh điệu, trong đó có 5 thanh được thể hiện trên chữ viết (huyền, ngã, hỏi, sắc, nặng) và 1 thanh không dấu (thanh ngang). Nhưng có hai dấu thanh học sinh dễ nhầm lẫn là thanh hỏi và thanh ngã, tôi cũng hướng dẫn học sinh dựa vào nghĩa của từ để điền cho đúng. Ví dụ: Bài Cô chổi rơm, SGK Tiếng Việt 1 tập 2 trang 72. Điền dấu hỏi hoặc dấu ngã vào các từ in đậm: Cái rổ; cái đĩa; đôi đũa. Như vậy, trong giảng dạy, ngoài các bài tập trong sách giáo khoa, giáo viên cần kết hợp thêm các dạng bài tập nhằm củng cố và nâng cao kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh. 2.5. Tổ chức trò chơi học tập Hiện nay, để học sinh vừa học vừa trải nghiệm luôn là mục tiêu mà nền giáo dục Việt Nam hướng tới. Học sinh đến trường không phải chỉ để ghi nhớ và thực hành những bài tập khô khan. Các em cũng cần phải có một tinh thần thoải mái, hưng phấn thì mới có thể đạt được những kết quả tốt. Để giải quyết mỗi lo ngại đó, tôi đã đổi mới tiết dạy trong cách tổ chức dạy học bằng việc tổ chức các trò chơi học tập. Thực chất, đây cũng chính là một loại bài tập yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức của mình để hoàn thành nhiệm vụ của đề bài đặt ra. Trong quá trình học tập, học sinh thường cảm thấy căng thẳng, mệt mỏi nhưng với việc đa dạng hoá các hình thức học tập, giáo viên sẽ giúp học sinh vừa học lại vừa chơi có hiệu quả, giải tỏa căng thẳng cho các em. Qua trò chơi, học sinh vừa củng cố kiến thức vừa được mở rộng thêm vốn từ ngữ, hiểu và nắm được nghĩa của các từ, đồng thời rèn cho học sinh khả năng hợp tác khi tham gia trò chơi. a. Trò chơi áp dụng cho dạng bài chính tả sửa lỗi phụ âm đầu * Trò chơi: Nhanh tay, nhanh mắt - Minh họa: Bài chính tả: “Nghe – viết: Mâm cơm ngày Tết ở Huế”. - Mục tiêu: Giúp các em phân biệt phụ âm đầu dễ nhầm lẫn ch/tr, hiểu thêm nghĩa các từ, ghi nhớ quy tắc chính tả từ đó hình thành kĩ năng viết đúng. - Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị các hình ảnh: bánh chưng, nem, chả, tôm chua, thịt luộc, gà bóp rau răm, mít trộn. - Cách tiến hành: Giáo viên chọn 2 đội tham gia, mỗi đội 4 bạn, xếp thành hàng dọc. Các bạn còn lại vỗ tay cổ vũ. Giáo viên quy định thời gian chơi và phổ biến luật chơi: Các em sẽ được quan sát, nhận diện các hình ảnh này trong
  12. 12 vòng 1 phút. Khi giáo viên hô bắt đầu thì học sinh đầu hàng sẽ chạy lên bảng viết tên hình ảnh mà mình quan sát được, viết xong quay trở về cuối hàng cho bạn tiếp theo lên viết. Tiếp tục như vậy đến khi hết thời gian quy định, đội nào viết nhanh đúng nhiều từ hơn sẽ là đội chiến thắng. Kết thúc trò chơi, giáo viên tiến hành nhận xét quá trình tham gia trò chơi của 2 đội. Yêu cầu HS quan sát, giới thiệu lại hết các hình ảnh sau đó nhận xét những từ viết ch/tr để các em ghi nhớ. Hình ảnh học sinh tham gia trò chơi b. Trò chơi áp dụng cho dạng bài chính tả sửa lỗi phần vần * Trò chơi: Ong tìm tổ - Minh họa: Bài chính tả: “Nhìn – viết: Chuyện xảy ra trên đường”. - Mục tiêu: Giúp các em phân biệt các vần dễ nhầm lẫn ai/ay, hiểu thêm nghĩa các từ, hình thành kĩ năng viết đúng. - Chuẩn bị: Trình chiếu powerpoint. - Cách tiến hành: Giáo viên chọn 2 đội tham gia, mỗi đội 3 bạn. Các bạn còn lại vỗ tay cổ vũ. Giáo viên phổ biến luật chơi: Mỗi đội sẽ lần lượt chọn chú ong có chứa từ, sau đó tìm tổ chứa vần phù hợp. Mỗi lượt chọn đúng sẽ được 1 điểm. Đội nào được nhiều điểm sẽ là đội chiến thắng. Kết thúc trò chơi, giáo viên tiến hành nhận xét quá trình tham gia trò chơi của 2 đội. Yêu cầu HS đọc
  13. 13 lại các từ có vần ai và ay để học sinh ghi nhớ. Hình ảnh trò chơi Ong tìm tổ Như vậy, để giúp học sinh có thêm hứng thú với những giờ học, giáo viên nên thay đổi hình thức học tập bằng cách tổ chức trò chơi học tập. Những trò chơi ấy vừa giúp học sinh khắc sâu kiến thức hiệu quả, vừa tạo không khí sôi nổi, bớt nhàm chán cho các em. 2.6. Hướng dẫn học sinh viết đúng chính tả khi chữa bài Ngoài việc cho học sinh luyện thêm cái bài tập chính tả, việc hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi và sửa lỗi trong bài viết cũng rất quan trọng. Sau khi học sinh viết xong bài chính tả, tôi thường cho học sinh sửa lỗi chính tả theo nhóm đôi. Tôi tổ chức cho học sinh đổi vở và soát lỗi cho nhau và quy định cụ thể: dùng bút chì gạch chân những từ bạn viết chưa đúng, tổng hợp số lỗi rồi đưa lại để bạn tự sửa lỗi. Khi nhận xét bài chính tả, tôi giúp học sinh nhận ra được các lỗi chính tả qua các câu hỏi: - Trong bài chính tả em mắc viết chưa đúng những từ nào ? - Những từ đó viết chưa đúng ở phần nào ? Việc làm này giúp học sinh tự phát hiện và ý thức được những lỗi mà mình viết chưa đúng, sau đó viết lại các lỗi đó vào bên ngoài cột lỗi, nếu gặp phải các lỗi này học sinh sẽ thận trọng hơn trong khi viết. Nếu học sinh chưa tự phát hiện lỗi, giáo viên đưa ra từ viết đúng, yêu cầu học sinh phân tích tiếng rồi đối chiếu với từ mình viết, các em sẽ nhận ra được lỗi của bản thân và có ý thức viết đúng chính tả. 2.7. Tăng cường khen thưởng, động viên sự tiến bộ của học sinh Song song với các biện pháp trên, tôi thường dùng biện pháp tổ chức cho học sinh: “Thi viết đúng, viết đẹp” các từ khó ở đầu giờ học, các em rèn viết trong bảng con, giáo viên nhận xét khen thưởng động viên khích lệ tinh thần học tập của học sinh. Đối với học sinh viết đúng, viết đẹp, trình bày sạch sẽ, tôi thường khuyến khích, khen thưởng các em bằng những phần thưởng nhỏ như: cây bút, thước kẻ kết hợp tuyên dương trước lớp để các bạn noi gương. Đối với những học sinh mắc nhiều lỗi, tôi dành thời gian vào giờ ra chơi hoặc đầu giờ học để hướng dẫn em đọc lại các từ cho đúng, phân tích những lỗi chính tả và yêu cầu học sinh viết lại cho đúng. Tôi luôn dành thời gian để nhận xét bài của học sinh, giúp các em nhận ra những điều cần khắc phục. Bên cạnh đó, tôi cũng động viên, khích lệ học sinh khi các em viết có tiến bộ dù là nhỏ nhất, từ đó các em có động lực học tốt. Do vậy, việc khích lệ, động viên để các con có thêm động lực viết đúng chính tả trong các giờ học là vô cùng cần thiết đối với học sinh lớp 1. Việc động viên học sinh bằng những phần thưởng nhỏ chính là món quà tinh thần quý giá góp phần
  14. 14 tạo nên sự hứng thú trong học tập, giúp các con phát huy được hết khả năng của mình. Hình ảnh nhận xét bài viết của học sinh 2.8. Phối hợp với Phụ huynh học sinh Đối với học sinh lớp 1, việc rèn luyện kĩ năng viết đúng chính tả không chỉ có bàn tay của cô giáo mà còn có sự hỗ trợ rất lớn của cha mẹ các em. Vì vậy, tôi tăng cường công tác tuyên truyền đến phụ huynh ý nghĩa của việc viết đúng chính tả của học sinh lớp 1. Phối hợp với phụ huynh tạo môi trường học tập ở nhà qua việc nói đúng, phát âm chuẩn để các em hình thành thói quen nói đúng, khi đó các em sẽ viết đúng chính tả. Mỗi ngày, tôi đều yêu cầu học sinh xem và viết sẵn bài học ở lớp, điều này giúp các em chủ động hơn trong học tập, hỗ trợ các em trong các tiết chính tả. Vì vậy, tôi phối hợp với phụ huynh dành nhiều thời gian nhắc nhở, kiểm tra việc luyện viết của các em. Thường xuyên trao đổi đến phụ huynh tình hình học tập của học sinh ở lớp để từ đó có biện pháp kịp thời giúp đỡ, hỗ trợ các em. Bằng sự phối hợp nhịp nhàng giữa nhà trường và gia đình, các em sẽ dần nâng cao kĩ năng viết đúng chính tả, từ đó nâng cao chất lượng học tập. 3. Tính hiệu quả Sau khi nghiên cứu, tìm hiểu về thực trạng của học sinh lớp mình, đồng thời tìm ra các biện pháp khắc phục, tôi thu được kết quả rất khả quan: - Trong các tiết Chính tả học sinh học tập tích cực, hăng hái giơ tay phát biểu ý kiến. - Học sinh hiểu nghĩa của từ - ghi nhớ từ, đọc tốt và nắm được quy tắc chính tả. Nên khi làm các dạng bài tập điền âm vần, các em đều thực hiện tốt và viết đúng câu chứa từ vừa điền.
  15. 15 - Số lượng học sinh viết đúng chính tả, khắc phục được tình trạng nhầm lẫn giữa các âm đầu, các vần và dấu thanh tăng lên rõ rệt. - Các em trình bày bài viết sạch sẽ, chữ viết đẹp, tốc độ viết đạt yêu cầu, biết giữ gìn sách vở cẩn thận. Số liệu cụ thể được thể hiện qua bảng thống kê sau: Các lỗi thường gặp TSHS Âm đầu Vần Dấu thanh 30 Viết Còn Viết Còn Viết Còn đúng nhầm lẫn đúng nhầm lẫn đúng nhầm lẫn Cuối HK1 14 16 13 17 19 11 Giữa HK2 22 8 21 9 25 5 Cuối HK2 30 0 30 0 30 0 Qua bảng thống kê trên cho thấy số lượng học sinh viết còn mắc lỗi đã giảm rõ rệt và đến cuối năm không còn học sinh viết chưa đúng chính tả. Qua đó thấy được biện pháp mà tôi thực hiện đã đạt kết quả đáng phấn khởi, các em học tập tiến bộ rõ rệt. Với quyết tâm và phương pháp vừa sửa lỗi vừa động viên khen thưởng. Giờ đây, tôi rất phấn khởi khi giảng dạy. Tôi thiết nghĩ đạt được kết quả này cũng chính là nhờ sự cố gắng rèn luyện không ngừng của học sinh, và các em đã nhận thấy tầm quan trọng của phân môn Chính tả. C – PHẦN KẾT LUẬN 1. Phạm vi áp dụng - Phạm vi áp dụng: Học sinh lớp 1A trường Tiểu học Thạnh Phú 2. - Kế hoạch nghiên cứu: Tôi tiến hành nghiên cứu trên học sinh lớp tôi từ cuối học kì 1 đến cuối học kì 2 năm học 2021 - 2022. 2. Điều kiện áp dụng Phạm vi áp dụng sáng kiến tại trường Tiểu học Thạnh Phú 2, năm học 2021 – 2022 và có khả năng áp dụng rộng rãi ở các khối lớp, nhất là khối lớp 1. Đồng thời, mong muốn phạm vi áp dụng của sáng kiến sẽ được nhân rộng hơn ở các đơn vị trường Tiểu học trên địa bàn huyện Cờ Đỏ. Giáo dục Tiểu học là nền tảng vững chắc để học sinh học tiếp lên các lớp trên. Chính vì vậy đòi hỏi các em phải nắm chắc kiến thức cơ bản, phải đọc thông viết thạo thì mới tiếp nhận được kiến thức của các môn học trong chương trình. Để nâng cao chất lượng học tập của học sinh thì điều quan trọng bản thân mỗi giáo viên phải nhận thức tầm quan trọng của việc viết đúng chính tả. Giáo
  16. 16 viên cần phải nắm vững chuyên môn, những kiến thức về ngữ âm Tiếng Việt để phát hiện, phân tích và sửa lỗi chính tả trong bài viết, giúp học sinh viết đúng chính tả. Làm được điều này, đòi hỏi người giáo viên phải có lòng yêu nghề mến trẻ, kiên trì, nhẫn nại quan tâm đến học sinh, đặc biệt là những học sinh còn chậm, viết chưa đúng chính tả. Không chỉ có vậy, người giáo viên cần phải lựa chọn, phối hợp sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với nội dung từng bài, với đối tượng học sinh, tạo điều kiện cho các em chủ động tìm và lĩnh hội kiến thức. Bên cạnh đó, mỗi người giáo viên phải không ngừng học tập, nâng cao kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp để có bản lĩnh sư phạm vững vàng. Trong giờ học, giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, định hướng hoạt động cho các em. Vì vậy người giáo viên cần không ngừng học hỏi, tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy học để giờ học sôi nổi, học sinh hào hứng học tập tiếp thu bài một cách chủ động. Học sinh lớp 1 rất thích được khen, lời khen kịp thời sẽ giúp các em có hứng thú học tập và nhanh tiến bộ. Do vậy, giáo viên phải biết động viên khuyến khích các em kịp thời, giúp các em tự tin hơn trong học tập. Qua biện pháp mà tôi đã áp dụng vào thực tiễn lớp học, tôi nhận thấy biện pháp đạt hiệu quả rất cao. Vì vậy, bản thân tôi sẽ tiếp tục áp dụng trong công tác giảng dạy và sẽ không ngừng học tập, trao đổi cùng đồng nghiệp để hoàn thiện bản thân góp phần hoàn thành sư mệnh của người giáo viên là giáo dục học sinh trở thành người công dân có ích, xứng đáng là những chủ nhân tương lai của đất nước, xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp. Trên đây là đề tài sáng kiến kinh nghiệm“Một số biện pháp nâng cao kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 1A trường Tiểu học Thạnh Phú 2” mà tôi đã nghiên cứu và áp dụng thành công trong năm học 2021 – 2022. Rất mong sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học các cấp để đề tài được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn ! Thạnh Phú, ngày 15 tháng 4 năm 2023 Người viết Nguyễn Thị Ngọc Quyên
  17. 17 Ý KIẾN NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG: ------------------------------------------------------------------------------------------------- ------------------------------------------------------------------------------------------------- ------------------------------------------------------------------------------------------------- -------------------------------------------------------------------------------------------------