Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 9 - Chuyên đề: Quan hệ quốc tế

pdf 9 trang Ngọc Diệp 12/03/2026 170
Bạn đang xem tài liệu "Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 9 - Chuyên đề: Quan hệ quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfchuyen_de_boi_duong_hsg_mon_lich_su_lop_9_chuyen_de_quan_he.pdf

Nội dung text: Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 9 - Chuyên đề: Quan hệ quốc tế

  1. CHUYÊN ĐỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ Câu 1: Vì sao các nước Đông minh (Liên Xô, Mỹ, Anh) lại tổ chức Hội nghị quốc tế I-an-ta (2/1945)? Nêu và nhận xét những quyết định quan trọng của Hội nghị này. a) Lý do - Đầu năm 1945, khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc, có 3 vấn đề quan trọng đặt ra với các nước Đông minh Là: Nhanh chóng đánh bại hoàn toàn chủ nghĩa phát xít; tổ chức lại trật tự thế giới sau chiến tranh; phân chia thành quả giữa các nước thắng trận. - Từ ngày 4 - 11/2/1945, hội nghị quốc tế được triệu tập tại I-an-ta (Liên Xô) với sự tham dự của nguyên thủ 3 cường quốc là Liên Xô, Mỹ, Anh nhằm giải quyết các vấn đề trên. b) Những quyết định quan trọng của Hội nghị - Đẩy mạnh việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật. - Thành lập tổ chức Liên hợp quốc nhằm duy trì hoà bình và an ninh thế giới. - Thoả thuận về việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp quân đội phát xít, phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á: + Ở châu Âu: quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Đông nước Đức, Đông BecLin và các nước Đông Âu; quân đội Mĩ, Anh và Pháp chiếm đóng miền Tây nước Đức, Tây BecLin và các nước Tây Âu. Vùng Đông Âu thuộc ảnh hưởng của Liên Xô; vùng Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mĩ. Hai nước Áo và Phần Lan trở thành những nước trung lập. + Ở châu Á: Hội nghị chấp nhận những điều kiện của Liên Xô để tham chiến chống Nhật Bản: 1- Giữ nguyên trạng Mông Cổ; 2- Trả Lại cho Liên Xô miền Nam đảo XakhaLin và các dảo xung quanh; quốc tế hoá thương cảng Đại Liên (Trung Quốc) và khỏi phục việc Liên Xô thuê cảng Lữ Thuận; Liên Xô cùng Trung Quốc khai thác đường sắt Nam Mãn Châu - Đại Liên; Liên Xô chiếm 4 dảo thuộc quần đảo Curin. + Quân đội Mĩ chiếm dóng Nhật Bản; ở bán đảo Triều Tiên, quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Bắc và quân đội Mĩ chiếm đóng miền Nam, Lấy vĩ tuyến 38 Làm ranh giới; Trung Quốc cần trở thành một quốc gia thống nhất; quân đội nước ngoài rút khỏi Trung Quốc. Chính phủ Trung Hoa Dân quốc cần cải tổ với sự tham gia của Đảng Cộng sản và các đảng phái dân chủ, trả Lại cho Trung Quốc vùng Mãn Châu, đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ; các vùng còn Lại của châu Á văn thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây. c) Nhận xét: - Tuy Là thỏa thuận của ba cường quốc nhưng thực chất là sự phân chia phạm vi ảnh hưởng giữa Mĩ và Liên Xô. - Thực chất của Hội nghị Ianta Là sự phân chia khu vực đóng quân và khu vực ảnh hưởng giữa các nước thắng trận, có liên quan tới hoà bình, an ninh và trật tự thế giới về sau. - Toàn bộ những quyết định của Hội nghị Ianta cùng những thỏa thuận sau đó của ba cường quốc Liên Xô, Mĩ và Anh đã trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới từng bước được thiết Lập trong những năm 1945-1947, thường được gọi là trật tự hai cực Ianta. Theo đó, thế giới được chia thành hai phe do hai siêu cường đứng đầu mỗi phe. - Từ sự phân chia này đã dẫn tới tình trạng đối đầu Đông - Tây và cuộc chiến tranh Lạnh trong nhiều thập kỉ kế tiếp. Câu 2: Nêu những thỏa thuận của các nước Mĩ, Anh và Liên Xô tại hội nghị Ianta (2/1945) về việc phân chia phạm vi đóng quân ở châu Á. Tác động của sự phân chia đó đến quan hệ quốc tế ở khu vực này trong thời kì Chiến tranh lạnh như thế nào? a. Việc phân chia phạm vi đóng quân ở châu Á. + Hội nghị chấp nhận những điều kiện của Liên Xô để tham chiến chống Nhật Bản: 1- Giữ nguyên trạng Mông Cổ; 2- Trả Lại cho Liên Xô miền Nam đảo XakhaLin và các dảo xung quanh; quốc tế hoá thương cảng Đại Liên (Trung Quốc) và khỏi phục việc Liên Xô thuê cảng Lữ Thuận; Liên Xô cùng Trung Quốc khai thác đường sắt Nam Mãn Châu - Đại Liên; Liên Xô chiếm 4 dảo thuộc quần đảo Curin. + Quân đội Mĩ chiếm dóng Nhật Bản; ở bán đảo Triều Tiên, quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Bắc và quân đội Mĩ chiếm đóng miền Nam, Lấy vĩ tuyến 38 Làm ranh giới; Trung Quốc cần trở thành một quốc gia thống nhất; quân đội nước ngoài rút khỏi Trung Quốc. Chính phủ Trung Hoa Dân
  2. quốc cần cải tổ với sự tham gia của Đảng Cộng sản và các đảng phái dân chủ, trả Lại cho Trung Quốc vùng Mãn Châu, đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ; các vùng còn Lại của châu Á văn thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây. b. Quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á trong thời kì Chiến tranh lạnh. - Toàn bộ những quyết định của Hội nghị Ianta cùng những thỏa thuận sau đó của ba cường quốc Liên Xô, Mĩ và Anh đã trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới từng bước được thiết Lập trong những năm 1945-1947, thường được gọi là trật tự hai cực Ianta. Theo đó, thế giới được chia thành hai phe do hai siêu cường đứng đấu mỗi phe. Từ sự phân chia này đã dẫn tới tình trạng đối đấu Đông - Tây và cuộc chiến tranh Lạnh trong nhiều thập kỉ kế tiếp. - Cuộc nội chiến ở Trung Quốc (1946-1949): + Trong những năm 1946-1949, cuộc nội chiến ở Trung Quốc giữa Đảng Cộng sản và Quốc Dân đảng bùng nổ. Lực lượng của Đảng Cộng sản được sự hậu thuẫn của Liên Xô, Lực lượng của Quốc Dân đảng được sự giúp đỡ của Mĩ. + Cuộc nội chiến kết thúc với thắng Lợi của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sự ra đời của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (1949), đánh dấu sự mở rộng của hệ thống XHCN thế giới. - Cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp (1945 – 1954): + Ngày 23/9/1945, Thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm Lược trở Lại các nước Đông Dương. Nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia đoàn kết kháng chiến chống Pháp. + Cuối năm 1949, đầu năm 1950, Mĩ viện trợ cho Pháp và can thiệp ngày càng sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Từ năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam có sự ủng hộ, giúp đỡ của Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Chiến tranh Đông Dương ngày càng chịu sự tác động của hai phe. + Hiệp định Giơnevơ 1954 đánh dấu thắng Lợi của nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia, nhưng mặt khác cũng phản ánh cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai phe. - Cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953): + Năm 1948, hai chính quyền ở Triều Tiên được thành Lập: Hàn Quốc ở phía Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên ở phía Bắc được Mĩ và Liên Xô bảo trợ cho mỗi bên. Trên bán đảo Triều Tiên xuất hiện hai nhà nước với hai chế độ chính trị khác nhau. + Tháng 6/1950, quân đội Bắc Triều Tiên mở cuộc tấn công xuống phía Nam. Tháng 9/1950, quân đội Mĩ dưới danh nghĩa “quân đội Liên hợp quốc” đổ bộ vào Triều Tiên, đánh chiếm miền Bắc Triều Tiên. Tháng 10/1950, quân đội Trung Quốc tiến vào Triều Tiên “kháng Mĩ viện Triều", + Tháng 7/1950, Hiệp định đình chiến được kí kết giữa Trung Quốc – Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên với Mỹ - Hàn Quốc. Cuộc chiến tranh Triều Tiên Là sự dụng đến trực tiếp giữa hai phe, không phân thắng bại. - Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mĩ (1954 - 1975): + Sau Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương, Mĩ tiến hành cuộc chiến tranh xâm Lược Việt Nam. Mĩ lôi kéo các nước đồng minh thần Mĩ tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào cuộc chiến tranh đó. + Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân Việt Nam được sự ủng hộ và hậu thuẫn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, đến năm 1975 giành thắng Lợi hoàn toàn. Câu 3: Sự hình thành các trật tự thế giới mới: “hai cực Ianta” và “đa cực” sau Chiến tranh thế giới thứ hai có gì khác biệt? Vì sao nói tổ chức Liên hợp quốc ra đời là một thành công trong quan hệ quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai? a. Các trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giới thứ hai: - Trật tự thế giới “hai cực Ianta” hình thành sau những quyết định của Hội nghị Ianta tại Liên Xô (tháng 2/1945) cùng thỏa thuận sau đó giữa ba cường quốc Liên Xô, Mĩ, Anh ở Hội nghị Pốtxđam tại Đức (tháng 8/1945). Sự phân chia khu vực đóng quân và phạm vi ảnh hưởng (chủ yếu Là sự phân chia giữa Liên Xô và Mĩ) dẫn đến các nước vốn Là đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai nhanh chóng chuyển sang thế đối đầu, hình thành thế “hai cực”, “hai phe” - Trật tự thế giới “hai cực Ianta” Là sự sắp xếp, phân bố và cân bằng quyền Lực giữa hai cường quốc Liên Xô và Mĩ trên phạm vi thế giới, tồn tại từ sau Hội nghị Ianta đến khi một cực Là Liên Xô sụp đổ (tháng 12/1991). Trong thời gian này, thế giới chia thành “hai phe” – tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa với tình trạng đối đầu căng thẳng, mà đỉnh cao là Chiến tranh lạnh.
  3. - Trật tự thế giới “đa cực” hình thành kể từ khi trật tự “hai cực Ianta” sụp đổ. Khi “cực “ Liên Xô tan rã, thế “hai cực” của hai siêu cường Xô – Mĩ không còn thì thế giới Lại trong quá trình hình thành xu hướng “đa cực” nhiều trung tâm, với sự vươn Lên của các cường quốc như Mĩ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Liên bang Nga, Trung Quốc. Họ dựa vào tiềm Lực kinh tế và sức mạnh quân sự để sắp xếp, cân bằng quyền Lực trên phạm vi thế giới, nhằm chống Lại chủ trương của Mĩ thiết lập trật tự “đơn cực” có tham vọng thống trị thế giới. b. Liên hợp quốc ra đời là một thành công lớn trong quan hệ quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai. - Chiến tranh thế giới thứ hai Là cuộc chiến tranh Lớn nhất, khốc liệt nhất và tàn phá nặng nề nhất trong Lịch sử Loài người. Với mong muốn nhân Loại được sống trong hòa bình, cùng nhau phát triển, ngay sau Hội nghị Ianta, tổ chức Liên hợp quốc đã ra đời (6/1945), về sau Lấy ngày 24/10 hằng năm Làm “Ngày Liên hợp quốc”. - Tổ chức LHQ ra đời có sự tham gia của nhiều nước, nêu rõ mục đích thành Lập: duy trì hòa bình và an ninh thế giới, phát triển các mối quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các dân tộc và tiến hành hợp tác quốc tế giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc. - Trong hơn nửa thế kỷ, LHQ trở thành một diễn đàn quốc tế vừa hợp tác, vừa đấu tranh nhằm duy trì hòa bình, an ninh thế giới, ngăn chặn được chiến tranh hạt nhân và nguy cơ Chiến tranh thế giới thứ ba Do đó, có thể nói đây Là thành công Lớn trong quan hệ quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Câu 4: So sánh và đánh giá những điểm giống và khác nhau giữa 2 trật tự thế giới Vécxai - Oasinh tơn và trật tự hai cực Ianta? a. Những điểm giống nhau: - Cả trật tự theo hệ thống Vecxai- Oasinhtơn và trật tự 2 cực Ianta đều Là kết quả của những cuộc chiến tranh thế giới đẫm máu trong Lịch sử nhân Loại, đều được thiết Lập sau 2 cuộc đại chiến; phản ánh tương quan Lực Lượng giữa các nước tham chiến: phản ánh tham vọng và sức mạnh, ý chí của các nước lớn đối với các nước bại trận. - Đều do các cường quốc thắng trận thiết Lập để phục vụ những Lợi ích cao nhất của họ. Đều Là kết quả của những thỏa thuận, tranh Luận gay gắt giữa các cường quốc qua các hội nghị quốc tế (trật tự theo hệ thống Vecxai- Oasinhtơn Là kết quả của hai hội nghị Vecxai và Oasinhtơn, sau Chiến tranh thế giới thứ hai là các Hội nghị Ianta, Têhêran, Pốtxđam, Sanphranxixcô, Cai-rô ) - Đều Là sự phân chia thành quả chiến tranh của các nước thắng trận, áp đặt sự nô dịch với các nước bại trận, thuộc địa phụ thuộc. - Đều có các tổ chức quốc tế được thành Lập để giám sát và duy trì trật tự thế giới (Hội Quốc Liên và Liên Hợp Quốc). - Đều chỉ tồn tại có ý nghĩa tương đối trong một thời kì Lịch sử nhất định, sau một thời gian sẽ sụp đổ, không phải Là bất biến; Là những trật tự trong trạng thái động chứ không phải trong trạng thái tĩnh – phản ánh sự thay đổi về tương quan lực lượng giữa các lực lượng tham gia trong trật tự đó. - Đều không giải quyết được những mâu thuẫn, những bất hòa trong quan hệ quốc tế. b. Những điểm khác nhau: - Về thời gian: + Trật tự theo hệ thống Véc-xai – Oa-sinh-tơn ra đời từ những quyết định của các hội nghị sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, tồn tại trong 20 năm. Trật tự Véc-xai – Oa-sinh-tơn sụp đổ khi 3 Lò Lửa chiến tranh xuất hiện ở châu Á và châu Âu, các nước phát xít đã xé bỏ các điều khoản của hệ thống Véc-xai – Oa-sinh-tơn một cách trắng trợn. + Trật tự 2 cực Ianta ra đời trên cơ sở những quyết định các hội nghị trước và sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tồn tại hơn 40 năm. Trật tự 2 cực I-an-ta sụp đổ không dẫn tới chiến tranh thế giới mà hình thành một trật tự thế giới mới theo xu hướng “đa cực”. - Tính chất: Trật tự theo hệ thống Véc-xai – Oa-sinh-tơn Là một trật tự đa cực, trật tự Ianta Là trật tự hai cực. Đây là điểm khác nhau cơ bản nhất. - Quyền lực chi phối: + Trật tự theo hệ thống Véc-xai – Oa-sinh-tơn do các nước thắng trận thành lập và thao túng.
  4. + Trong khi đó, trật tự Ianta Là trật tự hai cực với quyền Lực gần như tuyệt đối thuộc về hai siêu cường Mỹ và Liên Xô. Trật tự này có điểm khác biệt cơ bản so với trật tự thế giới trước Là có sự hiện diện của cực Liên Xô – một nước XHCN. - Việc giải quyết vấn đề các nước bại trận và duy trì hòa bình sau chiến tranh cũng hoàn toàn khác nhau. Trật tự 2 cực Ianta thể hiện sự tiến bộ và tích cực hơn hẳn so với trật tự Véc-xai – Oa- sinh-tơn. Việc giải quyết các vấn đề chính trị, quân sự, Lãnh thổ, bồi thường chiến tranh với các nước chiến bại trong trật tự 2 cực Ianta thỏa đáng hơn. - Vai trò của hai tổ chức quốc tế trong hai trật tự thế giới cũng khác nhau: + Hội Quốc Liên Là tổ chức của các nước Lớn, Hội Quốc Liên khi mở rộng nhất có trên 60 nước, nó được coi Là công cụ bảo vệ quyền Lợi của các đế quốc thắng trận, nó kết thúc sự tồn tại khi Chiến tranh thế giới II bùng nổ, trật tự Vécxai- Oasinhtơn bị phá vỡ. + Liên Hợp Quốc với vai trò Là tổ chức đa phương toàn cầu mang tính toàn diện và tiến bộ hơn hẳn so với Hội Quốc Liên. Liên Hợp Quốc Là tổ chức mà tất cả các nước đều có quyền tham gia, dù Lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu (hiện nay có trên 190 nước tham gia). - Quan hệ quốc tế: + Trong trật tự Véc-xai – Oa-sinh-tơn: tồn tại mâu thuẫn giữa các nước tư bản thắng trận và bại trận; mâu thuần giữa các nước tư bản thắng trận với nhau à Quan hệ hòa bình giữa các nước chỉ Là “tạm thời mong manh”. Vì vậy đã dẫn đến cục diện chủ nghĩa đế quốc bị phân hóa thành 2 phe: tư bản dân chủ và tư bản phát xít đối đầu nhau, cùng chạy đua vũ trang gây Lên cuộc Chiến tranh thế giới thứ II vô cùng tàn khốc. + Còn ở trật tự 2 cực Ianta Là sự đối đầu về hệ tư tưởng của hai hệ thống chính trị - xã hội đối Lập: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Diễn ra cuộc đối đầu căng thẳng giữa Mĩ và Liên Xô, đưa tới cục diện Chiến tranh lạnh. - Sự tan rã: + Trật tự theo hệ thống Vécxai - Oasinhtơn tan rã dẫn tới sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945). + Trật tự Ianta sụp đổ không dẫn tới chiến tranh thế giới; trật tự thế giới theo hướng “da cực”, nhiều trung tâm đang trong quá trình hình thành. Câu 5: Nêu hoàn cảnh ra đời và mục đích của tổ chức Liên hợp quốc. Đánh giá vai trò của tổ chức Liên hợp quốc trong nửa sau thế kỉ XX. a) Hoàn cảnh thành lập: - Đầu năm 1945, khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc, các nước đồng minh và nhân dân thế giới có nguyện vọng gìn giữ hoà bình, ngăn chặn chiến tranh thế giới. - Tại Hội nghị Ianta (2/1945), ba cường quốc Liên Xô, Mĩ, Anh nhất trí thành Lập một tổ chức quốc tế nhằm gìn giữ hoà bình, an ninh thế giới. - Từ ngày 25/4 đến 26/6/1945, đại biểu 50 nước họp tại Xan Phranxicô (Mĩ) thông qua bản Hiến chương và tuyên bố thành Lập tổ chức Liên hợp quốc. Ngày 24/10/1945, với sự phê chuẩn của Quốc hội các nước thành viên, bản Hiến chương chính thức có hiệu lực. b) Mục đích: - Hiến chương Là văn kiện quan trọng nhất của Liên hợp quốc nêu rõ: Mục đích của Liên hợp quốc Là duy trì hoà bình, an ninh thế giới, phát triển các quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc. c) Vai trò của Liên hợp quốc: - Là diễn đàn quốc tế vừa hợp tác và dấu tranh nhằm duy trì hoà bình và an ninh thế giới. - Có nhiều cố gắng trong việc giải quyết các vụ tranh chấp và xung đột ở nhiều khu vực, nhiều quốc gia, tiến hành giải trừ quân bị, hạn chế chạy đua vũ trang nhất là các loại vũ khí huỷ diệt hàng Loạt; có nhiều cố gắng trong việc giải trừ chủ nghĩa thực dân. - Thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế, giúp đỡ các dân tộc về kinh tế, văn hoá, giáo dục .... Liên hợp quốc còn có nhiều chương trình hỗ trợ, giúp đỡ các dân tộc kém phát triển, các nước đang phát triển về kinh tế, văn hoá, giáo dục, nhân đạo. - Tuy nhiên, bên cạnh đó, Liên hợp quốc cũng có những hạn chế; không thành công trong việc giải quyết xung đột kéo dài ở Trung Đông, không ngăn ngừa được việc Mĩ gây chiến tranh ở Irắc...
  5. - Để thực hiện tốt vai trò của mình, Liên hợp quốc đang tiến hành nhiều cải cách quan trọng, trong đó có quá trình cải tổ và dân chủ hoả cơ cấu của tổ chức này. - Đến năm 2006, Liên hợp quốc có 192 quốc gia thành viên. Từ tháng 9/1977, Việt Nam Là thành viên 149 của Liên hợp quốc. Câu 6: Trên cơ sở nào tổ chức Liên hợp quốc đề ra nguyên tắc: “Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình”? Việt Nam đã vận dụng nguyên tắc này trong việc giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo ở Biển Đông hiện nay như thế nào? a) Cơ sở Liên hợp quốc đề ra nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình: - Trong thế kỉ XX, hai cuộc chiến tranh thế giới đã gây nên những hậu quả hết sức nặng nề đối với nhân Loại. Chỉ riêng cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945), Làm cho khoảng 60 triệu người chết, 90 triệu người bị tàn phế, nhiều thành phố, làng mạc và cơ sở kinh tế bị tàn phá. - Từ những tổn thất đó, các dân tộc trên thế giới nhận thức được sự cần thiết phải giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình, nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nhân loại. - Đáp ứng nhu cầu duy trì một nền hòa bình, ổn định Lâu dài, tổ chức Liên hợp quốc được thành Lập (1945) đã thông qua Hiến chương Liên hợp quốc. Bản Hiến chương đã nêu các nguyên tắc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình: + Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của tất cả các nước. + Giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình. b) Việt Nam đã vận dụng nguyên tắc này trong việc giải quyết tranh chấp chủ quyền biến đảo ở Biển Đông hiện nay: - Những năm gần đây, Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa và sau đó chiếm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Những hoạt động nói trên của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam được quy định bởi Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 (DOC). - Việt Nam có đủ chứng cứ Lịch sử và pháp Lí quốc tế về chủ quyền của minh đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. - Dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình, coi trọng hòa bình, tận dụng mọi khả năng hòa bình để giải quyết các cuộc tranh chấp nói chung và tranh chấp đối với các biến đảo của Việt Nam ở Biển Đông nói riêng nhằm duy trì một nền hòa bình và ổn định cùng phát triển. - Để giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông Chính phủ Việt Nam đã cực Lực Lên án, phản đối việc dùng vũ Lực để giải quyết tranh chấp. Việt Nam vận dụng tinh thần của Hiến chương Liên hợp quốc về tôn trọng toàn vẹn Lãnh thổ và độc Lập chính trị của tất cả các nước; giải quyết tranh chấp quốc tế bàng biện pháp hoà bình, tích cực tuyên truyền trên các diễn đàn quốc tế nhằm giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa binh, mong muốn duy trì hòa bình, ổn định của khu vực và quốc tế. - Trong các phiên họp của Hội nghị cấp cao ASEAN, Việt Nam cùng các nước trong khu vực đã tìm kiếm tất cả các biện pháp nhằm giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông bằng con đường hòa bình. - Việt Nam, ASEAN cùng với Trung Quốc kí kết Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 (DOC) nhằm giải quyết các tranh chấp trên Biến Đông bằng con đường hòa bình. Câu 7. Đánh giá vai trò của Liên hợp quốc từ khi thành lập đến nay. Nêu những đóng góp của Việt Nam vào công việc của Liên hợp quốc. a) Đánh giá vai trò của Liên hợp quốc - Trước hết, sứ mệnh cao cả của Liên hợp quốc được ghi rõ trong Hiến chương Liên hợp quốc là ngăn ngừa một cuộc chiến tranh thế giới mới. Hiến chương nêu mục đích hàng đầu của Liên hợp quốc Là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, đồng thời cũng xác định những mục đích quan trọng khác cho các hoạt động của Liên hợp quốc Là tăng cưởng quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc, thúc đẩy hợp tác để giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế xã hội, văn hóa, nhân đạo và bảo đảm quyền con người.
  6. - Hội đồng Bảo an được trao trách nhiệm hàng đầu trong việc duy trì hòa bình, an ninh quốc tế và được các quốc gia ủy quyền đưa ra các biện pháp, kể cả các biện pháp cưỡng chế nhằm giải quyết hòa bình các tranh chấp, chống lại các đe dọa xâm lược, phá hoại hòa bình. - Vai trò quan trọng của Liên hợp quốc thể hiện qua thực tiễn hoạt động trong hơn 60 năm qua, tác động tích cực, to Lớn đến mọi mặt của đời sống quốc tế và từng dân tộc. Từ con số 51 quốc gia thành viên vào năm 1951, Liên hợp quốc hiện có tới 192 quốc gia thành viên và trở thành một hệ thống toàn diện gồm các cơ quan chính, nhiều cơ quan phụ trợ, 20 tổ chức chuyên môn và 5 Ủy ban kinh tế - xã hội đặt ở các khu vực. - Đóng góp Lớn nhất của Liên hợp quốc Là đã góp phần ngăn ngừa không để xảy ra một cuộc chiến tranh thế giới mới hơn 70 năm qua. Một số cuộc khủng hoảng quốc tế đã được giải quyết với sự trung gian hòa giải của Liên hợp quốc. - Trong Lĩnh vực phát triển, việc tạo môi trường kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế bình đẳng và quan tâm thích đáng đến Lợi ích của các nước đang phát triển Là ưu tiên trong hoạt động của Liên hợp quốc. Tại diễn đàn này, các quốc gia đã ký kết hơn 500 điều ước quốc tế đa phương quan trọng trong nhiều lĩnh vực của giao lưu quốc tế, trong đó có Công ước về Luật Biến (năm 1982). - Trong Lĩnh vực bảo đảm, thúc đẩy quyền con người, các quốc gia thành viên đã xây dựng các văn kiện cơ bản nhất trong lĩnh vực nhân quyền là Tuyên ngôn Nhân quyền. b) Những đồng cấp của Việt Nam vào công việc của Liên hợp quốc là: - Ngày 20-9-1977, Việt Nam chính thức Là thành viên của Liên hợp quốc. Ngay từ những ngày đầu tham gia Liên hợp quốc, Việt Nam đã chủ động đóng góp tiếng nói của mình về những vấn đề Liên quan đến hòa bình, ổn định, hợp tác ở Đông Nam Á. - Việt Nam tích cực cùng nhiều quốc gia thành viên thúc đẩy Liên hợp quốc thông qua các nghị quyết, quyết định cùng các biện pháp cụ thể nhằm phát huy vai trò của Liên hợp quốc, tăng cường sự phối hợp giữa các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chạy đua vũ trang, giải trừ quân bị, ngăn ngừa và giải quyết các tranh chấp, xung đột quốc tế bằng biên pháp hòa bình, bảo vệ độc Lập và quyền tự quyết của các dân tộc, cải thiện môi trường kinh tế quốc tế, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo đảm quyền con người - Việt Nam đã đóng góp quan trọng vào việc đưa Đông Nam Á từ một khu vực bị chia rẽ, đối đầu bởi chiến tranh trở thành một khu vực hòa bình, hữu nghị, hợp tác, không có vũ khí hạt nhân và đang hướng tới hình thành Cộng đồng ASEAN. - Trong các Lĩnh vực công việc cụ thể của Liên hợp quốc, Việt Nam với từ cách Là một trong 66 thành viên của Hội nghị giải trừ quân bị tại Geneve đã tích cực tham gia vào các hoạt động của diễn đàn nhằm thực hiện mục tiêu giải trừ quân bị toàn diện và triệt để do Liên hợp quốc đề ra. - Việt Nam được Liên hợp quốc đánh giá cao về việc hoàn thành trước thời hạn nhiều mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, triển khai thành công đồng thời chia sẻ kinh nghiệm của mình trong việc thực hiện các chương trình hành động của các hội nghị Liên hợp quốc về phát triển xã hội, mỗi trưởng, an ninh Lương thực, nhân quyền, dân số và phát triển, chống phân biệt chủng tộc, phòng chống HIV/AIDS. - Ghi nhận những đóng góp nhiều mặt của Việt Nam vào công việc của Liên hợp quốc, các quốc gia thành viên đã nhiều Lần bầu Việt vào cơ chế Lãnh đạo của nhiều cơ quan Liên hợp quốc như Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc, thành viên ECOSOC, Chủ tịch Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực (FAO), ... Việt Nam là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009 và 2020 – 2021. Câu 8: Nêu những sự kiện thể hiện sự xác lập hai hệ thống xã hội đối lập (Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa) từ năm 1945 đến năm 1949. Vì sao có sự hình thành hai hệ thống xã hội đối lập đó? a) Sự xác lập hai hệ thống xã hội đối lập - Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trên thế giới diễn ra nhiều sự kiện quan trọng với xu hướng hình thành hai phe: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. - Về chính trị: + Từ năm 1945 đến năm 1949, các nhà nước dân chủ nhân dân Đông Âu như: Ba Lan, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, Tiệp Khắc, An-ba-ni, Ru-ma-ni, Nam Tư Lần Lượt được thành Lập. Các nước Đông Âu đã tiến hành nhiều cải cách quan trọng như: xây dựng bộ máy nhà nước dân chủ nhân dân, cải cách
  7. ruộng đất, ban hành các quyền tự do dân chủ v.v.. Chủ nghĩa xã hội đã vượt ra khỏi phạm vi một nước Liên xô và trở thành hệ thống thế giới. + Mĩ, Anh và sau đó Là Pháp đã tiến hành hợp nhất các khu vực chiếm dóng của mình ở Đức, Lập ra Nhà nước Cộng hoà Liên bang Đức (9-1949). Tháng 10-1949, Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Đức thành Lập. Như thế, trên Lãnh thổ nước Đức đã xuất hiện hai nhà nước với hai chế độ chính trị khác nhau. + Hội nghị Ianta đã qui định ở bán đảo Triều Tiên: quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Bắc và quân đội Mĩ chiếm đóng miền Nam, Lấy vĩ tuyến 38 Làm ranh giới, Tháng 8/1948, Hàn Quốc được thành Lập; tháng 9/1948 ở phía Bắc nước CHDCND Triều Tiên được thành lập + Tháng 10/1949 nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành Lập và di tiến Lên chủ nghĩa xã hội, từ đó, chủ nghĩa xã hội nối liền từ Âu sang Á. - Như vậy, bên cạnh sự tồn tại của hệ thống tư bản chủ nghĩa, đến năm 1949, trên thế giới đã xuất hiện hệ thống xã hội chủ nghĩa. - Về kinh tế: + Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ đề ra "Kế hoạch phục hưng châu Âu” (còn gọi là “Kế hoạch Mácsan"), nhằm viện trợ các nước Tây Âu khôi phục kinh tế, đồng thời tăng cường ảnh hưởng và sự khống chế của Mĩ đối với các nước này. + Năm 1949, Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) được thành Lập. Nhờ đó, sự hợp tác về chính trị, kinh tế, mối quan hệ giữa Liên Xô với các nước Đông Âu ngày càng được củng có, từng bước hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa. - Về quân sự: + Ngày 4/4/1949, Mĩ thành Lập khối quân sự - Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Đây Là Liên minh quân sự Lớn nhất của các nước tư bản phương Tây do Mĩ cắm đầu nhằm chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. + Tháng 5 – 1955, Liên Xô và các nước Đông Âu đã thành Lập Tổ chức Hiệp ước Vácsava, một Liên minh chính trị - quân sự mang tính phòng thủ của các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu. b) Giải thích - Trước hết, hai hệ thống tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa có sự đối Lập nhau về hệ tư tưởng và mục tiêu chiến Lược. Các nước tư bản do Mĩ đứng đầu muốn đẩy Lùi và xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa - Sự đối Lập nhau về mục tiêu và chiến Lược của hai cường quốc. Liên Xô chủ trương duy trì hòa bình, an ninh thế giới, bảo vệ những thành quả của chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh phong trào cách mạng thế giới. Ngược Lại, Mỹ ra sức chống phá Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, đẩy Lùi phong trào cách mạng nhằm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới. - Sau Chiến tranh thế giới, Mĩ Là đế quốc có tiềm Lực kinh tế, quân sự Lớn và chi phối các nước tư bản, Mĩ đẻ ra chiến Lược toàn cầu, mưu đồ bá chủ thế giới, trong khi đó, Liên Xô đứng đầu các nước xã hội chủ nghĩa và hậu thuẫn cho phong trào cách mạng thế giới. Câu 9: Hãy phân tích nguyên nhân, đặc điểm và hệ quả của cuộc Chiến tranh lạnh. a) Nguyên nhân - Sự đối Lập nhau về mục tiêu và chiến Lược của hai cường quốc Liên Xô và Mĩ. Liên Xô chủ trương duy trì hòa bình, an ninh thế giới, bảo vệ những thành quả của chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh phong trào cách mạng thế giới. Ngược Lại, Mỹ ra sức chống phá Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, đẩy lùi phong trào cách mạng nhằm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới. - Mỹ hết sức Lo ngại trước sự phát triển của chủ nghĩa xã hội ở châu Âu, và nhất là sự thành công của cách mạng Trung Quốc. Chủ nghĩa xã hội đã trở thành một hệ thống thế giới, trải dài từ Đông Âu đến phía Đông Bắc Á. - Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ vươn Lên thành một nước tư bản giấu mạnh nhất, nắm ưu thế về vũ khí hạt nhân. Mĩ tự cho mình có quyền lãnh đạo thế giới. b) Đặc điểm của Chiến tranh lạnh - Chiến tranh Lạnh Là chính sách thù địch, căng thẳng trong quan hệ giữa Mĩ và các nước phương Tây với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Đó Là “chiến tranh không nổ súng” nhưng Luôn gây ra tình trạng căng thẳng trên thế giới từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, để thực hiện chính sách đối dấu của các nước đế quốc đối với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.
  8. - Nét nổi bật nhất của quan hệ quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ II Là tình trạng 2 cực hai phe, chịu tác động của trật tự hai cực Xô – Mĩ. c) Hệ quả - Sự đối đầu gay gắt giữa hai siêu cường Xô- Mĩ mà đỉnh cao Là cuộc chiến tranh Lạnh, gây tình trạng căng thẳng, kéo dài và gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế và chính trị không chỉ cho hai nước đó mà còn tác động đến hai hệ thống tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. - Chiến tranh Lạnh dẫn tới sự xác Lập cục diện hai cực, hai phe do siêu cường Mỹ và Liên Xô đứng đầu mỗi cực, mỗi phe. Nội dung này đã trở thành nhân tố chủ yếu tác động và chi phối các quan hệ quốc tế trong hơn 4 thập kỉ của nửa sau thế kỉ XX. - Chiến tranh Lạnh dẫn tới cuộc chạy đua vũ trang trong nhiều năm giữa Mĩ và Liên Xô; các quốc gia dân tộc cũng bị Lôi kéo đứng về một trong hai phe, tham gia vào các tổ chức chính trị - quân sự, kinh tế... của hai phe. - Nhiều dân tộc bị Lôi cuốn vào vòng xoáy của Chiến tranh Lạnh, gây ra các cuộc chiến tranh cục bộ tàn khốc, đất nước bị chia cắt, tình trạng chạy đua vũ trang và sản xuất các loại vũ khí hủy diệt, gây tình trạng bất ổn ở các khu vực. Câu 10: Trong hai thập niên 70 và 80 của thế kỉ XX, những sự kiện nào biểu hiện xu thế hòa hoãn giữa phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa? Quan hệ giữa các nước ở Đông Nam Á trong thời gian này có gì thay đổi phù hợp với xu thế trên? a) Xu thế hòa hoãn giữa hai phe: - Từ đấu những năm 70 (thế kỉ XX), xu hướng hoà hoãn Đông - Tây đã xuất hiện với những cuộc gặp gỡ thương lượng Xô – Mĩ. + Trên cơ sở những thoả thuận Xô – Mĩ, Hiệp định về những cơ sở của quan hệ giữa Đông Đức và Tây Đức được kí kết (tháng 11/ 1972). + Năm 1972, Liên Xô và Mĩ kí Hiệp ước về việc hạn chế hệ thống phòng chống tên Lửa (ABM) và Hiệp định hạn chế vũ khí tiến công chiến lược (SALT-1). + Tháng 8/1975, 33 nước châu Âu cùng Mĩ và Canada kí Định ước Henxinki, khẳng định những nguyên tắc trong quan hệ giữa các quốc gia và tạo nên một cơ chế giải quyết các vấn đề Liên quan đến hòa bình, an ninh ở châu Âu. - Từ năm 1985 trở di, Mĩ và Liên Xô đã đi đến kí kết các văn kiện hợp tác về kinh tế và khoa học – kĩ thuật. - Tháng 12/1989, tại đảo Manta (Địa Trung Hải) hai nhà Lãnh đạo M. Goócbachớp (Liên Xô) và G. Busơ (Mĩ) đã chính thức tuyên bố chấm dứt chiến tranh Lạnh, mở ra những điều kiện để giải quyết các xung đột, tranh chấp ở nhiều khu vực trên thế giới. - Tình trạng Chiến tranh Lạnh chỉ thực sự kết thúc sau khi Liên Xô tan rã (1991), trật tự hai cực không còn nữa. b) Quan hệ giữa các nước ở Đông Nam Á - Chiến tranh Lạnh chấm dứt đã mở ra chiều hưởng và những điều kiện giải quyết hòa bình các vụ tranh chấp, xung đột đang diễn ra ở nhiều khu vực trên thế giới. - Vào thời điểm này, quan hệ giữa các nước Đông Dương và ASEAN bước đầu được cải thiện. Hai nhóm nước đã thiết Lập quan hệ ngoại giao và chuẩn bị những tiến để cho ASEAN mở rộng kết nạp các nước thành viên. - Vấn đề Campuchia: tháng 10/1991, Hiệp định về một giải pháp chính trị ở Campuchia đã được kí kết tại Pari, mở ra quá trình giải quyết cuộc tranh chấp ở đây bằng một giải pháp hòa bình. - Từ năm 1995 đến năm 1999, các nước: Việt Nam, Lào, Campuchia và Mianma Lần Lượt gia nhập tổ chức ASEAN. Câu 11: Anh chị hãy trình bày quá trình xói mòn đi đến tan rã của trật tự 2 cực Ianta? a. Quá trình xói mòn trật tự hai cực Ianta: - Trên cơ sở thỏa thuận của 3 cường quốc tai hội nghị Ianta(2/1945) thì sau khi CTTG II kết thúc 1 trật tự thế giới mới đã đc thiết Lập đó Là trật tự 2 cực Ianta cũng giống như trật tự Vecsai-Oasinhton đc thiết Lập bởi 1 số nước thắng trận, Trật tự 2 cực Ianta Là một trật tự thế giới đc quyết định bởi 1 vài quốc gia áp đặt Lên các quốc gia khác vì vậy ngay từ khi mới ra đời nó đã thể hiện 1 sự bất bình đẳng báo hiệu 1 sự xói mòn dẫn đến sụp đổ sau này.
  9. - Sự thắng Lợi phong trào GPDT ở Á, Phi, Mĩ Latinh đã dẫn đến sự sói mòn của trật tự 2 cực Ianta: + Cách mạng TQ thành công (1949) Là 1 trong những sự kiện Lớn đầu tiên Làm cho Trật tự 2 cực Ianta bị xói mòn. CMTQ kết thúc sau cuộc nội chiến (1946-1949) giữa QDĐ và ĐCS với thắng Lợi của ĐCS dẫn đến sự ra đời của nước CHNDTH(1/10/1949), tập đoàn Trung hoa dân quốc bị thất bại phải bỏ chạy ra bán đảo Đài Loan. Với kết quả này âm mưu của Mĩ muốn biến TQ thành thuộc địa kiểu mới không thành công, quyền Lợi của LX cũng bị mất trên đất TQ. Hơn nữa sau khi thành Lập thì Đảng và nhà nước TQ không chịu sự chi phối bởi Trật tự 2 cực Ianta. TQ không thân Mĩ và cũng không thân LX. + Sau khi phong trào cách mạng TQ thành công PTĐTGPDT Liên tiếp nổ ra ở Á, Phi, Mĩ Latinh và giành đc thắng Lợi như Ấn Độ(1950) và hàng Loạt các nước ở Châu Á tuyên bố độc Lập. Cách mạng Cuba(1959) thành công mở đầu cho phong trào GPDT ở Mĩ Latinh, năm 1960, 17 nước châu Phi tuyên bố độc Lập. Nhìn chung đến những năm 70 cơ bản công cuộc đấu tranh GPDT ở các nước Á, Phi, Mĩ Latinh và cách mạng ĐD đã thành công. + Thắng Lợi của phong trào đấu tranh GPDT đã Làm cho CNTD bị sụp đổ 1 cách có hệ thống Làm cho chiến Lược toàn cầu của Mĩ bị đảo Lộn, Làm cho CNTB bị suy yếu do mất đi nhiều quyền Lợi từ các nước Á, Phi, Mĩ Latinh. Hơn nữa sau khi giành độc Lập, các nước Á, Phi, Mĩ Latinh bước vào thời kì mới tiến Lên xây dựng đất nước. Sau một quá trình XD, nhiều nước Á, Phi, Mĩ Latinh đã có sự phát triển rất mạnh về kinh tế trở thành đối thủ cạnh tranh với Mĩ, Liên xô và các nước TB khác. - Sự vươn Lên của Nhật Bản và Tây Âu sau CTTG II: sau khoảng 20 năm khôi phục và phát triển kt Nhật Bản và Tây Âu đã vươn Lên trở thành trung tâm kt thế giới, trở thành đối thủ cạnh tranh với Mĩ trong thế giới TB. Hơn nữa nhiều nước TB phát triển như: Pháp, Đức, Thụy Điển đã có chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, hết sức độc Lập, không còn Lệ thuộc vào Mĩ và trở thành đối trọng của Mĩ trong nhiều vấn đề quốc tế.Tình hình trên đã góp phần Làm xói mòn Trật tự 2 cực Ianta. - Cuộc khủng hoảng dầu mỏ trong năm 1973 sau đó dẫn tới khủng hoảng toàn diện, cuộc khủng hoảng này tiếp tục Làm cho các nước TBCN đứng trước nguy cơ sụp đổ, các nước TBCN đã tìm cách thoát khỏi khủng hoảng bằng việc nghiên cứu khoa học-công nghệ đó Là 1 sự điều chỉnh, thích nghi phù hợp của các nước TB nhờ đó CNTB tiếp tục tồn tại, đứng vững và phát triển. - Tuy nhiên, LX và các nước XHCN Đông Âu hết sức chủ quan khi cho rằng cuộc khủng hoảng chỉ ảnh hưởng đến các nước TB chứ không ảnh hưởng đến các nước XHCN, do đó họ đã không thay đổi kịp thời dẫn đến khủng hoảng trầm trọng, sai lầm kéo dài. b. Sự sụp đổ Trật tự 2 cực Ianta: - Sau khi các nước XHCN Đông Âu và LX bắt tay vào cải tổ thì Lại mắc thêm những sai Lầm nghiêm trọng khác, đây Là nguyên nhân xâu xa dẫn đến sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô trong giai đoạn 1989 – 1991. Tháng 6/1991, Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) giải thể. Tháng 7/1991, Tổ chức hiệp ước Vácsava ngừng hoạt động. Với “cực” Liên Xô tan rã, hệ thống XHCN thế giới không còn tồn tại và Trật tự thế giới 2 cực Ianta sụp đổ.