SKKN Một số biện pháp rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2A trường TH Thạnh Phú 2 NH 2021-2022 (Trần Văn Chơn)
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2A trường TH Thạnh Phú 2 NH 2021-2022 (Trần Văn Chơn)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_ren_ky_nang_viet_dung_chinh_ta_cho_hoc.doc
Nội dung text: SKKN Một số biện pháp rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2A trường TH Thạnh Phú 2 NH 2021-2022 (Trần Văn Chơn)
- ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 2A, TRƯỜNG TIỂU HỌC THẠNH PHÚ 2 A - PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việc dạy phân môn chính tả của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học hiện nay đã có hiệu quả ngày càng cao, ngành giáo dục không ngừng thay đổi nội dung, chương trình cũng như thay đổi cách học, các phương pháp và hình thức dạy phù hợp theo hướng tích cực phát huy năng lực người học nhằm mang lại hiệu quả cao hơn. Nhưng dù mang lại hiệu quả ngày càng cao và bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế. Một số giáo viên tiểu học về công tác bồi dưỡng, rèn luyện cho học sinh viết đúng chính tả còn hạn chế, chữ viết còn chưa đúng, chưa đẹp; một số học sinh còn chậm chưa nắm được quy tắc viết chính tả, chưa hiểu nghĩa của từ, chưa có ý thức, cách thức phân tích, so sánh giữa các từ để viết cho đúng chính tả. Qua nhiều năm được phân công giảng dạy nhiều khối lớp: 1,4,3,5,2 tại trường tôi thấy còn nhiều học sinh khi viết chính tả chỉ nghe giáo viên phát âm để viết đúng chữ mà không coi trọng nghĩa của từ, không phân tích âm ,vần; không nắm được nguyên tắc chính tả hoặc viết theo âm tiếng địa phương dẫn đến các em mắc nhiều lỗi chính tả. Theo bản thân nếu muốn học sinh viết chính tả tốt hơn cần giáo dục cho các em tính kỉ luật, cẩn thận, óc thẫm mĩ, cách thức phân tích, so sánh, hiểu nghĩa của từ, Bản thân tôi viết sáng kiến này nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao tay nghề và đặc biệt nhằm giúp học sinh khắc sâu kiến thức biết, hiểu từ đó bản thân các em vận dụng vào học tập, vào cuộc sống một cách hiệu quả, để chữ viết các em ngày càng tốt hơn và vững vàng trên con đường tương lai sau này của các em. Xuất phát từ những lý do trên mà bản thân không ngừng nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân viết sai lỗi chính tả của các em để bản thân đưa ra một số biện pháp nhằm giúp các em viết đúng chính tả hơn làm tiền đề để giúp các em nắm vững nguyên tắc viết đúng chính tả ở bậc tiểu học làm nền tảng bước vào bậc trung học cơ sở một cách vững chắc. Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài: Một số biện pháp rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2A, Trường Tiểu học Thạnh Phú 2 . * Cơ sở lý luận Mục tiêu dạy môn Tiếng Việt cho học sinh trong trường học hiện nay là phải rèn luyện cho học sinh sử dụng thành thạo ngôn ngữ Tiếng Việt. Ngôn ngữ thường được thể hiện ở hai dạng chính là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Nhiệm
- 2 vụ của người giáo viên là phải làm sao để học sinh có kỹ năng sử dụng tốt cả hai dạng ngôn ngữ này để các em áp dụng trong giao tiếp hàng ngày. Trong việc rèn kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cho học sinh, chúng ta không được phép coi trọng việc rèn dạng ngôn ngữ này hay xem nhẹ việc rèn dạng ngôn ngữ kia. Tuy nhiên, trong thực tế dạng ngôn ngữ viết là dạng ngôn ngữ luôn được thể hiện tường minh. Lời nói có thể “ gió bay”, nhưng chữ viết thì sẽ được lưu lại trên giấy. “ Chữ viết là nết người”, nhìn chữ viết ta có thể biết người đó cẩn thận hay cẩu thả, gọn gàng hay luộm thuộm Trong các phân môn của môn Tiếng Việt, chính tả là một trong những phân môn có vai trò quan trọng nhằm rèn và phát triển kỹ năng viết đúng cho học sinh làm phương tiện cho việc giao tiếp bằng chữ viết một cách thuận tiện, chính xác thể hiện vai trò của người tri thức trong công việc hay trong cuộc sống. * Cơ sở thực tiễn Thực tiễn cho thấy học sinh tiểu học viết sai chính tả nhiều nhất là học sinh miền Nam do ngôn ngữ địa phương các em sử dụng đã quen, người soạn sách giáo khoa đa số nội dung ngôn ngữ miền bắc là chủ yếu, cách phát âm của các em chưa chuẩn, chưa đúng. Việc viết đúng chính tả đòi hỏi người học phải kiên trì rèn luyện, người dạy phải có lòng nhiệt tình, yêu nghề, tận tụy và thương yêu học sinh và các yếu tố khác như: ánh sáng, bàn ghế, tư thế ngồi viết, cách cầm bút, cách đặt vở cùng với sự hướng dẫn cũng như kỹ năng sư phạm của giáo viên là rất quan trọng. Tuy nhiên phân môn chính tả với sự phân phối chương trình ở các lớp mỗi tuần 1 hoặc 2 tiết và có thể nhiều hơn nhưng dù tất cả giáo viên đã có nhiều cố gắng nhưng đối với lớp tôi giảng dạy nói riêng và các lớp khác, trường khác vẫn còn tồn tại và hạn chế về lỗi chính tả. Trong quá trình giảng dạy bản thân rút ra được những lỗi chính tả mà học sinh thường hay mắc phải: - Lỗi về phụ âm đầu: Lẫn lộn giữa các âm đầu do các em phát âm chưa đúng hoặc chưa hiểu nghĩa: ch/tr: trốn/chốn; h/th: hang/ thang s/x: sẻ/xẻ; qu/v: que/ve g/gh: gế/ghế c/k: ca/ka d/r/gi: da/ra/gia t/ th: tay/thay m/n: nếu/mếu ng/ngh: nge/nghe l/n: làm/ nàm - Lỗi về vần: Lẫn lộn giữa các vần do các em phát âm chưa đúng hoặc chưa hiểu nghĩa:
- 3 ai/ay: tai/tay an/ang: lan/lang ong/ông: con ong/ông cha it/ich:chi chít/chi chích at/ac: bát/bác iu/iêu/êu: đìu/điều/đều ui/uôi: cúi/cuối un/ung: run/rung oi/ôi: voi/ vôi in/inh: xin/ xinh oan/oang: loan/ loang au/ao: cau/ cao ăn/ ăng: trăn /trăng - Lỗi về dấu thanh: lẫn lộn giữa thanh hỏi và thanh ngã do các em phát âm chưa đúng hoặc chưa hiểu nghĩa: sẻ/sẽ bổng/bỗng mải/mãi; củng/cũng ngủ/ngũ mỗi/ mỏi lỗi/ lổi - Lỗi về viết hoa do không hiểu, không phân biệt thế nào là danh từ riêng: Học sinh không viết hoa chữ đầu câu, sau dấu chấm, đặc biệt sai nhiều không viết hoa danh từ riêng. - Lỗi về dấu câu: học sinh còn sai nhiều cách đặt dấu câu đặc biệt khi làm các bài tập các em đặt dấu phẩy, dấu chấm một cách tùy tiện theo ý thích. - Lỗi về người giáo viên: khi đọc phát âm chưa rõ ràng về âm, vần, dấu thanh làm cho học sinh lẫn lộn dẫn đến các em sai lỗi chính tả. An: đọc đầu lưỡi chạm vào hàm trên Ang; đọc hở môi Thanh hỏi: đọc hơi ngắn Thanh ngã: đọc kéo dài hơn Ch: đọc nhẹ và hở môi Tr: đọc hơi nặng và chạm đầu lưỡi ở hàm trên, Loại vở các em ghi hàng ngày loại giấy chưa tốt, bút dùng không đúng quy định, cách cầm bút, cách đặt vở, tư thế ngồi chư phù hợp mà các em đã thành thói quen từ các lớp dưới mà người giáo viên không uốn nắn, sửa sai kịp thời.
- 4 Một số em phát âm sai phụ âm đầu, sai dấu thanh, vần do ngọng, lưỡi to, do người giáo viên đọc chưa đúng để các em bắt chước đọc theo dẫn đến các em sai cách phát âm và từ đó dẫn đến viết sai. Chữ viết các em còn tùy tiện: viết quá nhanh, viết ẩu, trình bày tùy tiện không rõ ràng do nhiều nguyên nhân như tính cách của các em, chữ viết của giáo viên xấu, không đúng mẫu, chiều cao, nét chữ, Do thói quen đọc thế nào thì viết thế ấy, không hiểu nghĩa của từ, lỗi về phương ngữ, một số từ ngữ chưa phù hợp do thường hay sử dụng các từ ngữ ở miền bắc là đa số. Sáng kiến đã giúp cho các em giảm bớt tối thiểu một số lỗi chính tả thường mắc phải, giải quyết được sự khó khăn, trăn trở của giáo viên khi dạy phân môn chính tả. Giúp cho giờ học chính tả nhẹ nhàng hơn, rút ngắn thời gian không bị cháy giáo án, giáo viên không còn ngán ngại khi dự giờ chính tả tại lớp mình; chất lượng phân môn chính tả ở các lần kiểm tra đình kì chất lượng hơn. Một số phương pháp, hình thức sử dụng trong đề tài sáng kiến nhằm giúp các em học tốt phân môn chính tả: Chia sẽ, hợp tác, thảo luận; đàm thoại - gợi mở; phân tích - so sánh; giải nghĩa từ; luyện tập - thực hành, Số liệu thống kê: Đầu năm học tôi được Ban giám hiệu phân công chủ nhiệm lớp 2A. Sau khi kiểm tra chất lượng chính tả đầu năm tôi nhận thấy : Kết quả kiểm tra chất lượng đầu năm : Lớp 2A: 30 học sinh /16 học sinh nữ. Điểm 9-10: 3 học sinh Điểm 7-8 : 6 học sinh Điểm 5-6 : 11 học sinh Điểm dưới 5: 10 học sinh Một số học sinh viết chữ chưa đẹp, sai chính tả, chữ viết lem nhem, đầy vết bẩn. 2. Giới hạn đề tài - Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu dựa vào kinh nghiệm trong nhiều năm giảng dạy lớp 2. Bên cạnh đó bản thân cũng tham khảo thêm nhiều sách, báo, tài liệu, học hỏi đồng nghiệp... phân môn chính tả trong môn Tiếng Việt ở chương trình tiểu học. - Thực hiện: Lớp 2A – Trường Tiểu học Thạnh Phú 2. B - PHẦN NỘI DUNG I. Thực trạng vấn đề 1. Thuận lợi: - Nhìn chung cơ sở vật chất đảm bảo cho việc dạy và học. - Chất lượng học sinh của trường luôn được chú trọng và nâng cao do Ban giám hiệu nhà trường có năng lực chuyên môn và năng lực quản lí tốt. Thường
- 5 xuyên tổ chức các hoạt động chuyên đề, thao giảng qua đó trao đổi và rút ra được nhiều kinh nghiệm. - Đội ngũ giáo viên của nhà trường đều có trình độ chuẩn trở lên, nhiệt tình trong công tác. - Các em học sinh chăm ngoan, tích cực tham gia hoạt động học tập, mạnh dạn tự tin trình bày những ý kiến cá nhân. Một số em nắm bắt nhanh, trí nhớ tốt, viết bài chính tả đạt kết quả cao. 2. Khó khăn: Nhưng vẫn còn nhiều em mắc lỗi chính tả do nhiều nguyên nhân khác nhau mà giáo viên chưa khắc phục được như: phương ngữ chưa phù hợp, chưa nắm nghĩa của từ, phát âm chưa đúng, ít dùng biện pháp so sánh nghĩa của từ, Từ những vấn đề trên, qua tìm tòi, nghiên cứu bản thân rút ra một số kinh nghiệm khi dạy chính tả cho các em thì cần kết hợp những ưu điểm của cách làm cũ và vận dụng vào cách làm mới để giúp các em học tốt chính tả bằng cách dạy chính tả cho các em thông qua nhiều phương pháp, nhiều hình thức, nhiều môn học, thông qua các bài tập, trò chơi, Vì làm như thế nhằm giúp các em nắm vững được căn bản ngôn ngữ nói, viết, hiểu được ý nghĩa chính xác từ ngữ. Có như vậy các em mới khắc sâu kiến thức và học tốt được phân môn chính tả. 3. Yêu cầu đặt ra: Để giúp học sinh viết đúng chính tả, chữ viết rõ ràng, viết nhanh và viết đẹp trong dạy học phân môn chính tả lớp 2, người giáo viên cần phải phối hợp các phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học Tiếng Việt rất đa dạng. Muốn làm được điều đó, giáo viên phải thực hiện: - Nắm vững chương trình, phát âm chuẩn, chữ viết đúng mẫu, chữ viết đẹp. - Nắm vững đặc trưng phương pháp bộ môn. - Sưu tầm tư liệu, tranh ảnh để minh hoạ. - Chuẩn bị cơ sở vật chất cho việc dạy học. - Giáo viên cần hướng dẫn khích lệ động viên các em viết sai, viết còn yếu, viết cẩu thả, viết bôi xóa, học sinh nhút nhát bằng sự yêu thương gần gũi và cái tâm của người thầy. - Tạo hứng thú và niềm tin cho các em trong quá trình học tập. - Nêu cao những tấm gương điển hình về tinh thần cố gắng vươn lên trong học tập để học sinh noi theo. Có như vậy thì học sinh mới hứng thú, tạo hiệu quả cao trong những tiết chính tả. Mỗi tiết dạy chính tả tiết học sôi nổi, hứng thú hơn. Các em ham tìm hiểu, yêu mến và tự hào hơn về truyền thống của dân tộc ta.
- 6 Bậc tiểu học là bậc quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, trên cơ sở cung cấp tri thức ban đầu về tự nhiên, xã hội trong cuộc sống thông qua các môn học. Người thầy phải khơi dậy và truyền lửa cho học sinh đảm bảo sự kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc và làm nổi bật được những đặc trưng riêng của phân môn chính tả mà những môn học khác không có được. II. Những giải pháp thực hiện Qua quá trình công tác và giảng dạy nhiều năm, bản thân đã đúc kết, nghiên cứu và tìm tòi nhiều biện pháp để giúp các em khắc phục tình trạng sai lỗi chính tả với một số biện pháp như sau: 1) Rèn phát âm đúng tiếng phổ thông: Sử dụng biện pháp luyện theo mẫu để rèn cho học sinh phát âm đúng chuẩn theo tiếng phổ thông để các em viết đúng và chính xác hơn. Khi rèn cho học sinh thì giáo viên phải là người phát âm rõ ràng, chuẩn dễ phân biệt giữa các âm đầu, vần, dấu thanh để các em nghe và phân biệt sự khác nhau của các tiếng, từ ;rồi từ đó giúp các em tránh sai các lỗi chính tả: sai âm đầu, sai vần, sai dấu thanh. Việc rèn luyện này được thực hiện thường xuyên và có hiệu quả nhất ở phân môn Tập đọc và tất cả các môn học khác mà giáo viên phải theo dõi nhắc nhở, uốn nắn, sửa sai kịp thời mỗi khi học sinh phát âm sai khi đọc bất cứ nội dung nào và cách phát âm khác nhau giữa các âm đầu, vần, dấu thanh. Ví dụ: Những âm đầu phát âm mà đầu lưỡi chạm lên hàm trên: tr, s,t, l, n, r, đ. Những âm đầu phát âm mà đầu lưỡi không chạm vào cả hàm dưới và hàm trên (tròn môi): b, c, d, g, h, k (kh), x, qu, Những nguyên âm phát âm tròn môi: o, ô, ơ, Những âm đầu phát âm khép môi: b, m, v. Ví dụ: Cách phát âm một số vần: an lưỡi chạm hàm trên ang không chạm at lưỡi chạm hàm trên ac không chạm Cách phát âm một số vần có âm đệm: u, o thì đọc một cách tròn môi và dẽo hơn các vần không có âm đệm: uyên/iên; an/oan; ăn/ oăng; Cách phát âm các vần thoát hơi và giữ hơi: un/ung; uôn/uông. Ví dụ: Cách phát âm thanh hỏi thì ngắn hơi hơn, thanh ngã phát âm kéo dài hơn để học sinh phân biệt và viết dễ hơn, đúng hơn. Giáo viên thường xuyên uốn nắn, hướng dẫn các em luyện đọc phát âm đúng như thế thì các em sẽ phân biệt một cách dễ dàng mà không bị lẫn lộn giữa các âm đầu, vần, dấu thanh từ đó giúp các em viết chính tả ngày càng tốt hơn.
- 7 2) Hướng dẫn phân biệt từ ngữ bằng phân tích, so sánh, hiểu nghĩa của từ: Cùng với việc rèn luyện kỹ năng đọc cho các em giáo viên cần áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với các tiếng dễ lẫn lộn, đặc biệt là các em phải hiểu nghĩa của từ giúp các em tự phát hiện và thấy được những điểm khác nhau để các em lưu ý và nhớ khi thực hiện viết chính tả. Vì muốn viết đúng chính tả các em phải hiểu chính xác nghĩa của từ rồi các em so sánh nghĩa của từ này và từ kia có điểm khác nhau về nghĩa thì giúp các em viết tốt hơn. Việc dạy học sinh hiểu nghĩa của từ được thực hiện trong phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn về văn miêu tả và đặc biệt trong phần luyện tập của phân môn Chính tả là một biện pháp giúp học sinh tìm hiểu nghĩa các từ rất nhiều qua đó làm cho các em ngày tiến bộ hơn về chữ viết đúng. Ví dụ: + muối / múi - muối: có dạng hạt dùng để ăn. - múi: là một bộ phận của quả: múi bưởi, múi cam, + ong / ông - ong: tên con vật biết bay tạo ra loại mật rất ngon, - ông: nói về một con người cao tuổi: ông cha, ông nội, + cau/ cao - cau: tên một loài cây - cao: nói về chiều cao của người hay vật. 3) Củng cố một số quy tắc chính tả Cách ghép âm đầu và nguyên âm: giúp các em viết đúng một số từ có phụ âm đầu ngh / ng; k / c một cách chắc chắn. - ngh / ng + ngh: ghép các nguyên âm: e, ê, i, iê, ia, Ví dụ: Nghe, nghệ, nghĩ, nghiêng, nghĩa + ng: ghép tất cả các nguyên âm còn lại: a, o, u, Ví dụ: nga, ngủ, ngồi, ngắn, ngõ - k / c + k: ghép các nguyên âm: e, ê, i, iê, ia, Ví dụ: kẻ, kể, kì, kiên, kìa + c: ghép tất cả các nguyên âm còn lại: a, o, u, â, Ví dụ: cá, có, củ, cây 4) Rèn luyện chính tả cho học sinh qua các bài tập chính tả
- 8 Bài tập chính tả sau mỗi tiết chính tả nhằm giúp học sinh hệ thống lại, củng cố lại kiến thức, quy tắc chính tả để các em ghi nhớ. Qua bài tập học sinh đã làm các em sẽ nhớ lâu hơn, khắc sâu hơn rồi tự phân tích, so sánh, lựa chọn tìm âm đầu, vần, tiếng, từ, phù hợp, đúng nghĩa của từ, của câu mà điền vào đối với những bài tập các dạng sau: - Yêu cầu điền phụ âm đầu: tr / ch; l / n; r / d / gi; - Yêu cầu điền vần: an/ang; at/ac; ong/ông; - Yêu cầu điền tiếng có chứa âm đầu: tr / ch; l / n; r / d / gi; - Yêu cầu điền tiếng có chứa vần: an/ang; at/ac; ong/ông; - Tìm tiếng, từ đúng theo nghĩa đã giải thích. - Giải nghĩa các thành ngữ, tục ngữ. Qua những bài tập giúp các em viết chính tả tốt hơn từ đó các bài tập chính tả cũng là biện pháp mà giáo viên cần thực hiện hình thức dạy theo hướng phát huy tính tích cực người học, cần được khai thác một cách triệt để, sâu sắc, đúng cách và có hiệu quả trong quá trình rèn chính tả cho học sinh. 5) Rèn chính tả thông qua các cuộc thi, hội thi Sau mỗi tiết dạy chính tả phần bài tập giáo viên có thể thay bằng những cuộc thi đua với nội dung phù hợp theo nội dung của các bài tập trong tiết học đó. Giáo viên nghiên cứu theo từng tiết và cho học sinh thực hiện thi đua bằng các dạng bài tập: Giáo viên đọc cho học sinh viết từ khó vào phiếu theo nhóm bằng nhiều hình thức cá nhân, đôi bạn, nhóm, để từ đó phát hiện ra những từ mà học sinh mình thường hay mắc lỗi nhiều, rồi có biện pháp rèn và khắc phục, sửa chữa kịp thời nhằm khắc sâu cho các em một cách chính xác, đúng với tình hình lớp mình thì sự tiến bộ về chính tả của các em sẽ ngày càng tốt hơn, cao hơn và đúng chính tả hơn. Giáo viên cho học sinh thi đua theo nhóm, tổ, cá nhân làm bài tập theo cách lựa chọn bằng dạng bài tập: giáo viên viết sẵn khoảng 10 từ trong đó có từ viết đúng chính tả, từ viết sai chính tả để học tìm và sửa lại những từ viết sai đó, giáo viên lựa chọn những từ mà học sinh mình thường hay mắc phải nhằm giúp các em nhớ lại, khắc sâu hơn từ đó và sẽ không sai lỗi đó nữa. Rèn các em thông qua các hội thi viết chữ đẹp cấp trường, thông qua các buổi bồi dưỡng viết chữ đẹp, các em được hướng dẫn rõ ràng, cụ thể hơn về cỡ chữ, độ cao, nét chữ, khoảng cách, mẫu chữ sáng tạo, làm cho các em thích thú, say mê rèn luyện chữ viết và nâng cao chất lượng chữ viết của mình. 6) Rèn chính tả thông qua tiết học khác Trong tiết tập đọc giáo viên cần rèn kỹ năng đọc đúng cho học sinh, phát âm chuẩn, kịp thời sửa sai cho các em từ đó cũng kết hợp giải nghĩa từ chưa quen và giải nghĩa từ khó ở phần chú thích để giúp các em hiểu nghĩa của từ và viết đúng chính tả ngày càng tốt hơn.
- 9 Trong tiết chính tả giáo viên cần hưỡng dẫn kĩ phần phân tích và luyện viết từ khó, giải nghĩa từ khó. Ở phần này khi chấm bài chính tả thì phần chữa lỗi cho các em cũng rất quan trọng, giáo viên cho các em chấm bài của bạn để các em tự phát hiện lỗi của bạn và chữa lỗi từ đó các em có thêm kiến thức cho bản thân. Khi giáo viên nhận xét bài chấm giáo viên cũng cần sửa những lỗi mà các em thường mắc phải rồi giải nghĩa từ đó cho các em khắc sâu hơn để không sai ở lần sau. Trong tiết Luyện từ và câu để giúp các em viết đúng chính tả thì ở phân môn này giáo viên cần chú trọng phần giải nghĩa từ ở các bài mở rộng vốn từ nhằm giúp cho các em hiểu nghĩa của từ đó, khắc sâu cho các em một số từ ngữ, bài tập liên quan trực tiếp về cách dùng từ, đặt câu, các dấu câu, cách viết tên người, tên địa lí Việt Nam; dấu hai chấm; dấu ngoặc kép, để học sinh hiểu và khắc sâu hơn từ đó giúp các em viết đúng chính tả. Trong tiết dạy Tập làm văn giáo viên cũng không ngừng nhắc nhở các em về cách dùng từ, cách miêu tả một cách chính xác về nghĩa của từ, chính xác về lỗi chính tả. 7) Rèn chính tả thông qua chữ viết của giáo viên Trong quả trình giảng dạy, giáo viên luôn luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo về đạo đức, tác phong, lối sống, thì trong việc rèn chữ viết cho các em bắt buộc người giáo viên phải là người viết chữ đẹp để các em noi theo vì ở lứa tuổi này các em hay bắt chước cho nên khi giáo viên viết ở bảng hay lời nhận xét vào vở, vào sản phẩm của học sinh thì chữ viết phải rõ ràng, sạch đẹp. Từ đó, các em thấy được và thích thú luyện chữ và làm theo. Trong thời gian 2 năm áp dụng sáng kiến này vào trong thực tế của lớp mình đang dạy thì bản thân thấy có sự chuyển biến rõ rệt của các em về chất lượng phân môn chính tả, các em viết nhanh hơn, chữ viết rõ ràng, sạch đẹp hơn, chính xác hơn và rất ham thích học môn chính tả chứ không giống như những năm học trước các em rất chán học môn này. Trong 2 năm học qua lớp tôi đều có học sinh đạt giải viết chữ đẹp cấp huyện, đó là một tín hiệu vui cho bản thân cũng như sáng kiến có hiệu quả. Một số bạn lớp 2 tôi đang dạy đầu năm học viết rất chậm, sai nhiều nhưng nay từng bước các em viết nhanh hơn, độ chính xác cao hơn. Mặc dù vẫn còn một số bạn chưa tiến bộ nhưng tôi tin rằng sự kiên trì vận dụng của tôi qua đề tài này sẽ từng bước giúp các em tiến bộ hơn về chữ viết của mình. Kết quả đạt được: Năm học 2021 – 2022 * Đầu năm: Lớp 2A: 30 học sinh/ 16 học sinh nữ Điểm 9-10: 3 học sinh Điểm 7-8 : 6 học sinh Điểm 5-6 : 11 học sinh Điểm dưới 5: 10 học sinh
- 10 Một số học sinh viết chữ chưa đẹp, sai chính tả, chữ viết lem nhem, đầy vết bẩn. * Đến cuối kì II: So với đầu năm chất lượng của các em đến cuối kì II đã tiến bộ rõ rệt. Điểm 9-10 Điểm 7-8 Điểm 5-6 Điểm dưới 5 Thời Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ gian lượng % lượng % lượng % lượng % 3 Đầu 3 10 6 20 11 36,7 10 33,3 năm học 1 Cuối 9 30 10 33,3 7 23,4 4 3,3 học kì I Cuối kì II 16 53,3 11 36,7 3 10 0 0 - Số học sinh đạt 9-10 điểm tăng lên (tăng 13 học sinh so với đầu năm học ). - Số học sinh đạt 7-8 điểm tăng lên (tăng 5 học sinh so với đầu năm học ). - Tất cả học sinh đều đạt từ 5 điểm trở lên (giảm 10 học sinh so với đầu năm). - Tất cả học sinh đều viết chữ sạch đẹp, không còn bôi xóa. * Kết quả về phẩm chất : Trước đây, lớp tôi các em rất sợ khi đến giờ chính tả và không thích học. Còn đến nay, các em chờ đón được học một tiết chính tả với tất cả lòng nhiệt tình và hào hứng của mình. * Kết quả về năng lực học tập của học sinh: Từ sự tự tin, từ năng lực chủ động, phát huy tính tích cực của mình trong giờ chính tả. Từ đó làm cho các em càng thêm say mê và sáng tạo. Về bản thân tôi, qua quá trình tìm hiểu việc học tập của học sinh tôi cảm thấy trong công tác giảng dạy môn Tiếng Việt trong trường Tiểu học Thạnh Phú 2. Đồng thời thông qua kiểm tra chất lượng cuối kì II, tôi thấy lớp 2A có nhiều tiến bộ. Song với kết quả đạt được chưa hẳn là cao, bởi tìm tòi sáng tạo trong chuyên môn còn hạn chế, vì vậy kết quả đạt được chưa được như mong muốn. Dạy môn Tiếng Việt đạt được kết quả như vậy là một vấn đề không đơn giản chút nào,
- 11 nên muốn có kết quả cao hơn nữa thì cả thầy lẫn trò đều phải cố gắng, phải kiên trì trong quá trình rèn luyện. Từ các biện pháp trên và qua chất lượng học sinh tôi thấy kết quả học phân môn chính tả nói riêng, môn Tiếng Việt nói chung ở lớp tôi đã nâng cao lên, đa số các em viết đúng, viết nhanh, viết đẹp, viết sáng tạo. Từ đó chất lượng học tập môn Tiếng Việt ở lớp tôi nâng lên rõ rệt. Sự tiến bộ của các em được biểu hiện cụ thể qua điểm số ở các lần kiểm tra. Từ đó, cha mẹ học sinh yên tâm, tin tưởng hơn vào giáo viên và nhà trường, tích cực ủng hộ việc dạy học và giáo dục học sinh của trường. Tuy rằng đây mới chỉ là kết quả hết sức khiêm tốn và việc “giúp cho học sinh thực hiện tốt đổi đơn vị đo lường” là một quá trình lâu dài song với những kết quả bước đầu, nếu tiếp tục rèn luyện lên lớp trên các em sẽ có kỹ năng thực hiện đổi đơn vị đo lường tốt hơn. Tôi tự rút ra bài học cho mình: Muốn đạt được mục đích mà mình mong muốn thì bản thân phải có niềm tin, niềm say mê thực sự, luôn kiên trì, nhẫn nại, rèn luyện không ngừng, chính niềm say mê ấy sẽ giúp ta có thêm sức mạnh to lớn, cuốn hút ta đi vào tìm tòi sáng tạo, mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh. * Bài học kinh nghiệm Để đạt được hiệu quả trên trong công tác giảng dạy tôi rút ra được một số kinh nghiệm sau: - Đầu năm lên kế hoạch điều tra theo dõi nắm từng đối tượng học tập của từng em. - Trước khi lên lớp tôi luôn nghiên cứu bài dạy để tìm mục tiêu phương pháp thích hợp, đối với nội dung bài khó tôi cùng những giáo viên trong khối trao đổi. Trong tiết dạy cần sử dụng đồ dùng dạy học để tiết dạy sinh động mang hiệu quả cao hơn - Tổ chức tốt các hoạt động học tập trong các tiết học để học sinh giải quyết tốt các bài tập trong sách giáo khoa. Học sinh phải hiểu sâu sắc vấn đề, nắm chắc kiến thức và vận dụng tốt vào thực hành. - Giáo viên cần giúp học sinh nắm chắc, thuộc lòng các quy tắc chính tả mà Sách giáo khoa đã cung cấp. Có kĩ năng vận dụng viết đúng, viết đẹp vào các môn học khác. - Rèn cho học sinh tính cẩn thận, tính chính xác khi làm bài cần nhớ lâu, nắm vững kiến thức, nắm bài có khoa học tránh trường hợp học vẹt. - Liên hệ gia đình tìm hiểu nguyên nhân vì sao học sinh chậm tiến bộ và nghỉ học nhiều, động viên phụ huynh tạo điều kiện cho các em có thời gian học ở nhà và kèm cặp thêm.
- 12 - Ngoài ra tôi học thêm ở các bạn đồng nghiệp bằng nhiều hình thức, và tự học tự nghiên cứu qua sách vở, báo đài. Không ngừng học hỏi, tìm tòi nhiều biện pháp đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy và học. - Phải thường xuyên tự nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, học hỏi, trao dồi kinh nghiệm từ đồng nghiệp, với nhiều hình thức như dự giờ, thao giảng. - Tâm huyết với nghề nghiệp, hết lòng vì học sinh thân yêu. III. Tính hiệu quả: - Hiệu quả kinh tế (nếu có): Nâng cao chất lượng dạy học phân môn chính tả trong môn Tiếng Việt lớp 2. - Lợi ích xã hội : Giúp được nhiều học sinh có hứng thú, say mê, sáng tạo trong học tập phân môn chính tả trong môn Tiếng Việt và phát triển toàn diện. C - PHẦN KẾT LUẬN 1. Phạm vi áp dụng sáng kiến Sáng kiến được áp dụng lần đầu lớp 2A Trường Tiểu học Thạnh Phú 2. 2. Điều kiện áp dụng và được triển khai, nhân rộng - Trang thiết bị dạy học phân môn chính tả trong môn Tiếng Việt 2 : tranh, ảnh, tài liệu, bảng quy tắc chính tả, từ điển tiếng việt. - Sáng kiến được áp dụng lần đầu lớp 2A Trường Tiểu học Thạnh Phú 2. Được nhà trường công nhận và nhân rộng cả khối 2, 3, 4, 5 của trường và các trường Tiểu học trong huyện Cờ Đỏ. Kết quả trên đây đã cho thấy đã có tác dụng tích cực hơn đối với việc hình thành kiến thức, kĩ năng về ngôn ngữ Tiếng Việt cho học sinh và đó cũng là một số biện pháp mà bản thân đưa ra được đúc kết trong quá trình giảng dạy nhằm giúp các em học tốt phân môn chính tả. Bản thân sẽ tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu, trao đổi, tham khảo sự đóng góp của đồng nghiệp, các chuyên môn về đề tài này để ngày càng thiết thực và hiệu quả hơn nhằm áp dụng rộng rãi vào các lớp trong và ngoài nhà trường tạo sự chuyển biến tích cực hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô . Thạnh Phú, ngày 15 tháng 4 năm 2023 Người thực hiện Trần Văn Chơn
- 13 Ý KIẾN NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG .. . . . .. ...
- 14 MỤC LỤC A- PHẦN MỞ ĐẦU Trang 1 1. Lí do chọn đề tài Trang 1 2. Giới hạn đề tài Trang 4 B- PHẦN NỘI DUNG Trang 4 I. Thực trạng vấn đề Trang 4 II. Những giải pháp thực hiện Trang 6 III. Tính hiệu quả Trang 12 C- PHẦN KẾT LUẬN Trang 12 1. Phạm vi áp dụng Trang 12 2. Điều kiện áp dụng Trang 12



