Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 12 - Chuyên đề: Các nước tư bản Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản (1945-2000)

pdf 15 trang Ngọc Diệp 12/03/2026 40
Bạn đang xem tài liệu "Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 12 - Chuyên đề: Các nước tư bản Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản (1945-2000)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfchuyen_de_boi_duong_hsg_mon_lich_su_lop_12_chuyen_de_cac_nuo.pdf

Nội dung text: Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 12 - Chuyên đề: Các nước tư bản Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản (1945-2000)

  1. Chuyên đề: CÁC MƯỚC TƯ BẢN MĨ, TÂY ÂU, NHẬT BẢN (1945 – 2000) Câu 1. Nêu sự phát triển kinh tế và khoa học - kĩ thuật của nước Mĩ từ năm 1945 đến năm 1973. Nguyên nhân nào làm cho trong 20 năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ trở thành trung tâm kinh tế, tài chính số 1 của thế giới? Trả lời a) Sự phát triển kinh tế và khoa học - kĩ thuật | * Về kinh tế - Giá trị tổng sản lượng công nghiệp của Mĩ chiếm hơn một nửa công nghiệp thế giới (56,5%) (1948). - Giá trị sản lượng nông nghiệp Mĩ bằng 2 lần giá trị tổng sản lượng nông nghiệp của 5 nước Anh, Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản (1949). - 50% tàu bè đi lại trên mặt biển là của Mĩ, 3/4 dự trữ vàng của thế giới tập trung ở Mĩ (1949). - Mĩ chiếm gần 40% giá trị tổng sản phẩm kinh tế thế giới. - Trong khoảng 20 năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ trở thành trung tâm kinh tế - tài chính duy nhất trên thế giới. * Về khoa học - kĩ thuật - Mỹ là nước khởi đầu cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại và đạt nhiều thành tựu to lớn trong nhiều lĩnh vực như chế tạo công cụ sản xuất mới (máy tính điện tử, máy tự động), vật liệu mới (pôlime, vật liệu tổng hợp), năng lượng mới (năng lượng nguyên tử... ), sản xuất vũ khí (bom nguyên tử, bom khinh khí, tên lửa đạn đạo), chinh phục vũ trụ (năm 1969 đưa tàu và người thám hiểm lên Mặt trăng, thám hiểm sao Hỏa), đi dấu cuộc "cách mạng xanh” trong nông nghiệp. - Là nước có đội ngũ chuyên gia về khoa học – kỹ thuật đông nhất trên thế giới. Tính chung Mỹ chiếm 1/3 số lượng bản quyền sáng chế của toàn thế giới. Mỹ dẫn dấu thế giới về số người được nhận giải Nô-ben. b) Nguyên nhân phát triển - Lãnh thổ nước Mỹ rộng lớn, tài nguyên thiên nhiên phong phú. - Nguồn nhân lực dồi dào, có trình độ kỹ thuật cao. - Mỹ tham gia chiến tranh thế giới thứ hai muộn hơn, tổn thất ít hơn so với nhiều nước khác; hơn nửa, Mỹ còn lợi dụng chiến tranh để bán vũ khí thu nhiều lợi nhuận. - Mỹ là nước khởi đầu cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại; áp dụng thành công những tiến bộ khoa học – kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và điều chỉnh hợp lý cơ cấu sản xuất. - Trình độ tập trung tư bản và sản xuất rất cao, các công ty tổ hợp công nghiệp – quân sự, các công ty và các tập đoàn tư bản lũng đoạn Mỹ có sức sản xuất cạnh tranh lớn và hiệu quả. - Các chính sách và biện pháp điều tiết của nhà nước có vai trò quan trọng thúc đẩy kinh tế Mỹ phát triển. Câu 2. Trình bày các giai đoạn phát triển kinh tế của nước Mỹ từ năm 1945 đến năm 2000. Vì sao từ sau năm 1973, địa vị kinh tế Mĩ lại bị suy giảm? Trả lời a) Các giai đoạn phát triển của Mỹ - Giai đoạn 1945 - 1973, kinh tế phát triển mạnh mẽ: + Giá trị tổng sản lượng công nghiệp của Mỹ chiếm hơn một nửa công nghiệp thế giới (56,5%) (năm 1948). + Giá trị sản lượng nông nghiệp Mỹ băng 2 lần giá trị tổng sản lượng nông nghiệp của 5 nước Anh, Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, Italia, Nhật Bản (năm 1949). + 50% tàu bè đi lại trên mặt biển là của Mỹ, 3/4 dự trữ vàng của thế giới tập trung ở Mỹ (năm 1949). + Mỹ chiếm gần 40% giá trị tổng sản phẩm kinh tế thế giới. + Trong khoảng 20 năm sau chiến tranh, Mỹ trở thành trung tâm kinh tế tài chính duy nhất trên thế giới. - Giai đoạn 1973 – 1991, kinh tế có nhiều biến động: + Năm 1973, do tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới, kinh tế Mỹ lâm vào khủng hoảng, suy thoái kéo dài đến năm 1982. Năng suất lao động giảm, hệ thống tài chính bị rối loạn.
  2. + Năm 1983, nền kinh tế bắt đầu phục hồi. Tuy vẫn là nước đứng dấu thế giới về kinh tế - tài chính, nhưng tỷ trọng trong nền kinh tế thế giới giảm hơn so với trước. - Giai đoạn 1991 – 2000, kinh tế phát triển xen kẻ suy thoái ngắn, nhưng vẫn là nước dừng đầu thế giới. + Năm 2000, GDP của Mỹ là 9.765 tỷ USD, bình quân GDP đầu người là 34.600 USD. + Mỹ tạo ra dược 25 % giá trị tổng sản phẩm trên toàn thế giới và có vai trò chi phối hầu hết các tổ chức kinh tế - tài chính quốc tế như Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). b) Sau năm 1973, địa vị kinh tế Mĩ lại bị suy giảm là vị: - Sau khi khôi phục kinh tế, các nước Tây Âu và Nhật Bản đã vươn lên mạnh mẽ và trở thành những trung tâm kinh tế ngày càng cạnh tranh gay gắt với Mỹ. - Kinh tế Mĩ không ổn định do vấp phải nhiều cuộc suy thoái khủng hoảng. - Do theo đuổi tham vọng bá chủ thế giới, Mĩ đã phải chi phí những khoản tiền khổng lồ cho việc chạy đua vũ trang, sản xuất các loại vũ khí hiện đại rất tốn kém, hơn nữa Mĩ còn chi phí cho hàng nghìn căn cứ quân sự và nhất là Mĩ đã tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược. - Sự giàu nghèo quá chênh lệch giữa các tầng lớp trong xã hội, nhất là ở các nhóm dân cư – tầng lớp lao động bậc thấp, là nguồn gốc gây nên sự không ổn định về kinh tế và xã hội Mĩ. Câu 3. Trình bày và nhận xét chính sách đối ngoại của Mỹ trong và sau thời kì Chiến tranh lạnh? Trả lời a) Chính sách đối ngoại của Mỹ. * Thời kì Chiến tranh lạnh (1945 – 1991) - Chiến lược toàn cầu của Mĩ được tuyên bố công khai trong diễn văn của Tổng thống H.Truman đọc trước Quốc hội Mĩ (3-1947), coi chủ nghĩa cộng sản là một nguy cơ và Mĩ có "sứ mệnh lãnh đạo thế giới tự do" chống lại nguy cơ đó. - Các đời tổng thống Mĩ đều có những học thuyết cụ thể với những tên gọi khác nhau, nhưng đều nhằm 3 mục tiêu: + Một là, ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn chủ nghĩa xã hội trên thế giới. + Hai là, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, phong trào chống chiến tranh, vi hòa bình, dân chủ trên thế giới. + Ba là, không chế và chi phối các nước tư bản đồng minh phụ thuộc vào Mĩ. - Để thực hiện các mục tiêu trên, Mĩ sử dụng nhiều biện pháp khác nhau: + Thực hiện Chiến lược toàn cấu, Mĩ ra sức thiết lập các liên minh quân sự chạy đua vũ trang, khởi xướng cuộc Chiến tranh lạnh, gây tình trạng đối đầu căng thẳng với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. + Trực tiếp gây ra hoặc tiếp tay cho nhiều cuộc bạo loạn, đảo chính lại đó ở nhiều nơi, tiêu biểu là cuộc Chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954 - 1975) và dính líu vào cuộc chiến tranh ở Trung Đông + Năm 1972, Mĩ điều chỉnh chiến lược toàn cầu, thực hiện sách lược hoà hoãn với hai nước lớn (Liên Xô và Trung Quốc) để chống lại phong trào đấu tranh cách mạng của các dân tộc. - Từ giữa những năm 80 (thế kỉ XX), trong xu thế đối thoại và hòa hoãn, Mĩ và Liên Xô chính thức tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh (12/1989). * Thời kì sau Chiến tranh lạnh - Sau khi tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh (1989) và trật tự thế giới hai cực Ianta tan rã (1991), chính quyền Mĩ đề ra Chiến lược Cam kết và Mô rộng với ba mục tiêu: + Bảo đảm an ninh của Mĩ với lực lượng quân sự mạnh. + Khôi phục sức mạnh của nền kinh tế Mĩ. + Đế cao dân chủ và nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ các nước khác. - Mục tiêu bao trùm là Mĩ muốn thiết lập trật tự thế giới "đơn cực", trong đó Mĩ là siêu cường duy nhất, đóng vai trò lãnh đạo thế giới. Nhưng trong tương quan lực lượng giữa các cường quốc, Mĩ không dễ gì thực hiện được tham vọng đó. - Vụ khủng bố 11/9/2001 cho thấy, chủ nghĩa khủng bố là yếu tố khiến Mĩ phải thay đổi chính sách đối ngoại khi bước vào thế kỉ XXI. b) Nhận xét
  3. - Một nguyên tắc không thay đổi trong Chiến lược toàn cầu của Mỹ từ 1945 đến nay là "luôn có một lực lượng quân sự mạnh” để thực hiện chiến lược toàn cầu của Mĩ; kết hợp sức mạnh về quân sự và viện trợ về kinh tế nhằm bị chủ thế giới. - Xét về mặt bản chất, mục tiêu cầu chiến lược "Cam kết và mới cùng thời là tiếp nối của mục tiêu “Chiến lược toàn cầu" vì nó vẫn thể hiện và phục vụ cho tham vọng vươn lên chi phối, lãnh đạo thế giới của Mỹ trong bối cảnh lịch sử mới. - Mĩ giương cao ngọn cờ “dân chủ” nhằm tập hợp lực lượng trong nhà đoạn mới để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. - Chính sách đối ngoại hiếu chiến của chính quyền Mĩ đã khiến cho Mĩ trở thành đối tượng của chủ nghĩa khủng bố ở khắp mọi nơi trên thế giới khi Mĩ buớc vào thế k XXI. Câu 4. Mỹ triển khai chiến lược toàn cầu ở Tây Âu trong những năm 1947-1949 và châu Á trong những năm 1945 – 1975 như thế nào? Nêu những thất bại và thành công của Mỹ trong chính sách đối ngoại từ năm 1945 đến năm 2000. Trả lời a) Mỹ triển khai chiến lược toàn cầu * Ở khu vực châu Âu - Ngày 12/3/1947, trong thông điệp của Tổng thống Truman đọc trước Quốc hội Mỹ, đã khẳng định sự tồn tại của Liên Xô là nguy cơ lớn đối với nước Mĩ và đề nghị viện trợ khẩn cấp 400 niệu USD cho hai nước Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, biến hai nước đó thành căn cứ tiền phương chống Liên Xô, các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu, mặt khác còn nhằm chuẩn bị điều kiện chiếm đóng vùng Trung Đông sau này. - Tháng 6/1947, Mĩ đề ra kế hoạch Macsan với khoản viện trở 17 tỉ USD giúp các nước Tây Âu phục hồi nên kinh tế sau chiến tranh. Qua kế hoạch này, Mĩ nhằm tập hợp các nước Tây Âu vào liên minh quân sự chống Liên Xô và cả nước Đông Âu. - Tại Hội nghị Pốxdam (1947), ba nước (Mĩ, Anh và Liên Xô) đã khẳng định nước Đức phải trở thành một quốc gia thống nhất. Nhưng Mĩ cùng Anh, Pháp đã tiến hành riêng rẽ việc sát nhập các khu vực chiếm đóng của mình trên lãnh thổ Đức. Trên cơ sở đó, tháng 9 - 1949 lập ra Nhà nước Cộng hòa Liên bang Đức, đưa đến tình trạng chia cắt và đối đầu giữa hai nhà nước Đức. - Ngày 4/4/1949, Mĩ thành lập khối quân sự - Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Đây là liên minh quân sự lớn nhất của các nước tư bản phương Tây do Mỹ cầm đầu nhằm chống Liên Xô và các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa. * Ở khu vực châu Á - Mĩ lập các khối quân sự ở hầu hết các khu vực có tính chiến lược ở châu Á – Khối SEATO (Đông Nam Á), SENTO (Trung Đông), ANZUS (Nam Thái Bình Dương). - Trực tiếp gây ra hoặc tiếp tay cho nhiêu cuộc chiến tranh, đảo chính lật đổ ở nhiều nơi trên thế giới, cụ thể là: + Trong những năm 1945 – 1946, Mĩ hậu thuẫn cho quân Trung Hoa Dân quốc tiến vào Việt Nam trong danh nghĩa lực lượng Đồng minh giải giáp quân Nhật để đàn áp cách mạng Việt Nam. + Trong những năm 1950 – 1953, Mĩ trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh Triều Tiên, nhằm xóa bỏ nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên. + Từ 1950 đến 1954, Mĩ viện trợ và can thiệp vào cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của Pháp. + Trong bối cảnh của cuộc Chiến tranh lạnh, để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội và hạn chế thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc, tháng 9/1954, Mỹ cùng Anh, Pháp và một số nước đã thành lập khối quân sự là Tổ chức hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á (SEATO). + Từ năm 1954 đến 1975, Mĩ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. - Năm 1972, Mĩ điều chỉnh chiến lược toàn cầu, thực hiện sách lược hoà hoãn với hai nước lớn (Liên Xô và Trung Quốc) để chống lại phong trào đấu tranh cách mạng của các dân tộc. b) Nhưng thất bại và thành công của Mỹ - Giới cầm quyền Mĩ đã vấp phải nhiều khó khăn và thất bại như các phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ đã diễn ra ngay ở Mĩ; nặng nề nhất là thất bại của Mĩ trong cuộc chiến tranh xâm lược
  4. Việt Nam (1954 - 1975). Do chính sách đối ngoại hiếu chiến, Mĩ trở thành đối tượng của chủ nghĩa khủng bố quốc tế hiện nay. - Bước đầu tập hợp được các nước đế quốc, tạo thành một khối do Mỹ cầm đầu; thực hiện các mưu đồ chiến lược của nước Mĩ lãnh đạo thế giới tư bản chủ nghĩa; Chiến lược toàn cầu của Mĩ góp phần làm sụp đổ nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu. Câu 5. Mỹ triển khai “Chiến lược toàn cầu” trong những năm 1945 – 1975 như thế nào? Trả lời * Chiến lược toàn cầu của Mĩ - “Chiến lược toàn cầu" của Mĩ, được tuyên bố công khai trong diễn văn của Tổng thống H. Truman đọc trước Quốc hội Mĩ (3-1947), coi chủ nghĩa cộng sản là một nguy cơ và Mĩ có “sứ mệnh lãnh đạo thế giới tự do chống lại nguy cơ đó. - Các đời Tổng thống Mĩ đều có những học thuyết cụ thể với những tên gọi khác nhau, nhưng đều nhằm 3 mục tiêu: + Một là, ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn chủ nghĩa xã hội trên thế giới. + Hai là, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, phong trào chống chiến tranh, vì hòa bình, dân chủ trên thế giới. + Ba là, khống chế và chi phối các nước tư bản đồng minh phụ thuộc vào Mĩ. - Để thực hiện các mục tiêu trên, Mĩ sử dụng nhiều biện pháp khác nhau: + Mĩ ra sức thiết lập các liên minh quân sự, chạy đua vũ trang, khởi xướng cuộc Chiến tranh lạnh, gây tình trạng đối đầu căng thẳng với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. + Trực tiếp gây ra hoặc tiếp tay cho nhiều cuộc bạo loạn, đảo chính lột đổ ở nhiều nơi, tiêu biểu là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954 - 1975) và dính líu vào cuộc chiến tranh ở Trung Đông * Triển khai ở khu vực châu Âu - Ngày 12-3-1947, trong thông điệp của Tổng thống Truman đọc trước Quốc hội Mỹ, đã khẳng định sự tồn tại của Liên Xô là nguy cơ lớn đối với nước Mĩ và đề nghị viện trợ khẩn cấp 400 triệu USD cho hai nước Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kì, biến hai nước đó thành căn cứ tiền phương chống Liên Xô. các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu; mặt khác còn nhằm chuẩn bị điều kiện can thiệp vào vùng Trung Đông sau này. - Tháng 6/1947, Mĩ đề ra Kế hoạch Macsan với khoản viện trợ 17 tỉ USD giúp các nước Tây Âu phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh. Qua kế hoạch này, Mỹ nhằm tập hợp các nước Tây Âu vào liên minh quân sự chống Liên Xô và các nước Đông Âu. - Tại Hội nghị Pốtxđam (1947), ba nước (Mĩ, Anh và Liên Xô) đã khẳng định nước Đức phải trở thành một quốc gia thống nhất. Nhưng Mĩ cùng Anh, Pháp đã tiến hành riêng rẽ việc sáp nhập các khu vực chiếm đóng của mình trên lãnh thổ Đức. Trên cơ sở đó, tháng 9 - 1949 lập ra nhà nước Cộng hoà Liên bang Đức, đưa đến tình trạng chia cắt và đối đầu giữa hai nhà nước Đức. - Ngày 4-4-1949, Mĩ thành lập khối quân sự - Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Đây là liên minh quân sự lớn nhất của các nước tư bản phương Tây do Mĩ cầm đầu nhằm chống Liên Xô và các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa. * Triển khai ở khu vực châu Á. - Mỹ lập các khối quân sự ở hầu hết các khu vực có tính chiến lược ở châu Á: Khối SEATO (Đông Nam Á), SENTO (Trung Đông), ANZUS (Nam Thái Bình Dương) - Trực tiếp gây ra hoặc tiếp tay cho nhiều cuộc chiến tranh, đảo chính lật đổ ở nhiều nơi trên thế giới, cụ thể là: + Trong những năm 1945 - 1946, Mỹ hậu thuẫn cho quân Trung Hoa Dân quốc vào Việt Nam trong danh nghĩa lực lượng Đồng minh giải giáp quân Nhật để đàn áp cách mạng Việt Nam. + Trong những năm 1950 – 1953, Mĩ trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh Triều Tiên, nhằm xóa bỏ nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. + Từ 1950 đến 1954, Mĩ viện trợ và can thiệp vào cuộc chiến tranh xân lược Đông Dương của Pháp. + Trong bối cảnh của cuộc Chiến tranh lạnh, để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội và hạn chế thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc, tháng 9 – 1954, Mỹ cùng Anh, Pháp và một số nước đã thành lập khối quân sự - Tổ chức hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á (SEATO). + Từ năm 1954 đến 1975, Mĩ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ.
  5. - Năm 1972, Mĩ điều chỉnh “Chiến lược toàn cầu", thực hiện sách lược hoà hoãn với hai nước lớn (Liên Xô và Trung Quốc) để chống lại phong trào đấu tranh cách mạng của các dân tộc. * Những thất bại và thành công của Mĩ - Giới cầm quyền Mĩ đã vấp phải nhiều khó khăn và thất bại như các phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ đã diễn ra ngay ở Mĩ; nặng nề nhất là thất bại của Mĩ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954 - 1975). Do chính sách đối ngoại hiếu chiến, Mĩ trở thành đối tượng của chủ nghĩa khủng bố quốc tế hiện nay. - Tuy nhiên, bước đầu tập hợp được các nước đế quốc, tạo thành một khối do Mĩ cầm đầu; thực hiện các mưu đồ chiến lược của nước Mĩ lãnh đạo thế giới tư bản chủ nghĩa; “Chiến lược toàn cầu” của Mĩ góp phần làm sụp đổ nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu. Câu 6. Nêu nét chính về quan hệ Việt Nam và Hoa Kì. Cơ sở và nguyên nhân của mối quan hệ đó. Trả lời a. Quan hệ Việt Nam và Hoa Kì * Thời Pháp thuộc (1919 - 1945) - Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đại diện hội “Những người An Nam yêu nước” gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam đến Hội nghị Hòa bình Véc-xây cho Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson nhưng không được trả lời. - Đầu thập niên 1940, Việt Minh giúp đỡ lực lượng Mỹ cứu phi công Mĩ khi gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản rồi chuyển giao cho người Mỹ; đổi lại, cơ quan OSS (tiền thân của CIA) của Mỹ đã giúp đỡ Việt Minh thuốc men và một số vũ khí để chống Nhật đối tượng lúc ấy là kẻ địch của cả Mỹ và Việt Nam. * Trong Chiến tranh Đông Dương (1945 - 1954) - Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mĩ hậu thuẫn cho quân Trung Hoa Dân quốc vào nước ta trên danh nghĩa quân Đồng minh giải giáp quân đội Nhật Bản. Âm mưu của Mĩ và Trung Hoa Dân quốc muốn chiếm đóng lâu dài và biến Việt Nam thành thuộc địa của chúng. Do cuộc nội chiến ở Trung Quốc đã bùng nổ nên buộc quân Trung Hoa Dân quốc phải rút về nước (2-1946). - Từ tháng 5-1949, Mĩ từng bước can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Mĩ kí với Pháp Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương (tháng 12-1950) viện trợ mọi mặt cho Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. - Tiếp đó, Mĩ kí với Bảo Đại Hiệp định hợp tác kinh tế Việt - Mĩ (tháng 9-1951) nhằm ràng buộc Chính phủ Bảo Đại. - Sau những Hiệp định này, viện trợ của Mĩ cho cuộc chiến tranh Đông Dương ngày càng cao. Chi phí chiến tranh của Mĩ đã chiếm trên 70% (chi phi chiến tranh Đông Dương), Các trung tâm và các trường huấn luyện của Mĩ bắt đầu tuyển chọn, đưa người Việt Nam sang học ở Mĩ. - Cuối năm 1950, có sự hợp tác của Mĩ, Pháp đề ra kế hoạch Đờ Lát đơ Tát-xi-nhi, mong muốn kết thúc nhanh chiến tranh. - Năm 1953, Pháp – Mĩ thực hiện Kế hoạch quân sự Nava nhằm giành thắng lợi quân sự trên chiến trường Đông Dương. - Năm 1954, Mĩ đã tiếp tay cho Pháp trong việc xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ; ngay sau đó, mặc dù Mĩ là một nước tham dự Hội nghị Giơnevơ nhưng không kí Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương, nhằm thực hiện cho mưu đồ xâm lược Việt Nam sau năm 1954. * Thời kỳ chiến tranh Việt Nam (1954 - 1975) - Tháng 7-1954, Mĩ ép Pháp đưa Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền Sài Gòn để chuẩn bị thay chân Pháp chiếm đóng Việt Nam. - Chính phủ Mỹ hậu thuẫn Việt Nam Cộng hòa chống lại Việt Nam làm chủ Cộng hòa và Mặt trận Giải phóng miền Nam. Hoa Kỳ tăng cho Việt Nam Cộng hòa. Đến năm 1963 có hơn 16.000 cố vấn quân sự Hoa Kỳ và đến đầu năm 1965 thì Tổng thống Lyndon B. Johnson cho đổ bộ lực lượng thủy quân lục chiến, chính thức tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. - Từ năm 1954 đến năm 1975, qua 5 đời tổng thống Mĩ tiến hành 4 chiến lược chiến tranh xâm lược Việt Nam: chiến lược “Chiến tranh đơn phương” (1954 – 1960), chiến lược “Chiến tranh đặc biệt" (1961 - 1965) chiến lược “Chiến tranh cục bộ" (1965 – 1968), chiến lược “Việt Nam hóa chiến
  6. tranh" (1969 – 1973), và hai lần tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân. - Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, quân đội Hoa Kỳ đã gây ra nhiều tội ác đối với dân thường Việt Nam, những tội ác chiến tranh này làm ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ hai nước, và là cơ sở đế Việt Nam yêu cầu Hoa Kỳ bồi thường chiến tranh. - Năm 1973, Hoa Kỳ ký Hiệp định Paris với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và rút quân chính quy ra khỏi chiến trường miền Nam Việt Nam. * Từ sau năm 1975 - Từ 1975 đến 1994, Hoa Kỳ thi hành chính sách cấm vận Việt Nam. Trong thời gian này, từ 1977 đến 1978 Việt Nam và Hoa Kỳ đàm phán bình thường hóa quan hệ nhưng không thành. - Năm 1993, Hoa Kỳ tuyên bố không ngăn cản các nước khác cho Việt Nam vay tiền trả nợ cho các tổ chức tài chính quốc tế. - Năm 1994, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn cấm vận Việt Nam và lập cơ quan liên lạc giữa hai quốc gia. - Ngày 11 tháng 7 năm 1995, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Nâng cấp Văn phòng liên lạc thành tòa Đại sứ đặt tại Hà Nội. Việt Nam đặt tòa Đại sứ ở Washington. một tòa Tổng lãnh sự tại San Francisco (tiểu bang California) một tại Houston (tiểu bang Texas) và một tại thành phố New York (tiểu bang bang New York). Hoa Kỳ có một tòa Tổng lãnh sự tại Thành phố Hồ Chí Minh và dự kiến mở thêm một tòa Tổng lãnh sự ở Đà Nẵng. - Ngoại giao Hoa Kỳ và Việt Nam trở nên đa dạng hơn trong những năm đã bình thường hóa quan hệ. Hai nước ký kết Hiệp định Thương mại song phương vào tháng 7- 2000. Tháng 11-2007, Hoa Kỳ chấp thuận Quy chế quan hệ thương mại bình thường, vĩnh viễn (PNTK) cho Việt Nam. b. Cơ sở và nguyên nhân của mối quan hệ đó - Trước năm 1945, Hoa Kỳ và Mặt trận Việt Minh cùng chiến hảo chống phát xít. - Sau năm 1945, Hoa Kỳ thực hiện chiến lược toàn cầu và tiến hành chính sách xâm lược Việt Nam. Nhân dân Việt Nam quyết tâm đấu tranh giành độc lập vì vậy đã diễn ra cuộc đụng đầu lịch sử giữa hai nước Hoa Kỳ và Việt Nam. - Khi cuộc Chiến tranh lạnh chấm dứt, các nước có xu hướng đối thoại trong quan hệ quốc tế Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới và chính sách mở cửa mở rộng quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước. Trong khi đó, Mĩ cũng thay đổi chính sách đối ngoại, tìm cách đề cao hợp tác và thúc đẩy các nước cùng gánh vác trách nhiệm quốc tế. Câu 7. Tóm tắt sự phát triển kinh tế, khoa học – kĩ thuật của các nước Tây Âu từ năm 1945 đến năm 2000. Những nhân tố nào đã dẫn đến kết quả đó? Trả lời a) Sự phát kinh tế, khoa học - kĩ thuật * Từ 1945 đến 1950, là giai đoạn phục hồi kinh tế - Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các nước châu Âu đều bị tàn phá nặng nề. Sau chiến tranh, với sự cố gắng của từng nước và sự viện trợ của Mỹ trong khuôn khó của "Kế hoạch Mác-san", tới khoảng năm 1950 nền kinh tế các nước Tây Âu cơ bản được hồi phục, nhưng ngày càng lệ thuộc Mỹ. * Từ 1950 đến nửa đầu nhưng năm 70 của thế kỉ XX, giai đoạn phát triển - Từ đầu những năm 50 đến đầu những năm 70, nền kinh tế ổn định và phát triển nhanh. Cộng hòa Liên bang Đức trở thành nước có nền công nghiệp đứng thứ ba, Anh đứng thứ tư, Pháp đứng thứ năm trong hệ thống tư bản chủ nghĩa (sau Mỹ và Nhật Bản). Từ đầu thập kỉ 70 (thế kỉ XX), cùng với Mỹ và Nhật Bản, Tây Âu đã trở thành một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính lớn của thế giới. - Các nước Tây Âu có nên khoa học – kĩ thuật phát triển cao, hiện đại. - Quá trình liên kết kinh tế khu vực ở Tây Âu diễn ra mạnh mẽ với sự hình thành Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) năm 1957 và Cộng đồng châu Âu (EC) năm 1967. * Từ năm 1973 đến năm 1991 - Tuy vẫn là một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính lớn của thế giới, nhưng kinh tế Tây Âu gặp không ít khó khăn: suy thoái, khủng hoảng lạm phát và thất nghiệp. Kinh tế các nước Tây Âu còn gặp sự cạnh tranh mạnh mẽ của Mỹ, Nhật Bản và các nước công nghiệp mới (NICs).
  7. - Quá trình liên kết trong khuôn khổ Cộng đồng châu Âu (EC) vẫn còn nhiều khó khăn trở ngại. * Từ 1991 đến năm 2000 - Đầu thập niên 90 (thế kỉ XX), kinh tế Tây Âu lâm vào cuộc suy thoái ngắn. - Từ năm 1994, nền kinh tế bắt đầu phục hồi và phát triển trở lại. Mức tăng trưởng kinh tế năm 2000 của Pháp là 3,8%, Anh: 3,8%; Đức: 2,9%; Italia: 3,0%. - Tây Âu vẫn là một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất thế giới. Đến giữa thập niên 90 của thế kỷ XX, 15 nước thành viên EU đã chiếm 1/3 tổng sản phẩm công nghiệp toàn thế giới. Ngày nay, Liên minh châu Âu trở thành một trung tâm chính trị - kinh tế lớn nhất hành tinh, chiếm hơn 1/4 GDP của thế giới. Các nước Tây Âu có nên khoa học - kĩ thuật hiện đại. b) Những nhân tố dẫn đến kết quả trên - Áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại để nâng cao năng suất lao động hạ giá thành sản phẩm. - Vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc quản lí và nền kinh tế.. - Tận dụng tốt cơ hội bên ngoài cho sự phát triển của đất nước như nguồn viện trợ của Mĩ, tranh thủ giá nguyên liệu rẻ từ các nước đang phát triển sự hợp tác có hiệu quả trong Cộng đồng châu Âu (EC). - Sau Chiến tranh lạnh, quá trình liên kết của các thành viên EU chặt chẽ hơn, tạo nên sự cạnh tranh lớn với Mỹ, Nhật và các nước NICs. Câu 8. Trình bày chính sách đối ngoại của các nước Tây Âu từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 2000. Trả lời * Giai đoạn 1945 – 1950 - Những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, với mưu đồ khôi phục chế độ thuộc địa, các nước Tây Âu như Anh, Pháp, Hà Lan... đã tiến hành chiến tranh tái chiếm thuộc địa. - Liên minh chặt chẽ với Mỹ: một số nước chấp nhận “Kế hoạch Mác san” của Mỹ; gia nhập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) do Mỹ đứng đầu, nhằm chống lại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. * Giai đoạn 1950 – 1973 - Trong bối cảnh Chiến tranh lạnh, đối đầu giữa hai phe, nhiều nước Tây Âu một mặt vẫn tiếp tục liên minh chặt chẽ với Mỹ, mặt khác nỗ lực đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. - Các nước Tây Âu tiếp tục tham gia khối liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) nhằm chống lại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa; đứng về phía Mĩ trong cuộc Chiến tranh xâm lược Việt Nam; ủng hộ Ixaren trong các cuộc Chiến tranh Trung Đông. - Chủ nghĩa thực dân cũ của Anh, Pháp, Hà Lan đã sụp đổ trên phạm vi toàn thế giới. * Giai đoạn 1973 – 1991 - Từ năm 1973 trở đi, quan hệ giữa Mĩ và các nước Tây Âu cùng diễn ra những “trục trặc”, nhất là quan hệ Mĩ – Pháp. - Xu thế hòa hoãn, giảm bớt sự căng thẳng trong quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa ở châu Âu đã diễn ra. Năm 1972, hai nước Đức ký Hiệp định về những cơ sở của quan hệ Đông Đức và Tây Đức; tháng 8/1975, các nước Tây Âu cùng Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu và hai nước Mỹ, Canada ký Định ước Henxinki về an ninh và hợp tác châu Âu. Tình hình căng thẳng ở châu Âu đã dịu đi rõ rệt. - Vào cuối năm 1989, ở châu Âu đã diễn ra những sự kiện to lớn: Bức tường Béclin bị phá bỏ (tháng 11/1989), hai siêu cường Xô – Mỹ tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh (tháng 12/1989), nước Đức tái thống nhất (tháng 10/1990). * Từ năm 1991 đến năm 2000 - Trong bối cảnh chiến tranh lạnh kết thúc, quá trình liên kết của các thành viên EU trở nên chặt chẽ hơn. - Các nước Tây Âu đều chủ ý mở rộng quan hệ quốc tế với các nước tư bản khác, các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, khu vực Mỹ Latinh, các nước thuộc Đông Âu và SNG.
  8. Câu 9. Tóm tắt quá trình thành lập và phát triển của các tổ chức liên kết kinh tế ở khu vực Tây Âu từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Vì sao các nước Tây Âu có xu hướng liên kết với nhau? Trả lời a) Tóm tắt quá trình thành lập và phát triển của các tổ chức liên kết kinh tế ở khu vực Tây Âu - Quá trình thành lập + Sau chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với xu thế toàn cầu hoá, khuynh hướng liên kết khu vực diễn ra mạnh mẽ. + Sáu nước Tây Âu (Pháp, CHLB Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan và Lúcxămbua) đã cùng nhau thành lập cộng đồng Than – Thép châu Âu (1951), sau là cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu và cộng đồng kinh tế châu Âu (1957). + Năm 1967, ba tổ chức này hợp nhất thành Cộng đồng châu Âu (EC) và từ tháng 1/1993 đổi tên là Liên minh châu Âu (EU) với số lượng thành viên lên tới 27 nước (2007). - Mục tiêu: EU ra đời nhằm hợp tác giữa các nước thành viên về kinh tế, tiền tệ và chính trị (xác định luật pháp, chính sách đối ngoại, an ninh chung Hiến pháp chung). - Sự phát triển + Thành viên: Từ 6 nước ban đầu, đến năm 1995, EU đã phát triển thành 15 nước. Năm 2004, EU kết nạp thêm 10 nước Đông Âu, đến năm 2007 thêm 2 nước. Tổng số nước thành viên hiện nay là 27 nước. Sự kiện này đánh dấu bước đột phá trong quá trình liên kết quốc tế ở châu Âu. + EU ra đời không chỉ nhằm hợp tác giữa các nước thành viên trong lĩnh vực kinh tế, tiến tệ mà còn liên minh trong lĩnh vực chính trị. + Tháng 6/1979, đã diễn ra cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu đầu tiên. Đây là một liên kết khu vực có tổ chức chặt chẽ nhất so với các khu vực khác. + Tháng 3/1995, bảy nước EU huỷ bỏ sự kiểm soát đối với việc đi lại của công dân các nước này qua biên giới của nhau. Tháng 1/2002, chính thức sử dụng động tiền chung EURO. + Ngày nay, Liên minh châu Âu là tổ chức liên kết khu vực về chính trị, kinh tế lớn nhất hành tinh, chiếm hơn 1/4 GDP của thế giới. + Quan hệ Việt Nam – EU được thiết lập năm 1990. - Nhận xét: + Trên thực tế, EU là tổ chức liên kết kinh tế - chính trị lớn nhất hành tinh và trở thành một trong ba trung tâm kinh tế lớn của thế giới. + Sự hợp tác về kinh tế, chính trị, khoa học - kỹ thuật cho phép EU phát triển nhanh chóng về kinh tế, ứng dụng thành tựu khoa học - kĩ thuật hiện đại vào sản xuất, thực hiện có hiệu quả cuộc cạnh tranh về kinh tế, tài chính, thương mại với Mỹ và Nhật Bản. b) Nguyên nhân - Các nước Tây Âu có chung một nền văn minh, có một nền kinh tế không cách biệt nhau lắm và từ lâu đã liên hệ, trao đổi kinh tế, văn hoá với nhau. - Sự hợp tác phát triển là hết sức cần thiết nhằm mở rộng thị trường nhất là dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật và xu hướng toàn cầu hoá. - Sự liên kết sẽ làm cho các nước Tây Âu tin cậy nhau hơn về chính trị, khắc phục những mâu thuẫn, chia rẽ đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử. - Từ năm 1950, do nền kinh tế đã bắt đầu phát triển, các nước Tây Âu ngày càng muốn thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào Mĩ. Các nước Tây Âu đứng riêng lẻ không thể dọ sức được với Mĩ, họ cần phải liên kết cùng nhau trong cuộc cạnh tranh với các nước ngoài khu vực. Câu 10. Vì sao quá trình thống nhất châu Âu diễn ra bắt đầu từ những năm 50 của TK XX nhưng việc hoàn thành nó lại diễn ra chậm chạp? Trả lời a. Khái quát quá trình thống nhất châu Âu - Theo sáng kiến của nước Pháp Cộng đồng than – thép châu Âu thành lập 1951, với mục tiêu nhằm thống nhất sản xuất và tiêu thụ hai mặc hàng than, thép. - 25/3/1957, Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu và Cộng đồng Kinh tế châu Âu được thành lập.
  9. - 1/7/1967, 3 tổ chức nói trên thống nhất thành Cộng đồng châu Âu (EC). - 12/1991, 12 nước của Cộng đồng châu Âu ký Hiệp ước Maxtrich có hiệu lực 1/1/1993 đổi tên thành Liên minh châu Âu (EU). - Từ 6 nước ban đầu 1957, phát triển lên 9 nước 1973, 10 nước 1981, 12 nước 1986, 15 nước 1995, 25 nước 2004, 27 nước 2007 b. Giải thích - Ý tưởng thống nhất châu Âu có từ TK XIX, tuy nhiên do 2 cuộc chiến tranh thế giới và cuộc chiến tranh lạnh đã làm cho ý tưởng đó chưa thực hiện được. Cho đến cuối những năm 80 của thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI tư tưởng thống nhất châu Âu mới thực hiện trọn vẹn. Vì vậy những năm 50 của TK XX, người châu Âu mới đề xuất ý tưởng thống nhất thị trường trước tiên là than – thép rồi đến cộng đồng kinh tế, cộng đồng năng lượng nguyên tử Họ thực hiện ý tưởng thống nhất này bắt đầu từ kinh tế và trải qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử. - Chính trong quá trình xung đột Đông – Tây, sự đối địch hai cực Mĩ – Xô trong chiến tranh lạnh đã kìm hãm quá trình thống nhất châu Âu. Đến khi Chiến tranh lạnh kết thúc vào cuối những năm 80 đầu những năm 90 thì châu Âu mới có cơ hội hoàn thành quá trình nhất thể hóa hay còn gọi quá trình thống nhất châu Âu. Do vậy sự chậm trễ này một phần do tác động của quan hệ quốc tế mang lại. - Một bộ phận lớn châu Âu trong thời kì Chiến tranh lạnh còn nằm trong sự đối địch về tư tưởng, nước Đức bị chia cắt thành 2 nước đối lập nhau, các nước Đông Âu XHCN đối địch với các nước TBCN Tây Âu. Sự kiện bức tường Béc-lin sụp đổ (1989) được xem là nhác cuốc đầu tiên xây dựng nên một thị trường châu Âu thống nhất và xóa đi sự đối địch về tư tưởng, sau đó 6 nước Đông Âu XHCN sụp đổ làm cho hệ tư tưởng đối địch hai bên không còn. Sau khi các nước Đông Âu đi theo TBCN xét về địa chính trị đã tạo ra tiền đề thống nhất châu Âu. - Nhu cầu phát triển về kinh tế về thị trường xuất phát từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ, do vậy cần tạo ra một thị trường chung để thống nhất châu Âu về mặt kinh tế, châu Âu thấy mình cần độc lập để giải quyết về kinh tế không còn sự phụ thuộc vào Mĩ, họ tạo ra đồng tiền riêng (EURO), không còn phụ thuộc vào đồng USD của Mĩ. Câu 11. Vì sao sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ở Nhật Bản diễn ra cuộc cải cách về kinh tế? Trình bày và nhận xét những cải cách đó. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, những nhân tố nào đã tạo cơ hội thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản phát triển mạnh mẽ? Trả lời a) Giải thích - Sự thất bại của Nhật trong Chiến tranh thế giới II để lại cho Nhật Bản hậu quả hết sức nặng nề về người và vật chất: Số người chết và mất tích: 3 triệu người; Cơ sở vật chất bị phá huỷ nặng nề; Số người bị thất nghiệp lên tới 13 triệu người; Thảm hoạ đói rét đe doạ toàn bộ nước Nhật. Hoàn cảnh đó đòi hỏi nước Nhật phải cải cách kinh tế. - Dưới chế độ phong kiến quân phiệt Nhật Bản, các tàn tích phong kiến còn rất nặng nề, các quyền tự do dân chủ bị bóp nghẹt. Nước Nhật cần thiết phải cải cách ruộng đất nhằm xóa bỏ quan hệ sản xuất phong kiến và xóa bỏ các công ty mang tính dòng họ qua đó mở đường cho sự phát triển kinh tế và dân chủ hóa nước Nhật. - Nhật bị Mỹ chiếm đóng từ năm 1945 đến năm 1952, nhưng Chính phủ Nhật Bản vẫn được phép tồn tại và hoạt động. - Bộ chỉ huy quân sự tối cao lực lượng đồng minh (SCAP) cùng với Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện nhiều cuộc cải cách dân chủ ở Nhật. b) Những cải cách kinh tế ở Nhật Bản - Tiến hành 3 cuộc cải cách lớn về kinh tế + Thủ tiêu chế độ kinh tế tập trung, giải tán các Đaibatxư (các tập đoàn, công ty mang tính dòng họ). + Cái cách ruộng đất: quy định địa chủ chỉ được có không quá 3 ha ruộng đất, số còn lại chính phủ bán cho nông dân. + Dân chủ hoá lao động thực hiện các luật về lao động. - Nhận xét + Đây là những biện pháp, cải cách có nội dung tiến bộ nhất trong lịch sử Nhật Bản.
  10. + Những cải cách này xoá bỏ nền kinh tế phong kiến, tạo nên một luồng không khí mới trong xã hội, huy động tối đa nguồn lực quý giá là con người Nhật Bản vào công cuộc phát triển đất nước Nhật Bản. + Là cơ sở để tạo điều kiện xây dựng nước Nhật Bản hiện đại. c) Những nhân tố tạo cơ hội thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản phát triển mạnh mẽ - Những năm 1950 – 1953, Mĩ tiến hành cuộc chiến tranh ở Triều Tiên. Tận dụng cơ hội này Nhật Bản vươn lên phát triển kinh tế. - Tiếp đó, những năm 1954 – 1975, Mĩ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nền kinh tế Nhật Bản lại có cơ hội mới để đạt được sự tăng trưởng kinh tế. Câu 12. Trình bày những thành tựu chủ yếu về kinh tế và khoa học - kĩ thuật của Nhật Bản trong giai đoạn phát triển “thần kỳ”. Những nhân tố nào đã tạo nên những thành tựu đó? Việt Nam có thể học tập những gì từ sự phát triển kinh tế của Nhật Bản? Trả lời a) Sự phát triển thần kì của nền kinh tế Nhật Bản - Từ một nước bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai, tập trung sức phát triển kinh tế và đã đạt những thành tựu to lớn. - Từ năm 1953 đến năm 1960 có bước phát triển nhanh. - Từ năm 1960 đến năm 1973, kinh tế Nhật Bản bước vào giai đoạn phát triển “thần kỉ”, tốc độ tăng trưởng cao liên tục. Nhật Bản trở thành một siêu cường kinh tế (sau Mĩ): + Về tổng sản phẩm quốc dân, năm 1950 đạt 20 tỷ USD bằng 1/17 Mĩ, năm 1968 đạt 183 tỷ USD, đứng thứ hai (sau Mĩ) + Về công nghiệp, trong những năm 1950 – 1960, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 15%, từ năm 1961 – 1970, tốc độ tăng là 13,5%. + Về nông nghiệp, trong những năm 1967 – 1969, đã cung cấp được hơn 80% nhu cầu lương thực trong nước, 2/3 nhu cầu thịt, sữa và nghề đánh cá đứng thứ hai thế giới sau Pê-ru. + Tới năm 1968, vươn lên là cường quốc kinh tế tư bản thứ hai sau Mĩ. Từ dấu những năm 70 trở đi, Nhật Bản trở thành một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính lớn của thế giới (cùng Mỹ và Liên minh châu Âu). + Nhật Bản tập trung vào lĩnh vực sản xuất dân dụng như các hàng hóa tiêu dùng nổi tiếng thế giới (tivi, tủ lạnh, ôtô..), các tàu chở dầu có trọng tải lớn (1 triệu tấn), cầu đường bộ dài 9,4 km nối hai đảo Hônsu và Sicôcư. b) Nguyên nhân phát triển kinh tế - Con người Nhật Bản được đào tạo chu đáo: có ý thức tổ chức kỷ luật, được trang bị kiến thức và nghiệp vụ, cần cù và tiết kiệm, ý thức cộng đồng Con người được xem là vốn quí nhất, là nhân tố quyết định hàng đầu. - Vai trò lãnh đạo, quản lí có hiệu quả của Nhà nước và các công ty Nhật Bản (như thông tin và dự báo về tinh hình kinh tế thế giới; áp dụng các tiến bộ khoa học, kĩ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất và sức cạnh tranh hàng hóa, tín dụng...). - Các công ty của Nhật Bản năng động, có tầm nhìn xa, quản lí tốt nên có tiềm lực và sức cạnh tranh cao. - Nhật Bản luôn áp dụng các thành tựu khoa học - kĩ thuật hiện đại, không ngừng nâng cao năng suất, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm. - Chi phí cho quốc phòng ít nên có điều kiện tập trung cho phát triển kinh tế. - Tận dụng tốt các điều kiện bên ngoài như nguồn viện trợ Mỹ và các cuộc Chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953) và Việt Nam (1954 – 1975) để làm giàu. c) Việt Nam có thể học tập những kinh nghiệm từ nước Nhật: + Về con người: cần được đào tạo chu đáo, có ý thức tổ chức kỷ luật, được trang bị kiến thức và nghiệp vụ, cần cù và tiết kiệm, ý thức cộng đồng, có khả năng tiếp thu kỹ thuật hiện đại. + Về vai trò lãnh đạo, quản lí của Nhà nước thực hiện chính sách đối ngoại tự chủ, thông tin và dự báo về tình hình kinh tế thế giới; nhà nước giữ vai trò chủ đạo, điều tiết nền kinh tế nhằm phát triển kinh tế hiệu quả. Nhà nước quản lý kinh tế một cách có hiệu quả, có kế hoạch, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Năm bắt thời cơ, vượt qua thách thức hưởng tới tương lai.
  11. + Áp dụng các tiến bộ khoa học, kĩ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất và sức cạnh tranh hàng hóa. Câu 13. Khái quát chính sách đối ngoại của Nhật Bản trong và sau Chiến tranh lạnh. Trả lời * Thời kì trong "Chiến tranh lạnh" - Nền tảng chính sách đối ngoại của Nhật Bản là chủ trương liên minh chặt chẽ với Mĩ, đặt nền tảng cho quan hệ giữa hai nước sau này. + Ngày 8/9/1951, Nhật Bản kí Hiệp ước hòa bình Xan Phran-xi-xcô, và kết thúc chế độ chiếm đóng của Đông minh năm 1952. Cùng ngày, Hiệp ước An ninh Nhật - Mĩ được kí kết. Theo đó, Nhật Bản đứng dưới chiếc ô bảo hộ hạt nhân của Mĩ, để Mĩ đóng quân và xây dựng căn cứ quân sự trên lãnh thổ Nhật. + Hiệp ước An ninh Mĩ – Nhật (tháng 9/ 1951), được gia hạn 10 năm, sau này được kéo dài vĩnh viễn. + Năm 1956, Nhật Bản đã bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Liên Xô và cùng năm này trở thành thành viên của Liên hợp quốc. + Năm 1973, Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam và bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Năm 1978, Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị Nhật - Trung được kí kết. + Tháng 8 – 1977, với học thuyết Phucưda, đánh dấu sự "trở về" châu Á của Nhật Bản. + Năm 1991, Nhật Bản đưa ra “Học thuyết Kaiphu” là tiếp tục phát triển "Học thuyết Phucưđa trong hoàn cảnh lịch sử mới nhằm củng cố mối quan hệ về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội với các nước Đông Nam Á. * Thời kì sau "Chiến tranh lạnh” - Nhật Bản tiếp tục liên minh chặt chẽ với Mỹ, tháng 4/1996, Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ được tái khẳng định kéo dài vĩnh viễn. Mặt khác, Nhật Bản coi trong quan hệ với Tây Âu và mở rộng đối ngoại với các nước trên phạm vi toàn cầu. - Quan hệ hợp tác kinh tế giữa Nhật Bản với các nước NICs và ASEAN với tốc độ mạnh mẽ. Nhật Bản phát triển mối quan hệ về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đối với các nước ASEAN. - Vai trò, vị trí và ảnh hưởng của Nhật Bản ngày càng lớn trên trường quốc tế cả về kinh tế và chính trị. Câu 14. Những chuyển biến quan trọng của hệ thống đế quốc chủ nghĩa nửa sau thế kỉ XX. Hãy phát biểu nhận thức của mình về bản chất của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Trả lời a. Những chuyển biến quan trọng của hệ thống đế quốc chủ nghĩa nửa sau thế kỉ XX - Từ năm 1945 đến năm 1950: giai đoạn vươn lên “đỉnh cao” của chủ nghĩa tư bản Mĩ. Thông qua “viện trợ” kinh tế, quân sự cùng với việc thành lập các khối quân sự, Mĩ đã khống chế chặt chẽ các nước tư bản Tây Âu, Nhật Bản về kinh tế, chính trị, quân sự. - Từ năm 1950 đến năm 1973: giai đoạn các nước Tây Âu, Nhật Bản sau khi khôi phục lại nền kinh tế đạt mức trước chiến tranh, đã vươn lên mạnh mẽ về kinh tế, trở thành những đối thủ cạnh tranh nguy hiểm của Mĩ. Mĩ, Nhật Bản và Liên minh châu Âu đã trở thành những trung tâm kinh tế - tài chính lớn thế giới. - Từ năm 1973 đến năm 1991: các nước tư bản phát triển đã sớm đi vào cải tổ lại cơ cấu kinh tế, từng bước vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế vào đầu những năm 80 rồi sau đó tiếp tục phát triển về kinh tế, ổn định tình hình chính trị. - Ngoài ra, một số nước trước đây là thuộc địa, sau khi giành lại độc lập đi theo con đường từ bản chủ nghĩa đã phát triển, trở thành những nước Công nghiệp mới (NICs). - Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, các nước tư bản ngày càng có xu thế liên kết kinh tế khu vực, tiêu biểu là sự ra đời và phát triển của Liên minh châu Âu (EU). b. Đánh giá bản chất của chủ nghĩa tư bản hiện đại * Tiềm năng. - Chủ nghĩa tư bản chiến thắng chế độ phong kiến đã xây dựng lên một xã hội tiến bộ hơn hẳn chế độ phong kiến lạc hậu.
  12. - Do chiếm lĩnh được những vị trí then chốt của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, xây dựng được một cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, các nước tư bản phát triển đã đẩy nhanh năng suất lao động, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và tăng cường sức cạnh tranh. - Chủ nghĩa tư bản có bề dày kinh nghiệm và phương pháp quản lý kinh tế, có hệ thống pháp chế kiện toàn và cơ chế vận hành xã hội hoàn chỉnh. Nhờ đó, chủ nghĩa tư bản đã kết hợp được ước muốn của con người và sức sáng tạo của họ, tạo ra nguồn lực cho những đổi mới căn bản của nền kinh tế. - Chủ nghĩa tư bản đã và sẽ tiếp tục có khả năng tự điều chỉnh và thích nghi để tiếp tục tồn tại và phát triển. - Vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của các nước tư bản. - Xu hướng toàn cầu hóa đã và sẽ tạo ra cho các nước tư bản những nguồn lực bên ngoài quan trọng để phát triển kinh tế. * Hạn chế: - Sự phân cực xã hội tiếp tục duy trì và ngày càng gia tăng trong tất cả các nước tư bản. - Chủ nghĩa tư bản hiện đại đã và đang đối mặt với những vấn đề chính trị - xã hội nan giải. Đó là nạn thất nghiệp, sự suy giảm các giá trị xã hội, sự đề cao lối sống cá nhân, nạn kì thị chủng tộc, tỷ lệ tội phạm và bao lực gia tăng... Những vấn đề nêu trên phản ánh những mâu thuẫn tiềm ẩn và giới hạn của chủ nghĩa tư bản trong việc giải quyết những mâu thuẫn đó. - Chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột, bất công, mặc dù các hình thức bóc lột luôn được che đậy và thay đổi dựa trên việc áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. - Chủ nghĩa tư bản hiện đại mặc dù đã đạt đến trình độ phát triển cao nhưng khó có thể loại trừ được nguồn gốc dẫn đến những cuộc khủng hoảng vốn có của nó. - Nhìn chung có thể thấy, mặc dù chủ nghĩa tư bản vẫn còn tiềm năng phát triển nhưng không thể tránh khỏi những giới hạn, xuất phát từ mẫu thuẫn giữa tính chất xã hội của nền sản xuất với tính chất cá nhân của quan hệ sở hữu. Chính sự vận động của mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản sẽ quyết định sự thay thế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng một phương thức sản xuất mới cao hơn, tiến bộ hơn. Câu 15. Vai trò của cách mạng khoa học - kĩ thuật đối với sự phát triển của nền kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa. Trả lời - Tận dụng triệt để thành tựu khoa học - kĩ thuật cho nền kinh tế, đó là sự phát triển bền vững, lâu dài. Nhờ áp dụng khoa học - kĩ thuật nên các nước tư bản đã tăng năng xuất, giảm giá thành sản phẩm và có khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường. - Từ năm 1973, khủng hoảng năng lượng đã báo hiệu nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt. Các nước tư bản lớn như Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản đều tập trung phát triển khoa học - kĩ thuật, nên nền kinh tế phát triển nhanh so với giai đoạn trước. - Hơn nữa, từ những năm 60, 70 (thế kỉ XX) trở đi, hệ thống thuộc địa của thực dân sụp đổ. Điều đó cũng có nghĩa là nguồn nhân công rẻ mạt. nguồn tài nguyên thiên nhiên từ các nước thuộc địa đã hết. Nhưng các nước tư bản này vẫn phát triển kinh tế một cách nhanh chóng. Vậy điều thúc đẩy kinh tế phát triển đó chính là tận dụng triệt để thành tựu khoa học – kĩ thuật. - Các nước Tây Âu, Nhật Bản nghèo nguyên liệu (dầu mỏ, khoáng sản), nhưng đạt nhiều thành tựu kì diệu về kinh tế. Nguyên nhân thúc đẩy nên kinh tế các nước này phát triển nhanh đó là do áp dụng thành tựu khoa học - kĩ thuật. Còn những nước có nhiều dầu mỏ như khối nước Ả-rập, Bru- nây... lại không phải là nước có nền kinh tế phát triển do họ chủ yếu dùng dầu mỏ đề xuất khẩu, bán cho các nước khác. - Ngày nay, những nước nào nắm được khoa học - kĩ thuật và công nghệ, làm chủ khoa học thì nước đó vươn lên, những nước không tận dụng khoa học - kĩ thuật thì sẽ tụt hậu.
  13. Câu 16. Những nguyên nhân chung và riêng dẫn tới sự phát triển kinh tế Mĩ, Nhật Bản, Tây Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong những nguyên nhân ấy, nguyên nhân nào quan trọng nhất? Vì sao? Trả lời a. Nguyên nhân chủ yếu - Nguyên nhân chung: + Dựa vào thành tựu khoa học - kĩ thuật, điều chính hợp lí cơ cấu sản xuất, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm. + Nhờ trình độ tập trung sản xuất, tập trung tư bản cao có sức sản xuất, cạnh tranh lớn và hiệu quả ở cả trong và ngoài nước. + Vai trò điều tiết của nhà nước có hiệu quả. Các chính sách và biện pháp của nhà nước có vai trò thúc đẩy kinh tế phát triển. - Nguyên nhân riêng: + Mĩ: Ít bị tổn thất trong hai cuộc chiến tranh thế giới: chiến tranh không xảy ra ở Mĩ, Mĩ được hai đại dương bao bọc nên Mĩ có điều kiện hòa bình để phát triển kinh tế. Hơn năm, Mĩ còn lợi dụng chiến tranh để làm giàu, thu lợi nhuận từ việc buồn bán vũ khí. Mĩ còn có lợi thể là nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phủ, nhân công dồi dào. + Tây Âu: Biết lợi dụng nguồn vốn nước ngoài để tập trung vào ngành kinh tế then chốt, tranh thủ được giá nguyên liệu rẻ từ các nước thuộc thế giới thứ ba, hợp tác có hiệu quả trong khuôn khổ của EC. + Nhật Bản: Nhật ít phải chi tiêu cho quân sự (dưới 1% GDP), biên chế hành chính gọn nhẹ, biết len lách vào thị trường các nước khác, có truyền thống tự lực tự cường, biết lợi dụng nguồn vốn nước ngoài để tập trung vào ngành kinh tế then chốt. b. Nguyên nhân quan trọng - Đầu tư phát triển khoa học – kĩ thuật, tận dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật, điều chỉnh cơ cấu sản xuất, cải tiến kĩ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm. c. Giải thích - Tận dụng triệt để thành tựu khoa học – kĩ thuật cho nền kinh tế, đó là sự phát triển bền vững, lâu dài. Vì nhờ áp dụng khoa học – kĩ thuật nên các nước đó đã tăng năng suất, giảm giá thành sản phẩm và có khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường. - Từ năm 1973, khủng hoảng năng lương đã báo hiệu nguồn tài nguyên thiên nhiên bị can kiệt. Các nước từ bản lớn như Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản đều tập trung phát triển khoa học - kĩ thuật nên nền kinh tế phát triển nhanh so với giai đoạn trước. - Hơn nữa, từ những năm 50, 60, 70 trở đi, hệ thống thuộc địa của CNTB, thực dân sụp đổ. Điều đó có nghĩa là nguồn nhân công rẻ mạt đã hết. Nhưng các nước này vẫn phát triển kinh tế một cách nhanh chóng. Vậy điều thúc đẩy kinh tế phát triển đó chính là tận dụng triệt để thành tựu khoa học – kĩ thuật. - Các nước nghèo nguyên liệu như dầu mỏ, khoáng sản... ở Tây Âu, Nhật Bản nhưng đạt nhiều thành tựu kì diệu về kinh tế. Vì vậy, điều thúc đẩy nền kinh tế các nước này phát triển nhanh đó là do áp dụng thành tựu khoa học - kĩ thuật. Còn những nước có nhiều dấu mỏ như khối nước Ả rập, Brunây lại không phải là nước có nền kinh tế phát triển do họ dùng dầu mỏ để xuất khẩu, bán cho các nước khác. - Ngày nay, những nước nào nắm được khoa học – kĩ thuật và công nghệ, làm chủ khoa học thì nước đó vươn lên, những nước không tận dụng khoa học – kĩ thuật thì sẽ bị tụt hậu. Câu 17. Không có đồng minh vĩnh viễn chỉ có lợi ích dân tộc quốc gia là vĩnh viễn. Thông qua chính sách đối ngoại của Mĩ trong và sau chiến tranh thế giới thứ hai, anh chị hãy làm rõ nội dung trên? Trả lời - Căn cứ vào những chính sách đối ngoại của Mĩ, đặc biệt là chính sách đối với các cường quốc trong và sau chiến tranh thế giới thứ 2 (1939 – 1952) thì ý kiến cho rằng không có đồng minh vĩnh viễn chỉ có lợi ích dân tộc quốc gia là vĩnh viễn là đúng. * Chứng minh:
  14. - Giai đoạn từ 1939 – 1945: là khoảng thời gian diễn ra CTTG 2, đây là cuộc chiến đối đầu giữa 2 phe, một bên là các nước Đồng minh và một bên là các nước phát xít qua 2 giai đoạn chính: giai đoạn 1 là sự thắng thế của các nước phát xít, giai đoạn 2 phe Đồng minh phản công và từng bước đánh bại phát xít. + Trong giai đoạn đầu, Mĩ không tham chiến, Mĩ đứng ngoài cuộc chiến buôn bán vũ khí cho cả 2 phía để thu lợi nhuận. Kể từ sau trận Trân Châu Cảng, Mĩ chính thức tham gia chiến tranh, trong bối cảnh này quan hệ giữa các nước lớn Mĩ đứng về phe đồng minh chống lại phe phát xít. Từ chủ trương này, đã dẫn đến Mĩ chọn Liên Xô là đồng minh chống phát xít. ü Liên Xô vốn là nước đi theo XHCN là nước đối lập với Mĩ nhưng vì mục tiêu và lợi ích trước mắt Mĩ sẵn sàng bắt tay với Liên Xô (đây là quan hệ tạm thời, trước mắt). ü Ngược lại, Mĩ đối đầu với Nhật, xem Nhật là kẻ thù, mặc dù Nhật là một quốc gia theo TBCN. à Suy cho cùng trong chiến tranh việc kết giao đồng minh với Liên Xô và đối đầu với Nhật bản thực hiện mục tiêu của Mĩ. - Giai đoạn 2 (1945 – 1952): Sau CTTG 2 kết thúc, hầu hết các nước tham chiến dù là thắng trận hay bại trận đều thiệt hại rất nặng nề, ngoại trừ Mĩ. Trái lại Mĩ không những không bị thiệt hại mà còn thu được nhiều lợi ích (kinh tế, chính trị, KHKT ), bên cạnh đó Mĩ là nước duy nhất trên thế giới sở hữu bom nguyên tử. + Với lợi thế về kinh tế và quốc phòng chính quyền Mĩ chính thức thay đổi chính sách của mình với chiến lược toàn cầu: ü Tiêu diệt, đẩy lùi tiến tới tiêu diệt CNXH trên TG. ü Khống chế chi phối các nước tư bản đồng minh ü Đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cách mạng, phong trào hòa bình, dân chủ trên TG + Để triển khai chiến lược này Mĩ đã có sự điều chỉnh chính sách đối ngoại với các cường quốc: ü Liên Xô từ Đồng minh chuyển sang đối đầu: 3/1947, Tổng thống Mĩ Tru-man phát biểu trước Quốc hội Mĩ một thông điệp: sự tồn tại của Liên Xô là sự đe dọa với Mĩ vì vậy Mĩ có sứ mệnh lãnh đạo thế giới tự do chống lại sự bành trướng CNXH. Từ đó, Mĩ và Liên Xô chấm dứt quan hệ đồng minh chuyển sang quan hệ đối đầu. Đồng thời, sự kiện này đánh dấu sự mở đầu chiến tranh lạnh chống lại LX và các nước XHCN. ü Nhật Bản từ quan hệ đối đầu trong chiến tranh từng bước trở thành đồng minh chiến lược của Mĩ. ü Sau chiến tranh theo sự thỏa thuận của các cường quốc Mĩ có cơ sở pháp lí để đóng quân và thực hiện các chính sách của mình ở Nhật Bản. ü Hơn nữa sau chiến tranh, nhiều cuộc chiến tranh cục bộ đã diễn ra, như chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh Đông Dương Mĩ rất cấn đồng minh. + Ngược lại, Nhật Bản sau chiến tranh cũng bắt tay vào công cuộc cải cách, khôi phục lại đất nước, rất cần tiền mà Mĩ là nước có thể cho Nhật vay tiền. Cho nên năm 1951 Hiệp ước An ninh Mĩ – Nhật được ký kết 10 năm sau đó là vĩnh viễn là cơ sở cho quan hệ đồng minh chiến lược. Câu 18. Những thay đổi tương quan lực lượng trong hệ thống các nước TBCN từ sau CTTG2 và giải thích vì sao có sự thay đổi đó? Trả lời a. Những thay đổi trong tương quan lực lượng trong các nước TBCN - CTTG 2 kết thúc đã để lại trong hệ thống TBCN sự biến đổi so với trước đó: + Các nước TB châu Âu và Nhật Bản bị chiến tranh tàn phá nặng nề, tổn thất lớn về người và của, bị đẩy xuống hàng các nước tư bản hạng 2. Chỉ có Mĩ là giàu lên nhanh chóng trong chiến tranh, nước Mĩ thu 114 tỉ USD do buôn bán vũ khí và trang thiết bị, trở thành nước mạnh nhất về kinh tế và chủ nợ lớn nhất của thế giới lúc bấy giờ. Sự vượt trội về kinh tế, chính trị và quân sự của Mĩ là cơ sở để nước nay đưa ra tham vọng làm bá chủ thế giới. Từ đó Mĩ ráo riết thực hiện chiến lược toàn cầu của mình. + Tuy nhiên, sức mạnh và ưu thế này của Mĩ không kéo dài được mãi, nó bị giảm sút tương đối từ những năm 60, đặc biệt từ những năm 70 trở đi khi các nước TB châu Âu và Nhật Bản phục hồi và vượt lên nhanh chóng. Sự tăng trưởng nhanh chóng đưa lai sự thay đổi về chất trong cơ cấu kinh tế Vì thế hình thành 3 trung tâm kinh tế– tài chính TG là Mĩ, Tây Âu và NB.
  15. + Để đối trọng với Mĩ và phù hợp với sự tác động của của cuộc cách mạng KHCN, các nước TB có xu thế liên kết kinh tế khu vực lại với nhau mà tiêu biểu là sự ra đời và phát triển của Liên minh châu Âu (EU), Mĩ, NB và EU trở thành những trung tâm thương mại và tài chính lớn nhất thế giới. b. Bởi vì: - Mĩ có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế so với Tây Âu và NB: lãnh thổ rộng lớn, giàu tài nguyên, không có chiến tranh lại được hưởng những lợi thế trong và sau chiến tranh, không bị tổn thất không bị chiến tranh tàn phá. Trong đó các nước châu Âu và NB là bãi chiến trường, do đó những nước này kiệt quệ và phải nhờ vào viện trợ của Mĩ để phục hồi kinh tế và xây dựng lại đất nước cho nên phụ thuộc vào Mĩ. - Với tiềm lực kinh tế, tài chính và quân sự vượt trội Mĩ tự cho mình quyền lãnh đạo thế giới và đứng đầu hệ thống TBCN. - Sự lớn mạnh của hệ thống XHCN và sự pt mạnh mẽ của ptgpdt sau CTTG 2 đã tác động đến việc thực hiện chiến lược toàn cầu của Mĩ, đã tác động đến hệ thống thuộc địa của các nước tư bản phương Tây. Do vậy, các nước này chấp nhận sự lãnh đạo của Mĩ, phải tranh thủ sự viện trợ, ủng hộ của Mĩ đối với mình. - Nhờ có sự điều chỉnh kịp thời và tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi như kế hoạch Mác- san đối với các nước châu Âu, chiến tranh Triều Tiên 1950 – 1953, chiến tranh Việt Nam 1954 – 1975, Nhật Bản đã nhận được những đơn đặt hàng hậu hĩnh của quân đội Mĩ. Cho nên các nước này có sự tăng trưởng nhanh chóng và trở thành những nền kinh tế phát triển cạnh tranh trở lại với Mĩ và nhiều nước đã độc lập hơn trong quan hệ với Mĩ như Pháp dưới thời Tổng thống Đờ-Gôn - Do tác động của cuộc cách mạng KHCN dẫn tới sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xu thế toàn cầu hóa nên các nước tư bản có xu thế liên kết lại với nhau trước hết là liên kết về kinh tế. Điều đó dẫn tới sự thay đổi trong tương quan lực lượng trong các nước tư bản.