Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 9 - Chuyên đề: Cách mạng Khoa học - Kỹ thuật và xu thế toàn cầu hóa

pdf 12 trang Ngọc Diệp 12/03/2026 50
Bạn đang xem tài liệu "Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 9 - Chuyên đề: Cách mạng Khoa học - Kỹ thuật và xu thế toàn cầu hóa", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfchuyen_de_boi_duong_hsg_mon_lich_su_lop_9_chuyen_de_cach_man.pdf

Nội dung text: Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 9 - Chuyên đề: Cách mạng Khoa học - Kỹ thuật và xu thế toàn cầu hóa

  1. Chuyên đề: CÁCH MẠNG KHOA HỌC – KỸ THUẬT VÀ XU THẾ TOÀN CẦU HÓA Câu 1. Trình bày nguồn Gốc, đặc điểm, những thành tựu chính và tác động của cuộc Cách mạng khoa học – kĩ thuật. Trả lời a. Nguồn gốc, đặc điểm * Nguồn gốc: - Do đòi hỏi của cuộc sống và của sản xuất, nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người. - Diễn ra trong bối cảnh đặc biệt: sự bùng nổ dân số, sự cạn kiệt của tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. => Việc tạo ra những công cụ sản xuất mới, những nguồn năng lượng mới, những loại vật liệu mới được đặt ra một cách bức thiết. - Những thành tựu về khoa học, kĩ thuật cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đã tạo tiến để và thúc đẩy sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật lần thứ hai của nhân loại. * Đặc điểm: - Đặc điểm lớn nhất của Cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại là Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Mọi phát minh kỹ thuật đều bắt nguồn từ nghiên cứu khoa học. Khoa học gắn liền với kỹ thuật, khoa học đi trước mở đường cho kỹ thuật. Kỹ thuật lại đi trước mở đường cho sản xuất. Như vậy, khoa học đã tham gia trực tiếp vào sản xuất, khoa học trở thành nguồn gốc chính của những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ. - Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại diễn ra trên quy mô rộng lớn, trong mọi ngành, mọi lĩnh vực, phát triển với tốc độ nhanh và đạt được những thành tựu kì diệu chưa từng thấy, thời gian đi từ phát minh đến ứng dụng ngày càng được rút ngắn. - Từ nửa sau thập niên 70 của thế kỉ XX, cuộc cách mạng công nghệ trở thành cốt lõ của cách mạng khoa học – kĩ thuật. b. Những thành tựu tiêu biểu - Đạt được những thành tựu kì diệu trên mọi lãnh vực. * Lĩnh vực khoa học cơ bản: có những bước tiến nhảy vọt chưa từng có trong Toán học, Vật lí, Hóa học, Sinh học: - Tháng 3/1997, tạo ra cừu Đôli bằng phương pháp sinh sản vô tính. - Tháng 6/2000 các nhà khoa học đã công bố “Bản đồ gen người” và đến tháng 4/2003 đã giải mã hoàn chỉnh được bản đồ gien người. => Dựa vào những phát minh lớn của các ngành khoa học cơ bản, con người đã ứng dụng vào kĩ thuật và sản xuất phục vụ cuộc sống của mình. * Lĩnh vực công nghệ: Đã xuất hiện nhiều phát minh quan trọng, đạt được nhiều thành tựu to lớn: - Tìm ra nguồn năng lượng mới: năng lượng mặt trời, năng lượng nguyên tử, - Chế tạo ra những vật liệu mới như chất Pôlime, các loại vật liệu siêu sạch, siêu cứng, - Sản xuất ra những công cụ mới như: máy tính điện tử, máy tự động, hệ thống máy tự động, người máy, - Công nghệ sinh học có bước phát triển phi thường trong công nghệ di truyền, công nghệ tế bào, công nghê vi sinh, công nghệ enzim và dẫn đến cuộc “cách mạng xanh” trong nông nghiệp. - “Cách mạng xanh” trong nông nghiệp với những giống lúa mới có năng suất cao. - Phát minh ra những phương tiện thông tin liên lạc và giao thông vận tải siêu nhanh, hiện đại như: sợi thủy tinh cáp quang, máy bay siêu âm, tàu siêu tốc, - Chinh phục vũ trụ: phóng vệ tinh nhân tạo của Trái đất, đưa con người bay vòng quanh Trái đất, đưa con người lên Mặt trăng. c. Tác động * Tích cực: - Tăng năng suất lao động.
  2. - Nâng cao không ngừng mức sống, chất lượng cuộc sống của con người; đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của con người. - Đưa ra những đòi hỏi phải thay đổi về cơ cấu dân cư, chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng giáo dục. - Nền kinh tế - văn hóa - giáo dục thế giới có sự giao lưu quốc tế hóa ngày càng cao. Từ những năm 80 của thế kỉ XX một thị trường thế giới với xu thế toàn cầu hóa được hình thành. * Hạn chế: Gây những hậu quả mà con người chưa khắc phục được. - Tai nạn lao động, tai nạn giao thông. - Ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. - Dịch bệnh với nhiều căn bệnh nguy hiểm có sức lan tỏa nhanh. - Nhất là việc sản xuất các loại vũ khí hủy diệt và giết người hàng loạt. => Qua đó đặt ra vấn đề khai thác hợp lí và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, hướng tới mục đích hoà bình nhân đạo trong việc sử dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật để phục vụ cho con người và sự tiến bộ của xã hội loài người. Câu 2. Trình bày nguồn Gốc, đặc điểm và tác động của cuộc Cách mạng Khoa học - Công nghệ từ những năm 40 của thế kỉ XX đến nay. Việt Nam cần phải làm gì trước sự tác động của cuộc Cách mạng Khoa học – Công nghệ? Trả lời a. Nguồn gốc, đặc điểm * Nguồn gốc: - Do đòi hỏi của cuộc sống và của sản xuất, nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người. - Diễn ra trong bối cảnh đặc biệt: sự bùng nổ dân số, sự cạn kiệt của tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. => Việc tạo ra những công cụ sản xuất mới, những nguồn năng lượng mới, những loại vật liệu mới được đặt ra một cách bức thiết. - Những thành tựu về khoa học, kĩ thuật cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đã tạo tiến để và thúc đẩy sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật lần thứ hai của nhân loại. * Đặc điểm: - Đặc điểm lớn nhất của Cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại là Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Mọi phát minh kỹ thuật đều bắt nguồn từ nghiên cứu khoa học. Khoa học gắn liền với kỹ thuật, khoa học đi trước mở đường cho kỹ thuật. Kỹ thuật lại đi trước mở đường cho sản xuất. Như vậy, khoa học đã tham gia trực tiếp vào sản xuất, khoa học trở thành nguồn gốc chính của những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ. - Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại diễn ra trên quy mô rộng lớn, trong mọi ngành, mọi lĩnh vực, phát triển với tốc độ nhanh và đạt được những thành tựu kì diệu chưa từng thấy, thời gian đi từ phát minh đến ứng dụng ngày càng được rút ngắn. - Từ nửa sau thập niên 70 của thế kỉ XX, cuộc cách mạng công nghệ trở thành cốt lõi của cách mạng khoa học – kĩ thuật. b. Tác động * Tích cực: - Tăng năng suất lao động. - Nâng cao không ngừng mức sống, chất lượng cuộc sống của con người; đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của con người. - Đưa ra những đòi hỏi phải thay đổi về cơ cấu dân cư, chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng giáo dục. - Nền kinh tế - văn hóa - giáo dục thế giới có sự giao lưu quốc tế hóa ngày càng cao. Từ những năm 80 của thế kỉ XX một thị trường thế giới với xu thế toàn cầu hóa được hình thành. * Hạn chế: Gây những hậu quả mà con người chưa khắc phục được.
  3. - Tai nạn lao động, tai nạn giao thông. - Ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. - Dịch bệnh với nhiều căn bệnh nguy hiểm có sức lan tỏa nhanh. - Nhất là việc sản xuất các loại vũ khí hủy diệt và giết người hàng loạt. => Qua đó đặt ra vấn đề khai thác hợp lí và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, hướng tới mục đích hoà bình nhân đạo trong việc sử dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật để phục vụ cho con người và sự tiến bộ của xã hội loài người. c. Đối với Việt Nam - Cần ứng dụng những thành tựu tiến tiến nhất của khoa học - kỹ thuật vào trong sản xuất nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Đồng thời đi tắt đón đầu trong xây dựng và phát triển đất nước. - Khai thác hợp lí và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, hướng tới mục đích hoà bình nhân đạo trong việc sử dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật để phục vụ cho con người và sự tiến bộ của xã hội loài người. Câu 3. Trình bày nguồn Gốc và đặc điểm của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ (nửa sau thế kỉ XX). Vì sao cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật lần thứ hai lại khởi đầu từ nước Mĩ? Trả lời a. Nguồn gốc và đặc điểm * Nguồn gốc - Do những đòi hỏi của cuộc sống, của sản xuất nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của cuộc sống con người, nhất là trong tình hình bùng nổ về dân số và sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên. Việc tạo ra những công cụ sản xuất mới, những nguồn năng lượng mới và những vật liệu mới được đặt ra một cách bức thiết. - Để phục vụ cho chiến tranh hiện đại, các bên tham chiến đều phải nghĩ tới việc giải quyết tính cơ động của binh sĩ, các phương tiện thông tin, liên lạc và vũ khí hiện đại...; phải đi sâu vào nghiên cứu khoa học, kĩ thuật và cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại được mở đầu bằng những phát minh như ra đa, hoả tiên, bom nguyên tử... vào nửa đầu những năm 40 nhằm phục vụ chiến tranh. - Những thành tựu về khoa học, kĩ thuật cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đã tạo tiến để và thúc đẩy sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật lần thứ hai của nhân loại. * Đặc điểm - Đặc điểm lớn nhất của cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại là khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Mọi phát minh kĩ thuật đều bắt nguồn từ nghiên cứu khoa học. Cách mạng khoa học và cách mạng kỹ thuật không tách rời nhau, mà gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành một cuộc cách mạng khoa học — kĩ thuật. - Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại diễn ra trên quy mô rộng lớn, trong mọi ngành, mọi lĩnh vực, phát triển với tốc độ nhanh và đạt được những thành tựu kì diệu chưa từng thấy. Cuộc cách mạng công nghệ trở thành cốt lõi của cách mạng khoa học - kĩ thuật. b. Giải thích - Mĩ là nước có đội ngũ chuyên gia về khoa học - kĩ thuật động nhất trên thế giới. Tính chung Mĩ chiếm 1/3 số lượng bản quyền sáng chế của toàn thế giới. Mĩ dẫn đầu thế giới về số người được nhận giải Nô-ben. - Các chính sách và biện pháp của các chủ doanh nghiệp Mĩ và nhà nước có vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển khoa học - kĩ thuật. - Mĩ lợi dụng cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai để bán vũ khí thu nhiều lợi nhuận (thu được 114 tỉ USD). Nhờ có nguồn vốn, có đội ngũ chuyên gia giỏi, nên Mĩ có điều kiện phát triển khoa học - kĩ thuật sớm. Câu 4. Nêu những thành tựu của Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật trong nửa sau thế kỉ XX. Vì sao ngày nay, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp? Trả lời a. Thành tựu
  4. - Trong các ngành khoa học cơ bản như Toán học, Vật lí học, Hoá học, Sinh học có nhiều phát minh mới... Đặc biệt là tạo ra được con cừu Đôli bằng phương pháp sinh sản vô tính (tháng 3-1997), lập được “Bản đồ gen người” (tháng 6-2000), giải mã hoàn chỉnh bản đồ gien người (4-2003). - Trong lĩnh vực công nghệ đã xuất hiện những phát minh quan trọng những thành tựu to lớn: + Những công cụ sản xuất mới (máy tính điện tử, máy tự động... ). + Nguồn năng lượng mới (năng lượng mặt trời, năng lượng nguyên tử... ). + Vật liệu mới (chất pôlime, những vật liệu siêu sạch, siêu cứng, siêu bền, siêu dẫn...) + Công nghệ sinh học (công nghệ di truyền, công nghệ tế bào, công nghệ vi sinh, công nghệ emzim, dẫn tới cuộc “cách mạng xanh" trong nông nghiệp). + Trong lĩnh vực thông tin liên lạc và giao thông vận tải (cáp sợi thuỷ tinh quang dẫn, máy bay siêu âm khổng lồ, tàu hoả tốc độ cao). + Chinh phục vũ trụ (vệ tinh nhân tạo, du hành vũ trụ). + Công nghệ thông tin với sự hình thành mạng thông tin toàn cầu (Internet), được ứng dụng rộng rãi trong mọi ngành kinh tế và hoạt động xã hội, đưa nền văn minh nhân loại sang một chương mới "văn minh thông tin". b. Giải thích - Trong cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại, mọi phát minh kỹ thuật đều bắt nguồn từ nghiên cứu khoa học. - Khoa học gắn liền với kỹ thuật, khoa học đi trước mở đường cho kỹ thuật, kỹ thuật mở đường cho sản xuất. Khoa học đã tham gia trực tiếp vào sản xuất và trở thành nguồn gốc chính của những tiến bộ kĩ thuật và công nghệ. Câu 5. Phân tích những hệ quả của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ (nửa cuối thế kỉ XX). Cuộc cách mạng này đã tạo ra thời cơ và thách thức gì cho các dân tộc? Trả lời a. Hệ quả - Cách mạng khoa học- kĩ thuật cho phép con người thực hiện những bước nhảy vọt chưa từng thấy về sản xuất và năng suất lao động, gia tăng khối lượng các sản phẩm, không ngừng nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống đất của con người. - Nền kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hoá cao, đang hình thành một thị trường thế giới với xu thế toàn cầu hóa. - Làm thay đổi lớn về cơ cấu dân cư, chất lượng nguồn nhân lực, những đòi hỏi mới về giáo dục và đào tạo nghề nghiệp. - Tuy nhiên, cuộc cách mạng khoa học công nghệ cũng gây nên những hậu quả tiêu cực chủ yếu do con người tạo ra như: tình trạng ô nhiễm môi trường, các loại tai nạn và dịch bệnh, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên ... , nhất là việc chế tạo các loại vũ khí hiện đại có sức hủy diệt khủng khiếp ... b. Thời cơ và thách thức - Sau cuộc khủng hoảng năng lượng (1973), hầu hết các nước tư bản Anh, Pháp, Mĩ, Nhật Bản.. đều áp dụng những tiến bộ của khoa học kĩ thuật trong sản xuất, nhờ đó đã nhanh chóng thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế và vươn lên đỉnh cao của nền kinh tế. Vì vậy, cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật sẽ mang lại thời cơ cho các dân tộc vươn lên phát triển kinh tế. - Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của con người. - Cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật đã tạo ra cơ hội để các dân tộc tham gia hội nhập quốc tế, qua đó nhằm phát triển và bảo vệ an ninh đất nước. - Tuy nhiên, hội nhập sẽ chịu những thách thức mới như: sự cạnh tranh thiếu công bằng, về năng lực sản xuất, năng lực quản lí, về giữ gìn bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc.... - Vì vậy, các dân tộc cần tận dụng thời cơ để nền kinh tế không bị tụt hậu. Việc khai thác và áp dụng những tiến bộ của khoa học – kĩ thuật vừa là thời cơ và vừa là thách thức của tất cả các dân tộc trên thế giới.
  5. Câu 6. Thời cơ và thách thức của Việt Nam trước tác động của cách mạn khoa học kĩ thuật. Anh/chị có đề xuất gì cho Đảng và Nhà nước trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, nhằm đưa đất nướ trở thành một nước công nghiệp? Trả lời a. Thời cơ và thách thức của Việt Nam trước tác động của các mạng khoa học kĩ thuật * Những thuận lợi cơ bản: - Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật (CMKH-KT) là nhân tố có ý nghĩ quyết định đối với sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của con người. - Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật đã tạo ra cơ hội để các dân tộc tham gia hội nhập quốc tế, qua đó nhằm phát triển và bảo vệ an ninh đất nước. - Có thể kế thừa, tiếp thu, sử dụng những thành tựu to lớn của cuộc CMKH-KT. Đây là lợi thế của những nước đi sau. Nếu như trước đây, chu kỷ sống quốc tế của mỗi sản phẩm có thể từ 15-20 năm thì ngày nay, nó chỉ còn từ 3-5 năm. Với tốc độ đó, các phát minh, sáng chế trở thành tài sản của nhân loại sẽ ngày càng nhiều và nhanh hơn, do vậy, chúng ta sẽ có nhiều điều kiện để ứng dụng, thừa hưởng những thành tựu đó. - Thị trường thế giới ngày nay càng rộng lớn về quy mô, hoàn thiện về cơ chế hoạt động. Nền kinh tế nước ta sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để phát triển bởi khả năng cung và cầu sẽ rộng lớn và nhanh nhạy hơn Điều đó đòi hỏi chúng ta phải có một chiến lược kinh tế sao cho phù hợp với hoàn cảnh trong nước và trên thế giới. - Các thể chế của khu vực và của thế giới ngày càng đầy đủ và hoàn chỉnh giúp cho hoạt động kinh tế của ta có hiệu quả hơn. Đây là cơ hội để chúng ta có thể tham gia vào đời sống kinh tế quốc tế một cách bình đẳng, qua đó thể hiện được khả năng và vai trò của mình. - Có điều kiện để học hỏi, tiếp thu, trao đổi, nâng cao trình độ kinh nghiệm quản lý với thế giới. Đây là điều rất có ý nghĩa bởi như trên đã cho thấy, vai trò của lao động trí tuệ ngày càng tăng. Không tiếp cận được vấn đề này thì không thể nâng cao được hiệu quả kinh tế. - Có thể tiếp thu được nguồn vốn đầu tư của quốc tế, qua đó, mở rộng sản xuất. giải quyết công ăn việc làm, ổn định và cải thiện đời sống xã hội. Nhờ có vốn, chúng ta mới khai thác được các lợi thế của mình, qua đó tham gia vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế. Theo lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế, đây chính là "cú hích" để phá vỡ cái "vòng luẩn quẩn” ở những nước chậm phát triển. * Những khó khăn, thách thức: - Nguy cơ tụt hậu về kinh tế do trình độ xuất phát điểm còn quá thấp. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải tìm ra những lối đi tắt, những bước nhảy vọt thì mới tiến kịp được các nước khác. - Khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ còn hạn chế. - “Luật chơi" của thị trường thế giới ngày nay đang bình đẳng hơn trước, do vậy cạnh tranh sẽ lớn hơn, sức ép đối với nền kinh tế sẽ cao hơn. - Trình độ quản lý còn thấp, tác phong, ý thức của nền sản xuất nhỏ sẽ làm giảm hiệu quả của các hoạt động kinh tế. - Các hiện tượng tiêu cực trong quản lý, trong xã hội làm giảm sức hấp dẫn của đầu từ nước ngoài. b. Đề xuất cho Đảng và Nhà nước trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, nhằm đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp - Cách mạng công nghiệp 4.0 là xu hướng hiện thời trong việc tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất. Nó bao gồm các hệ thống không thực - ảo (cyber physical system). Internet vạn vật, điện toán đám mây và điện toán nhận thức (cognitive computing). - Việt Nam cần có chiến lược đón đầu trong lĩnh vực kỹ thuật nhằm công nghiệp hoá và hiện đại hoá chính là phương thức giải quyết khó khăn tránh tụt hậu so với các nước đã phát triển kinh tế. - Có chính sách lựa chọn những công nghệ hiện đại, tiên tiến của các nước cho thích hợp với điều kiện của nước ta. - Cần tìm ra lối đi riêng cho mình, tìm ra chỗ để "lách" vào thị trường thế giới bằng những lợi thế của mình là hết sức quan trọng, nếu không quá trình hòa nhập của chúng ta sẽ rất dễ dẫn đến quá trình bị “hòa tan”. - Để có được một trình độ như mong muốn là cả một quá trình lâu dài do vậy đào tạo, bồi dưỡng trình độ quản lý cho đội ngũ cán bộ, nâng cao tay nghề cho người lao động là yêu cầu hết sức cấp bách hiện nay.
  6. - Cần phải sử dụng các biện pháp giáo dục bằng kinh tế, vì nó có hiệu quả và tác dụng rất cao. - Cải cách, hoàn thiện bộ máy hành chính, hệ thống pháp luật là rất cần thiết. Đặc biệt, cần phải nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Câu 7. Thế nào là xu thế toàn cấu hoá? Hãy làm sáng tỏ nhận định: Toàn cầu hóa là xu thế phát triển khách quan, là một thực tế không thể đảo ngược. Trả lời a. Giải thích - Toàn cầu hoá là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, những ảnh hưởng tác động, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực các quốc gia, dân tộc trên thế giới b. Toàn cầu hóa là xu thế phát triển khách quan, là một thực tế không thể đảo ngược - Do những đòi hỏi của cuộc sống của sản xuất, cuộc Cách mạng khoa học – công nghệ đã diễn ra quy mô lớn trong nửa sau thế kỉ XX. Cuộc Cách khoa học - kĩ thuật đưa đến những thành tựu kì diệu, cho phép con người thực hiện những bước nhảy vọt chưa từng thấy về sản xuất và năng suất lao động, gia tăng khối lượng các sản phẩm; đặc biệt sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện thông tin, giao thông vận tải, làm cho nền kinh tế thế giới và sự giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các nước và khu vực trên thế giới ngày càng mang tính quốc tế hóa cao, mở ra khả năng hợp tác toàn cầu trên mọi lĩnh vực. Từ đó dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của quan hệ thương mại quốc tế; làm cho các nước trên thế giới quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau. - Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, tạo nên sự thay đổi lớn về kinh tế, xã hội, hình thành một thị trường thế giới, làm tăng những mối liên hệ, tính phụ thuộc lẫn nhau. giữa các quốc gia, dân tộc, từ đó dẫn đến: sự phát triển và những tác động to lớn của các công ty xuyên quốc gia; sự sáp nhập và hợp nhất các công ty thành những tập đoàn lớn, nhất là các công ty đa quốc gia nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường trọng và ngoài nước. - Chiến tranh thế giới chấm dứt, các nước có điều kiện hòa bình để phát triển kinh tế; mặt khác, hầu hết các nước thuộc địa và phụ thuộc đã giành được độc lập, làm nảy sinh nhu cầu hội nhập quốc tế của tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế, nước lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo như: Sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế và khu vực (Quỹ tiền tệ quốc tế – IMF, Ngân hàng thế giới – WB, Tổ chức thương mại thế giới – WTO, Liên minh châu Âu – EU, Hiệp ước thương mại tự do Bắc Mĩ NAFA, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN... ). - Hàng loạt vấn đề như sự gia tăng dân số thế giới, tình trạng ô nhiễm môi trường, sự biến đổi khí hậu, sự vơi cạn các nguồn năng lượng và nguyên liệu tự nhiên, kho vũ khí hủy diệt, bệnh tật hiểm nghèo, tai nạn lao động tai nạn giao thông... cũng đòi hỏi sự hợp tác toàn cầu để giải quyết. Câu 8. Nêu biểu hiện của xu thế toàn cầu hoá và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển của thế giới. Trả lời a) Những biểu hiện chủ yếu của xu thế toàn cầu hoá: - Sự phát triển nhanh chóng của quan hệ thương mại quốc tế, các nước trên thế giới quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau. - Sự phát triển và những tác động to lớn của các công ti xuyên quốc gia. Giá trị trao đổi của các công ti này tương đương 3/4 giá trị thương mại toàn cầu. - Sự sáp nhập và hợp nhất các công ti thành những tập đoàn lớn, nhất là các công ti đa quốc gia nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Làn sóng sáp nhập này tăng lên nhanh chóng vào những năm cuối thế kỉ XX. - Sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế và khu vực (Quỹ tiền tệ quốc tế – IMF, Ngân hàng thế giới – WB, Tổ chức thương mại thế giới – WTO, Liên minh châu Âu – EU, Hiệp ước thương mại tự do Bắc Mĩ – NAFA, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN...). b) Ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hoá - Toàn cầu hoá là kết quả của quá trình tăng tiến mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, là xu thế khách quan, là một thực tế không thể đảo ngược.
  7. - Toàn cầu hoá có ảnh hưởng: + Về mặt tích cực, toàn cầu hoá thúc đẩy rất mạnh, rất nhanh sự phát triển và xã hội hoá của lực lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng cao, góp phần làm chuyển biến cơ cấu kinh tế, đòi hỏi tiến hành cải cách sâu rộng để nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế. + Về mặt tiêu cực, toàn cầu hoá đã làm trầm trọng thêm sự bất công xã hội, đào sâu hố ngăn cách giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước. Toàn cầu hoá làm cho mọi mặt hoạt động và đời sống của con người kém an toàn hơn (từ kinh tế, tài chính đến chính trị), hoặc tạo ra nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc và xâm phạm độc lập tự chủ của mỗi quốc gia... Câu 9. Thế nào là xu thế toàn cầu hóa? Những biểu hiện của xu thế toàn cầu hóa và hệ quả của nó. Thời cơ và thách thức của các quốc gia trong xu thế toàn cầu hóa. Trả lời a. Bản chất - Xét về bản chất, toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, những ảnh hưởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới. b. Những biểu hiện của xu thế toàn cầu hóa - Sự phát triển nhanh chóng của quan hệ thương mại quốc tế (đến cuối thập kỉ 90 của thế kỉ XX, giá trị trao đổi thương mại trên phạm vị thế giới tăng 12 lần). - Sự phát triển và tác động to lớn của các công ty xuyên quốc gia (có khảng 500 công ty xuyên quốc gia lớn kiểm soát tới 25% tổng sản phẩm thế giới và giá trị trao đổi của những công ty này tương đương 3/4 giá trị thương mại toàn cầu). - Sự sáp nhập và hợp nhất các công ty thành những tập đoàn lớn, nhất là các công ty khoa học – kỹ thuật, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Làn sóng sáp nhập này càng tăng lên nhanh chóng vào những năm cuối thế kỉ XX. - Sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế và khu vực (IMF, WB, WTO, EU, ASEAN, APEC,...). Các tổ chức này có vai trò ngày càng quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế chung của thế giới và khu vực... c. Hệ quả: - Toàn cầu hóa là kết quả của quá trình tăng tiến mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, là xu thế khách quan, là một thực tế không thể đảo ngược và có tính hai mặt: * Tích cực: Toàn cầu hóa thúc đẩy rất mạnh và rất nhanh sự phát triển và xã hội hóa của lực lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng cao, góp phần làm chuyển biến cơ cấu kinh tế, đòi hỏi các quốc gia phải cải cách sâu rộng để nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế. * Tiêu cực: Toàn cầu hóa đã góp phần gia tăng sự cạnh tranh quyết liệt giữa các nước, làm trầm trọng thêm tình trạng bất công trong xã hội, đào sâu sự ngăn cách giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước. Toàn cầu hóa làm cho mọi hoạt động và đời sống của của người kém án toàn hơn (từ kinh tế, tài chính đến chính trị), hoặc tạo ra nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc và xâm phạm độc lập tự chủ của mỗi quốc gia, . d. Thời cơ và thách thức - Toàn cầu hóa vừa là thời cơ lớn vừa đặt ra thách thức gay gắt đối với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. - Thời cơ: Sau Chiến tranh lạnh, xu thế chung của thế giới là hòa bình, ổn định, hợp tác phát triển; Các quốc gia đều ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển, lấy kinh tế làm trọng tâm, tăng cường hợp tác trong các liên minh kinh tế khu vực và quốc tế; Các nước đang phát triển có thể khai thác nguồn vốn đầu tư, học tập kĩ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lí từ bên ngoài, nhất là các tiến bộ khoa học – kĩ thuật để có thể đi tắt đón đầu, rút ngắn thời gian xây dựng và phát triển đất nước. - Thách thức: Quốc gia nào không thích ứng với xu thế, chậm nắm bắt thời cơ sẽ bị tụt hậu, cần phải có con đường, cách thức hợp lí trong hội nhập quốc tế. Các quốc gia có thể vấp phải sự cạnh
  8. tranh quyết liệt trên thị trường thế giới và các quan hệ kinh tế quốc tế vẫn còn nhiều bất bình đẳng, gây thiệt hại đối với các nước đang phát triển; Phần lớn các nước đang phát triển đều có điểm xuất phát thấp về kinh tế, hạn chế về trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực, vấn đề kinh nghiệm quản lí nguồn vốn vay, nên gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra các quốc gia đang phát triển còn phải đối mặt với nguy cơ về ô nhiễm môi trường, nguy cơ bị mất bản sắc văn hóa dân tộc, Câu 10. Từ đầu những năm 80 của thế kỉ XX, trên thế giới đã diễn ra xu thế toàn cầu hóa. Hãy làm sáng tỏ nhận định: "Toàn cầu hóa là xu thế phát triển khách quan, là một thực tế không thể đảo ngược. Trả lời - Từ đầu những năm 80 của thế kỉ XX, nhất là từ sau Chiến tranh lạnh trên thế giới đã diễn ra xu thế toàn cầu hóa. Xét về bản chất, toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, những ảnh hưởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới. - Toàn cầu hóa là xu thế phát triển khách quan, là một thực tế không thể đảo ngược: + Cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật đưa đến những thành tựu kì diệu. cho phép con người thực hiện những bước nhảy vọt chưa từng thấy về sản xuất và năng xuất lao động, gia tăng khối lượng các sản phẩm, đặc biệt sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện thông tin, giao thông vận tải, làm cho nền kinh tế thế giới và sự giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các nước và khu vực trên thế giới ngày càng mang tính quốc tế hóa cao, mở ra khả năng hợp tác toàn cầu trên mọi lĩnh vực. Từ đó dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của quan hệ thương mại quốc tế; làm cho các nước trên thế giới quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau. + Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ tạo nên sự thay đổi lớn về kinh tế, xã hội, hình thành một thị trường thế giới, làm tăng những mối liên hệ, tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc dẫn đến sự phát triển các công ti xuyên quốc gia; sự sáp nhập và hợp nhất các công ti thành những tập đoàn lớn, nhất là các công ti đa quốc gia nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. + Chiến tranh thế giới chấm dứt, các nước có điều kiện hòa bình để phát triển kinh tế; mặt khác, hầu hết các nước thuộc địa và phụ thuộc đã giành được độc lập, làm nảy sinh nhu cầu hội nhập quốc tế của tất cả các quốc gia như: Sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế và khu vực (Quỹ tiền tệ Quốc tế – IMF, Ngân hàng Thế giới WB, Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO, Liên minh châu Âu – EU, Hiệp ước thương mại tự do Bắc Mĩ – NAFA, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN...). + Hàng loạt vấn đề như sự gia tăng dân số thế giới, tình trạng ô nhiễm môi trường, sự biến đổi khí hậu, sự với cạn các nguồn năng lượng và nguyên liệu tự nhiên, kho vũ khí hủy diệt, bệnh tật hiểm nghèo, tai nạn lan động, tai nạn giao thông... cũng đòi hỏi sự hợp tác toàn cầu để giải quyết Câu 11. Vì sao nói hội nhập quốc là xu hướng tất yếu trong thời đại ngày nay? Thời cơ và thách thức của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế? Anh/chị có giải pháp gì góp ý cho Đảng, Nhà nước để vượt qua thách thức trong bối cảnh hội nhập quốc tế? Trả lời a. Hội nhập Quốc tế là xu hướng tất yếu trong thời đại ngày nay, vì: - Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, do bản chất xã hội của lạo động và quan hệ giữa con người. Các cá nhân muốn tồn tại và phát triển phải có quan hệ và liên kết với nhau tạo thành cộng đồng. Nhiều cộng đồng liên kết với nhau tạo thành xã hội và các quốc gia - dân tộc. Các quốc gia lại liên kết với nhau tạo thành những thực thể quốc tế lớn hơn và hình thành hệ thống thế giới. - Cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật đưa đến những thành tựu kì diệu cho phép con người thực hiện những bước nhảy vọt chưa từng thấy về sản xuất và năng xuất lao động, gia tăng khối lượng các sản phẩm; đặc biệt sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện thông tin, giao thông vận tải, làm cho nền kinh tế thế giới và sự giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các nước và khu vực trên thế giới ngày càng mang tính quốc tế hóa cao, mở ra khả năng hợp tác toàn cầu trên mọi lĩnh vực.
  9. - Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi phải mở rộng các thị trường quốc gia, hình thành thị trường khu vực và quốc tế thống nhất. Đây là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung. - Sự hội nhập quốc tế được quyết định bởi rất nhiều lợi ích mà hội nhập quốc tế tạo ra cho các nước. Dưới đây, xin nêu những lợi ích chủ yếu của hội nhập quốc tế mà các nước có thể tận dụng được: + Thứ nhất, quá trình hội nhập giúp mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại và các quan hệ kinh tế quốc tế khác, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. + Thứ hai, hội nhập cũng tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; đồng thời, làm tăng khả năng thu hút đầu tư quốc tế vào nền kinh tế trong nước. + Thứ ba, hội nhập giúp nâng cao trình độ của nguồn nhân lực và nền khoa học công nghệ quốc gia; tiếp thu công nghệ mới thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến. + Thứ tư, hội nhập làm tăng cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận thị trường quốc tế, nguồn tín dụng và các đối tác quốc tế. + Thứ năm, hội nhập tạo cơ hội để các cá nhân được thụ hưởng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đa dạng về chủng loại, mẫu mã và chất lượng với giá cạnh tranh; được tiếp cận và giao lưu nhiều hơn với thế giới bên ngoài, từ đó có cơ hội phát triển và tìm kiếm việc làm cả ở trong lẫn ngoài nước. + Thứ sáu, hội nhập giúp bổ sung những giá trị và tiến bộ của văn hóa, văn minh của thế giới, làm giàu văn hóa dân tộc và thúc đẩy tiến bộ xã hội. + Thứ bảy, hội nhập tạo động lực và điều kiện để cải cách toàn diện hướng tới xây dựng một xã hội mở, dân chủ hơn, và một nhà nước pháp quyền. + Thứ tám, hội nhập tạo điều kiện để mỗi nước tìm cho mình một vị trí thích hợp trong trật tự quốc tế, giúp tăng cường uy tín và vị thế quốc tế, cũng như khả năng duy trì an ninh, hòa bình và ổn định để phát triển. b. Thời cơ và thách thức của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, là: * Thời cơ: - Những thành tựu to lớn trên lĩnh vực kinh tế, là kết quả của cả một quá trình thực hiện nhất quán đường lối, chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa với chủ trương chủ động và tích cực hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới. Những thành tựu đó đã tạo thêm niềm tin để nước ta càng vững bước trên đường hội nhập, tận dụng tốt nhất những cơ hội mới đang mở ra. - Hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá mở ra khả năng cho nước ta tận dụng mọi nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển. - Hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta có cơ hội thuận lợi đẩy nhanh quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động và rút ngắn thời gian vật chất của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá. - Việt Việt Nam gia nhập WTO tạo cơ hội tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên, nước ta có điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu, từng bước mở rộng kinh doanh dịch vụ ra ngoài biên giới quốc gia. - Hội nhập kinh tế quốc tế là tiền đề rất quan trọng để phát huy tiềm năng của mọi thành phần kinh tế trong nước, là cơ hội để tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, bảo đảm tốc độ tăng trưởng bền vững hơn và rút ngắn khoảng cách phát triển. - Hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của nước ta đồng bộ hơn, có hiệu quả hơn tạo ra động lực lớn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền ngày càng vững mạnh. - Hội nhập quốc tế, trong đó có hội nhập kinh tế quốc tế, cũng thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động giao lưu văn hoá và tri thức quốc tế, tăng cường sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau và tình hữu nghị giữa các dân tộc. * Thách thức: - Trên lĩnh vực kinh tế: + Thách thức lớn nhất và dễ nhận thấy nhất xuất phát từ chỗ nước ta là một nước đang phát triển có trình độ kinh tế thấp, quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém và bất cập, doanh nghiệp và đội ngũ
  10. doanh nhân còn nhỏ bé... Cho nên, nước ta sẽ gặp khó khăn lớn trong cạnh tranh cả ở trong nước cả trên trường quốc tế, cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều đối thủ hơn, trên bình diện sâu hơn, rộng hơn. + Do thực hiện những cam kết của một thành viên WTO, nhất là việc phải cắt giảm mạnh thuế nhập khẩu... bởi vậy nguy cơ rủi ro kinh tế, tinh trạng phá sản doanh nghiệp luôn hiện hữu và trở nên rất tiềm tàng. + Ngoài ra, về cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, nước ta còn nhiều khó khăn về nhãn hiệu thương mại, bản quyền tác giả, bảo vệ thiết kế công nghiệp và người dân chưa có thói quen tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ. + Trong quá trình hội nhập quốc tế, nước ta phải chịu sự ràng buộc của các quy tác kinh tế, thương mại, tài chính – tiền tệ, đầu tư... chủ yếu do các nước phát triển áp đặt; phải chịu sức ép cạnh tranh bất bình đẳng và sự điều tiết vĩ mô bất hợp lý của các nước phát triển hàng đầu. Trên thực tế đây là hoạt động lũng đoạn của tư bản độc quyền quốc tế. - Trên lĩnh vực xã hội và an ninh quốc gia: + Quá trình hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá đặt ra một thách thức nạn giải đối với nước ta trong việc thực hiện chủ trương tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Một bộ phận dân cư được hưởng lợi ích ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá; nguy cơ thất nghiệp và sự phân hoá giàu nghèo sẽ tăng lên mạnh mẽ, làm cho sự phân tầng, phân hoá xã hội cũng trở thành yếu tố tiêu cực đối với bản thân sự phát triển của đất nước. + Quá trình hội nhập quốc tế đặt ra những vấn đề mới về bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của dân tộc. - Trên lĩnh vực văn hoá + Quá trình hội nhập quốc tế đặt nước ta trước nguy cơ bị các giá trị ngoại lại (trong đó có lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền), nhất là các giá trị văn hoá phương Tây xâm nhập ồ ạt, làm tổn hại bản sắc văn hóa dân tộc. - Trên lĩnh vực chính trị: + Tiến trình hội nhập quốc tế ở nước ta cũng đang đối diện trước thách thức của một số nguy cơ đe doạ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, sự lựa chọn định hướng chính trị, vai trò của nhà nước... c. Những giải pháp góp ý cho Đảng, Nhà nước để vượt qua thức trong bối cảnh hội nhập quốc tế thách - Chủ động mở rộng quan hệ hữu nghị hợp tác với nhân dân các nước. coi trọng phát triển quan hệ có chiều sâu với nhân dân các nước láng giềng và các nước có vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của ta; tranh thủ tình cảm và sự ủng hộ của họ đối với Việt Nam, phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của từng đối tác. - Huy động sự tham gia của các tổ chức và các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động đấu tranh chống lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, chống “diễn biến hoà bình" của các thế lực chống đối, đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất nước. - Mở rộng quan hệ hợp tác về kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học - công nghệ, bảo vệ môi trường. - Chủ động và nâng cao chất lượng công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại, làm cho bạn bè quốc tế và nhân dân thế giới ngày càng hiểu đúng và đầy đủ hơn về đất nước và con người Việt Nam. - Phát huy vai trò của Việt Nam tại các diễn dân quốc tế, các phong trào nhân dân thế giới, nhằm góp phân tích cực vào việc giải quyết các vấn đề toàn cầu vào cuộc đấu tranh chung vì hoà bình, độc lập dân tộc, độ chủ, tiến bộ xã hội. - Làm tốt công tác vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước nghi hướng về Tổ quốc, tích cực tham gia đóng góp xây dựng và bảo vệ Tổ quố phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa nước ta với các nước. - Kiện toàn củng cố và phát triển bộ máy, đội ngũ cán bộ, lực lượn làm công tác đối ngoại ở các tổ chức, cơ quan đảng, nhà nước, các đoàn thể nhân dân các cấp.
  11. Chuyên đề: TỔNG KẾT LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 2000 I. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 2000 1. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Trật tự thế giới hai cực Ianta được xác lập với đặc trưng nổi bật là thế giới bị chia làm hai phe – phe tư bản chủ nghĩa và phe xã hội chủ nghĩa – do hai siêu cường Mĩ và Liên Xô đứng đầu mỗi phe. Đặc trưng này hầu như bao trùm thế giới, là nhân tố hàng đầu chi phối nền chính trị thế giới và các quan hệ quốc tế trong phần lớn nửa sau thế kỉ XX. 2. Với thắng lợi của các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Đông Âu và ở châu Á (Việt Nam, Trung Quốc), chủ nghĩa xã hội từ phạm vi một nước đã trở thành một hệ thống thế giới. 3. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, một cao trào giải phóng dân tộc đã dấy lên mạnh mẽ ở các nước Á, Phi và Mĩ Latinh, làm cho hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân và chế độ phân biệt chủng tộc (Apácthai) bị sụp đổ hoàn toàn, dẫn đến sự ra đời của hơn 100 quốc gia độc lập, làm thay đổi bản đồ chính trị thế giới và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị và kinh tế thế giới. 4. Nửa sau thế kỉ XX, hệ thống chủ nghĩa tư bản có nhiều biến đổi lớn: Mĩ vươn lên đứng đầu về kinh tế và ra sức thực hiện tham vọng bá chủ thế giới; Nhật Bản và Tây Âu sau một thời gian khắc phục hậu quả chiến tranh thế giới cũng nhanh chóng vươn lên thành các trung tâm kinh tế - tài chính lớn của thế giới; các nước ngày càng có xu thế liên kết khu vực. 5. Trong nửa sau thế kỉ XX, các quan hệ quốc tế được mở rộng và đa dạng hơn bao giờ hết. Nét nổi bật của quan hệ quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai là sự đối đầu gay gắt giữa hai siêu cường, hai phe trong tình trạng Chiến tranh lạnh kéo dài hơn 4 thập kỉ. Cuối cùng, Chiến tranh lạnh đã chấm dứt, thế giới dấn chuyển sang xu thế hòa dịu, đối thoại và hợp tác phát triển. 6. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật (từ đầu những năm 70 được gọi là cách mạng khoa học – công nghệ) đã diễn ra với quy mô, nội dung và nhịp điệu chưa từng thấy, đạt được những thành tựu kì diệu cùng những tác động vô cùng to lớn, mang lại cho các quốc gia những thời cơ thuận lợi đồng thời cũng đặt ra những thách thức cần phải giải quyết. II. XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA THẾ GIỚI HIỆN NAY 1- Hình thành xu hướng đa cực, nhiều trung tâm: sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, thế giới đang hình hành một trật tự thế giới mới theo xu thế đa cực nhiều trung tâm. Bên cạnh những quốc gia, trung tâm kinh tế lớn của thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu, Liên bang Nga, Trung Quốc thì lại xuất hiện thêm những cường quốc, trung tâm kinh tế mới như Ấn Độ, các nước công nghiệp mới NICs.... Trong xu hướng thiết lập một thế giới đa cực thì mỗi một quốc gia, một trung tâm kinh tế đều có một vai trò, vị thế nhất định tác động đến các vấn đề của thế giới. 2- Lấy phát triển kinh tế làm trung tâm: sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc tất cả các quốc gia đều điều chỉnh chiến lược phát triển, tập trung vào phát triển kinh tế để xây dựng sức mạnh thật sự của mỗi quốc gia. Trong quan hệ thế giới ngày nay, kinh tế đã trở thành nội dung căn bản trong quan hệ quốc tế. Xây dựng sức mạnh tổng hợp của quốc gia thay thế cho chạy đua vũ trang. Ngày nay, sức mạnh của mỗi quốc gia là dựa trên: một nến sản xuất phồn vinh, một nền tài chính vững chức, một nền công nghệ có trình độ cao và một lực lượng quốc phòng hùng mạnh. 3- Mĩ muốn thiết lật trật tự thế giới “đơn cực”: sự sụp đổ của Liên Xô đã tạo ra cho Mĩ một lợi thế tạm thời, giới cầm quyền Mĩ đã căn cứ vào sức mạnh, tiềm lực kinh tế và quốc phòng của mình ra sức thiết lập trật tự thế giới “một cực” để Mĩ làm bá chủ thế giới. Tuy nhiên, tham vọng này của Mỹ khó mà có thể làm được vì Mĩ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt của các cường quốc và trung tâm thế giới khác. 4- Xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại: sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, các nước lớn điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình từ từ đối đầu căng thẳng sang đối thoại, thỏa hiệp, tránh xung đột trực tiếp nhằm tạo nên một vị trí ưu thế trong trật tự thế giới mới. Mối quan hệ gữa các nước
  12. lớn ngày nay mang tính chất hai mặt, nổi bật là: mâu thuẫn và hài hòa, cạnh tranh và hợp tác, tiếp xúc và kiềm chế 5- Tình hình thế giới còn nhiều bất ổn: tuy hòa bình và ổn định là xu thế chủ đạo của tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh, nhưng ở nhiều khu vực vẫn diễn ra nội chiến, xung đột. Nguy cơ này ngày càng trở nên trầm trọng khi ở nhiều nơi lại bộc lộ chủ nghĩa li khai, chủ nghĩa khủng bố. Những mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ và nguy cơ khủng bố thường có những căn nguyên lịch sử sâu xa nên việc giải quyết không dễ dàng và nhanh chóng. 6- Xuất hiện xu thế toàn cầu hóa: từ thập kỉ 90 sau Chiến tranh lạnh thế giới đã và đang chứng kiến xu thế toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Toàn cầu hóa là xu thế phát triển khách quan. Đối với các nước đang phát triển đây vừa là thời cơ thuận lợi, vừa là thách thức gay gắt trong sự vươn lên của đất nước.