Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 12 - Chuyên đề: Miền Bắc 1954-1975
Bạn đang xem tài liệu "Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 12 - Chuyên đề: Miền Bắc 1954-1975", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
chuyen_de_boi_duong_hsg_mon_lich_su_lop_12_chuyen_de_mien_ba.pdf
Nội dung text: Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 12 - Chuyên đề: Miền Bắc 1954-1975
- 1 VIII. MIỀN BẮC 1. Mỹ tiến hành chiến tranh bằng không quân và hải quân phá hoại miền Bắc lấn thứ nhất : a. Hoàn cảnh - Ngày 5/8/1964, Mỹ dựng lên "sự kiện vịnh Bắc Bộ" cho máy bay ném bom, bắn phá một số nơi ở miền Bắc (cửa sông Gianh, Vinh - Bến Thủy)... - Ngày 7/2/1965, Mỹ ném bom thị xã Đồng Hới, đảo Cồn Cỏ... chính thức gây ra cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc. b Âm mưu: - Phá tiềm lực kinh tế - quốc phòng, phá công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc. - Ngăn chặn chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam. - Uy hiếp tinh thần, làm lung lay quyết tâm chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. 2. Miền Bắc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa sản xuất vừa làm nghĩa vụ hậu phương : a. Miền Bắc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại - Chuyển mọi hoạt động sang thời chiến, quân sự hóa toàn dân, đắp công sự, đào hầm, sơ tán... để tránh thiệt hại về người và của, tiếp tục chiến đấu và sản xuất. Hễ địch đến là đánh, ai không trực tiếp chiến đấu thì phục vụ sản xuất. - Chú trọng : đẩy mạnh kinh tế địa phương (công - nông nghiệp, giao thông vận tải) đảm bảo phục vụ chiến tranh. - Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, quân dân miền Bắc thi đua chống Mỹ, đạt nhiều thành tích lớn trong chiến đấu và sản xuất. Sau hơn 4 năm (5.08.1964 - 01.11. 1968), miền Bắc bắn rơi 3.243 máy bay (6 B52, 3 F111), loại khỏi vòng chiến hàng ngàn phi công, bắn chìm 143 tàu chiến. Ngày 1/11/1968, Mỹ buộc phải ngưng ném bom miền Bắc. b. Miền Bắc vừa sản xuất vừa làm nghĩa vụ hậu phương: * Sản xuất : - Nông nghiệp: diện tích canh tác được mở rộng, năng suất tăng, đạt “ba mục tiêu” (5 tấn thóc, 2 đầu lợn, 1 lao động/ 1ha/1 năm). - Công nghiệp: năng lực sản xuất ở một số ngành được giữ vững, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của sản xuất và đời sống. - Giao thông vận tải: đảm bảo thường xuyên thông suốt. * Làm nghĩa vụ hậu phương : - Miền Bắc phấn đấu “Mỗi người làm việc bằng hai”. Vì tiền tuyến kêu gọi, hậu phương sẵn sàng đáp lại: “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. - Tuyến đường Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển bắt đầu khai thông (tháng 5/1959), nối liền hậu phương với tiền tuyến. Trong 4 năm (1965 - 1968) đưa hơn 30 vạn cán bộ,
- 2 bộ đội vào Nam chiến đấu và xây dựng vùng giải phóng, cùng hàng chục vạn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men , tăng gấp 10 lần so với trước. 2: Nhân dân miền Bắc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mĩ a. Hoàn cảnh : - Từ ngày 6-4-1972, một tuần sau khi quân dân ta ở miền Nam bắt đầu cuộc tiến công chiến lược (30/3/1972), Mĩ cho không quân và hải quân đánh phá một số nơi thuộc khu IV cũ. - Ngày 16/4/1972, NíchXơn chính thức tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại mBắc lần thứ hai bằng không quân và hải quân. b. Âm mưu: - Phá tiềm lực kinh tế - quốc phòng, phá công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc. - Ngăn chặn chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam. - Uy hiếp tinh thần, làm lung lay quyết tâm chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. - Cứu nguy cho chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, tạo thế mạnh trên bàn đàm phán ở Pari. c. Thủ đoạn: + Sử dụng các loại máy bay hiện đại nhất như B52, F111. + Quy mô, tốc độ, cường độ đánh phá vượt xa so với lần thứ nhất. + Ngày 9/5/1972 phong toả cảng Hải Phòng cùng các cửa sông, luồng lạch, vùng biển miền Bắc. d. Diễn biến và kết quả: - Nhờ được chuẩn bị trước và với tư thế luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, miền Bắc đã chủ động, kịp thời chống trả địch ngay từ đầu. Các lực lượng vũ trang phòng không, không quân và phòng thủ vùng biển của ta đã đánh thắng giòn giã. Chỉ tính trong 7 tháng đầu của cuộc chiến đấu (4 đến 10/1972), quân dân ta đã bắn rơi 651 máy bay, bắn cháy và bị thương 80 tàu chiến Mĩ, bắt sống hàng trăm giặc lái.Các hoạt động sản xuất, xây dựng ở miền Bắc không bị ngừng trệ, giao thông vẫn đảm bảo thông suốt, các hoạt động khác cũng phát triển. - Không đạt được mục tiêu như mong muốn, cuối 1972, Mĩ tăng cường hơn nữa hoạt động chiến tranh chống miền Bắc. Ngày 14- 12-1972, gần 2 tháng sau khi tuyên bố ngừng ném bom bắn phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra để hổ trợ cho mưu đồ chính trị, ngoại giao mới, chính quyền Nichxơn phê chuẩn kế hoạch mở cuộc tập kích bằng không quân chiến lược vào HNội, Hải Phòng. Cuộc tập kích 24 trên 24 giờ trong ngày bằng máy bay chiến lược B52 vào thủ đô HNội và thành phố cảng Hải Phòng bắt đầu từ chiều tối 18-12 đến hết 29-12-1972, nhằm giành một thắng lợi quân sự quyết định, buộc ta phải kí một hiệp định có lợi cho Mĩ. - Trong 12 ngày đêm liên tục, Mĩ sử dụng trên 700 lần chiếc máy bay B52, gần 4000 lần chiếc máy bay chiến thuật chiến đấu, rải xuống HNội, Hải Phòng và một số mục tiêu phía
- 3 Bắc từ vĩ tuyến 20 một khối lượng bom đạn 10 vạn tấn (riêng HNội 4 vạn tấn), với sức công phá bằng 5 quả bom nguyên tử mà Mĩ ném xuống NBản năm 1945. - Nhờ chuẩn bị tốt về cả tư tưởng và tổ chức, lực lượng và cả phương tiện. Quân dân ta ở miền Bắc đã đánh không quân Mĩ những đòn đích đáng, bắn rơi 81 máy bay (trong đó 34 máy bay B52, 5 máy bay F111), bắt sống 43 phi công Mĩ, đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 của chúng. thắng lợi này được coi như trận “Điện Biên Phủ trên không” . Tính chung, trong cả cuộc chiến tranh phá hoại lần 2 (từ 6-4-1972 đến 15-1-1973), miền Bắc bắn rơi 734 máy bay Mĩ (trong đó có 61 máy bay B52, 10 máy bay F111), bắn chìm 125 tàu chiến, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm phi công Mĩ. - Ý nghĩa: “Điện Biên Phủ trên không” là trận thắng quyết định của ta, buộc Mĩ phải tuyên bố ngững hẳn các hoạt động chống phá miền Bắc (15-1-1973) và kí Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam (27-1-1973) 3. Miền Bắc khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện nghĩa vụ của hậu phương 1969 đến năm 1973 1. Miền Bắc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội : - Nông nghiệp: Chính phủ chủ trương khuyến khích sản xuất, chú trọng chăn nuôi, sản xuất, thâm canh tăng vụ (5 tấn/ha), sản lượng lương thực năm 1970 tăng hơn 60 vạn tấn so với 1968. - Công nghiệp : Khôi phục và xây dựng, ưu tiên thủy điện Thác Bà (Hòa Bình) (phát điện tháng 10/1971). Giá trị sản lượng 1971 tăng 142% so với 1968. - Giao thông vận tải : nhanh chóng khôi phục. - Văn hóa, giáo dục, y tế: phục hội và phát triển. 2. Miền Bắc chi viện miền Nam : - Đảm bảo tiếp nhận hàng viện trợ từ bên ngoài và chi viện theo yêu cầu của tiền tuyến miền Nam, cả Lào và Campuchia. - 1969 - 1971: hàng chục vạn thanh niên nhập ngũ 60% vào miền Nam, Lào, Campuchia. Năm 1972, 22 vạn thanh niên nhập ngũ vào chiến trường Đông Dương. - Viện trợ khối lượng vật chất tăng 1,6 lần trước kia (1972 : tăng 1,7 lần so với 1971). 4: Miền Bắc Khôi phục kinh tế và Thực hiện nghĩa vụ hậu phương sau Hiệp định Pari năm 1973 - Sau Hiệp định Pari 1973, thay đổi so sánh lực lượng ở miền Nam có lợi cho cách mạng. Miền Bắc trở lại hòa bình, vừa tiến hành khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, vừa tiếp tục chi viện cho tiền tuyến miền Nam. * Khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội:
- 4 + Đến cuối 6/1973, mB căn bản hoàn thành tháo gỡ thuỷ lôi, bom mìn, bảo đảm đi lại bình thường. + Sau hai năm 1973 – 1974, về cơ bản mB khôi phục xong các cơ sở kinh tế, hệ thống thuỷ nông, giao thông, các công trình văn hoá, giáo dục, y tế. ..kinh tế có bước phát triển + Đến cuối 1974, sản xuất công, nông nghiệp trên một số mặt quan trọng đã đạt và vượt mức năm 1964 và 1971, đời sống nhdân được ổn định. * Thực hiện nghĩa vụ hậu phương: + Trong hai năm 1973 -1974, mB đưa vào các chiến trường mNam, Cpc, Lào gần 20 vạn bộ đội, hàng vạn thanh niên xung phong, cán bộ chuyên môn, nhân viên kĩ thuật. Đầu 1975, mB đưa vào mNam 57 000 bộ đội. + Về vật chất – kĩ thuật: đảm bảo đầy đủ và kịp thời nhu cầu to lớn và cấp bách của cuộc Tổng tiến công chiến lược ở miền Nam. à Tác dụng: Vừa góp phần vào chiến thắng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc vừa phục vụ nhiệm vụ xây dựng vùng giải phóng trên các lĩnh vực, chuẩn bị cho việc tiếp quản sau khi chiến tranh kết thúc. 5. VAI TRÒ CỦA HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ, CỨU NƯỚC (1954 – 1975) Sau Hiệp định Geneve 1954 về Đông Dương, do âm mưu và những hành động phá hoại Hiệp định Geneve của Mĩ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, đất nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau: miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ ở Đông Dương. Căn cứ vào đặc điểm tình hình nước ta – tạm thời bị chia cắt thành 2 miền với 2 chế độ chính trị khác nhau, Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra cho mỗi miền những chiến lược cách mạng khác nhau, phù hợp với từng miền: - Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng miền Bắc là khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh; tiến hành công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho miền Bắc vững mạnh, trở thành hậu phương vững chắc cho miền Nam và là căn cứ địa cách mạng của cả nước. - Miền Nam tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, đánh đổ ách thống trị của Mĩ và tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
- 5 Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (9/1960) xác định cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của cách mạng cả nước. Vai trò này được thể hiện ở các nội dung sau: - Miền Bắc đã hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam: + Miền Bắc chi viện cho miền Nam bằng tuyến đường vận chuyển chiến lược Bắc – Nam mang tên Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển bắt đầu được khai thông từ năm 1959, dài hàng nghìn km. + Khẩu hiệu của miền Bắc là “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mĩ xâm lược”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” + Trong 5 năm (1961 – 1965), một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, thuốc men được chuyển vào chiến trường. Ngày càng có nhiều đơn vị vũ trang, cán bộ quân sự và cán bộ các ngành được đưa vào miền Nam tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu và xây dựng vùng giải phóng. Sự chi viện của miền Bắc trong thời gian này là nhân tố quyết định đến thắng lợi của nhân dân miền Nam đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ. + Trong 4 năm (1965 – 1968), miền Bắc đã đưa vào miền Nam hơn 30 vạn cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu và xây dựng vùng giải phóng cùng hàng chục vạn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men Tính chung, trong 4 năm, sức người, sức của từ miền Bắc chuyển vào chiến trường miền Nam tăng gấp 10 lần so với giai đoạn trước. + Trong thời gian Mĩ ngừng ném bom sau chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và cả trong chiến tranh phá hoại lần thứ hai, miền Bắc đã khắc phục kịp thời hậu quả của những trận đánh phá khốc liệt, vượt qua những cuộc bao vây phong toả gắt gao của địch, bảo đảm tiếp nhận tốt hàng viện trợ từ bên ngoài và tiếp tục chi viện theo yêu cầu của chiến trường miền Nam, cũng như làm nghĩa vụ quốc tế đối với chiến trường Lào và Campuchia. + Trong 3 năm (1969 – 1971), hàng chục vạn thanh niên miền Bắc được gọi nhập ngũ, trong số đó có 60% lên đường bổ sung cho các chiến trường miền Nam, Lào,
- 6 Campuchia. Khối lượng vật chất đưa vào các chiến trường tăng gấp 1,6 lần so với 3 năm trước đó. + Riêng năm 1972, miền Bắc đã động viên hơn 22 vạn thanh niên bổ sung cho lực lượng vũ trang, đưa vào chiến trường 3 nước Đông Dương nhiều đơn vị bộ đội được huấn luyện, trang bị đầy đủ; còn khối lượng vật chất đưa vào chiến trường tăng gấp 1,7 lần so với năm 1971. + Trong hai năm 1973 – 1974, miền Bắc đưa vào chiến trường miền Nam, Lào, Campuchia gần 20 vạn bộ đội, hàng vạn thanh niên xung phong, cán bộ chuyên môn, nhân viên kĩ thuật. Đột xuất trong năm 1975, miền Bắc đưa vào miền Nam 57.000 bộ đội. Về vật chất – kĩ thuật, miền Bấc có nỗ lực phi thường, đáp ứng đầy đủ nhu cầu to lớn và cấp bách của cuộc tổng tiến công chiến lược ở miền Nam. Từ đầu mùa khô 1973 – 1974 đến đầu mùa khô 1974 – 1975, miền Bắc đưa vào chiến trường hơn 26 vạn tấn vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng, xăng dầu, thuốc men, lương thực, thực phẩm. → Nguồn chi viện cùng với thắng lợi trong chiến đấu và sản xuất của quân dân miền Bắc đã góp phần quyết định vào thắng lợi của quân dân miền Nam trong cuộc chiến đấu đánh bại các chiến lược chiến tranh xâm lược của Mĩ và giải phóng hoàn toàn miền Nam. - Miền Bắc còn làm nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và Campuchia, thường xuyên chi viện sức người, sức của cho chiến trường hai nước bạn; góp phần củng cố và tăng cường khối đoàn kết ba dân tộc ở Đông Dương trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung. Khối liên minh chiến đấu giữa ba nước Đông Dương trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung đã tạo ra một nhân tố quan trọng để đưa đến thắng lợi của mỗi nước trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. - Không chỉ là hậu phương, miền Bắc còn là chiến trường trực tiếp đánh Mĩ. Quân dân miền Bắc đã chiến đấu, đánh thắng hai lần chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mĩ, đặc biệt làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng B52 của Mĩ vào Hà Nội, Hải Phòng cuối năm 1972. Chiến thắng của quân dân miền Bắc trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, góp phần đập tan ý chí xâm lược của Mĩ, buộc họ phải ngồi vào bàn đàm phán và kí Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.
- 7 - Những thành tựu của miền Bắc trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cùng với uy tín của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nguồn động viên về tinh thần to lớn đối với nhân dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Bằng những sự kiện lịch sử, anh (chị) hãy chứng minh câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị Chính trị đặc biệt (3/1964) : “Trong 10 năm qua, miền Bắc nước ta đã tiến hành những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới.” 1. Từ năm 1954 đến năm 1957, sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đã bắt tay vào công cuộc cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh. Qua 5 đợt cải cách ruộng đất, giai cấp đoạ chủ căn bản bị xoá bỏ. Nông dân đã làm chủ nông thôn, nguyện vọng lâu đời của nhân dân là “người cày có ruộng” đã được thực hiện. - Công cuộc khôi phục kinh tế được toàn dân tích cực hưởng ứng và triển hai trong tất cả các ngành. Trong nông nghiệp, nông dân hăng hái khai khẩn ruộng đất bỏ hoang, bảo đảm cày cấy hết ruộng đất vẳng chủ, tăng thêm đàn trâu bò, sắm thêm nông cụ. Hệ thống đê điều được tu bỏ. Trong công nghiệp, giai cấp công nhân đã nhanh chóng khôi phục và mở hầu hết các cơ sở công nghiệp. Các ngành thủ công nghiệp miền Bắc cũng được khôi phục nhanh chóng. Trong thương nghiệp, hệ thống mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán được mở rộng, đã cung cấp ngày càng nhiều mặt hàng cho nhân dân; giao lưu hàng hoá giữa các địa phương ngày càng phát triển; hoạt động ngoại thương dần dần tập trung vào tay Nhà nước. Giao thông vận tải được chú trọng. - Văn hoá giáo dục được đẩy mạnh. Hệ thống y tế chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được Nhà nước quan tâm xây dựng . Nếp sống lành mạnh, giữ gìn vệ sinh được vận động thực hiện ở khắp mọi nơi. 2. Từ năm 1958 đến năm 1960, miền Bắc thực hiện cải cách quan hệ sản xuất, bước đầu phát triển kinh tế - văn hoá. Miền Bắc lấy cải tạp xã hội chủ nghĩa làm trọng tâm: cải tạo đối với công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ, công thương nghiệp tư bản tư doanh, trong đó khâu chính là hợp tác hoá nông nghiệp. Kết quả cải tạo là đã xoá bỏ cơ bản chế độ người bóc lột người, có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển, nhất là trong điều kiện chiến tranh, hợp tác xã đã bảo đời sống vật chất, tinh thần cho người ra đi chiến đấu, phục vụ chiến đấu. 3. Từ năm 1961 đến năm 1965, miền Bắc bước vào thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất, miền Bắc chuyển sang lấy xây dựng chủ nghĩa xã hội làm trọng tâm. Nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch 5 năm là ra sức phát triển công nghiệp và nông nghiệp, tiêp tục công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, củng cố và tăng cường thành phần kinh tế quốc danh, cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân lao động, củng cố quốc phòng, tăng cường trật tự và an ninh xã hội.
- 8 Công nghiệp được ưu tiên xây dựng, giá trị sản lượng công nghiệp nặng năm 1965 tăng 3 lần so với 1960, công nghiệp quốc doanh chiếm tỷ trọng 93% tổng giá trị sản lượng công nghiệp miền Bắc. Nông nghiệp: đại bộ phận nông dân tham gia hợp tác xã nông nghiệp. Nông dân bước đầu thực áp dụng khoa học - kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Hệ thống tuỷ nông phát triển, trong đó có công trình Bắc - Hưng - Hải. Nhiều hợp tác xã và vượt năng suất 5 tấn thóc trên 1 hécta gieo trồng. Thương nghiệp được ưu tiên phát triển, góp phần phát triển kinh tếù, củng cố quan hệ sản xuất mới, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Giao thông đường bộ, đường sắt, đường liên tỉnh, liên huyện, đường sông, đường hàng không được củng cố. Việc đi lại trong nước và giao thông quốc tế thuận lợi hơn trước. Giáo dục từ phổ thông đến đại học phát triển nhanh. Y tế được đầu tư phát triển, xây dựng khoảng 6.000 cơ sở. - Chi viện cho miền Nam cả nhân lực và vật lực để chiến đấu và xây dựng vùng giải phóng. Trong 5 năm, một khối lượng vũ khí, đạn dượt,...được chuyển vào chiến trường. Ngày càng có nhiều đơn vị vũ trang, cán bộ quân sự và cán bộ các ngành được đưa vào miền Nam tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu và xây dựng vùng giải phóng. Ú Những thành tựu đạt được trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm (1961 – 1965) và nói chung trong 10 năm (1954 - 1964) đã làm thay đổi bộ mặt xã hội miền Bắc. Tại Hội nghị Chính trị đặc biệt (3/1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh nói : “Trong 10 năm qua, miền Bắc nước ta đã tiến hành những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới.” Ngày 7/2/1965, Mỹ gây chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, miền Bắc chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế cho phù hợp với điều kiện chiến tranh.



