Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 12 - Chuyên đề: Lịch sử Việt Nam 1930-1945
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 12 - Chuyên đề: Lịch sử Việt Nam 1930-1945", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
chuyen_de_boi_duong_hsg_mon_lich_su_lop_12_chuyen_de_lich_su.pdf
Nội dung text: Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 12 - Chuyên đề: Lịch sử Việt Nam 1930-1945
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 1 Chuyên đề : LỊCH SỬ VIỆT NAM 1930 – 1945 Bài 1: PHONG TRÀO CÁCH MẠNG 1930 – 1935 A. KIẾN THỨC CƠ BẢN I. PHONG TRÀO CÁCH MẠNG 1930-1931 VÀ XÔ VIẾT NGHỆ –TĨNH 1.Phong trào cách mạng 1930 - 1931 a. Nguyên nhân bùng nổ: - Tác động của phong trào cách mạng thế giới: + Những năm 1929 – 1933, thế giới tư bản lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng trên quy mô lớn, để lại hậu quả hết sức mặng nề, làm cho những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản phát triển gay gắt. Phong trào đấu tranh của công nhân và quần chúng nhân dân lao động dâng cao. + Trong khi đó, Liên Xô đang đạt được những thành tựu lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thêm vào đó là kết quả thắng lợi của Quảng Châu công xã (Trung Quốc). => Những sự kiện đó đã cổ vũ sự bùng nổ mạnh mẽ của phong trào cách mạng ở Đông Dương. - Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam: + Cuộc khủng hoảng 1929 – 1933 đã ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam, là cho kinh tế Việt Nam suy thoái nặng nề và làm trầm trọng thêm tình trạng đói khổ của các tầng lớp nhân dân lao động. Mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc, trong đó có hai mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến. + Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa yên Bái do Việt Nam Quốc dân đảng lãnh đạo (tháng 2/1930), chính quyền thực dân tiến hành khủng bố dã man những người yêu nước Việt Nam. Điều đó càng làm tăng thêm tình trạng bất ổn trong xã hội. + Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và tay sai phát triển gay gắt, đây là nguyên nhân sâu xa và trực tiếp dẫn đến phong trào đấu tranh của quần chúng. - Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo cách mạng Việt Nam: + Tháng 2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với tổ chức chặt chẽ và cương lĩnh chính trị đúng đắn, nắm quyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam, quy tụ lực lượng toàn dân tộc Việt Nam, kịp thời lãnh đạo nhân dân ta bước vào một thời kì đấu tranh cách mạng mới. + Đây là nguyên nhân chủ yếu và có ý nghĩa quyết định bởi vì nếu không có sự lãnh đạo của Đảng thì tự bản thân những mâu thuẫn giai cấp xã hội chỉ có thể dẫn tới những cuộc đấu tranh lẻ tẻ, tự phát mà không thể phát triển thành một phong trào tự giác trên quy mô rộng lớn được. b. Diễn biến phong trào cách mạng 1930 – 1931: * Phong trào cả nước: * Thời kì mở đầu và phát triển của phong trào: - Tháng 2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời kịp thời lãnh đạo phong trào đấu tranh của quần chúng rộng khắp cả nước. - Từ tháng 2 đến tháng 4/1930 là bước khởi đầu của phong trào, nổ ra nhiều cuộc đấu tranh của quần chúng công nhân và nông dân. Mục tiêu kinh tế và chính trị: nêu khẩu hiệu đòi cải thiện đời sống, khẩu hiệu chống đế quốc, chống phong kiến. Hình thức đấu tranh phong phú: bãi công của công nhân, treo cờ búa liềm, Tiêu biểu là cuộc đấu tranh cuả công nhân đồn điền cao su Phú Riềng, Dầu Tiếng, công nhân nhà máy sợi Nam Định, công nhân nhà máy diêm Bến Thủy. - Tháng 5/1930, phong trào phát triển thành cao trào. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh ngày 1/5/1930, lần đầu tiên nhân dân Việt Nam kỉ niệm ngày Quốc tế Lao động, đấu tranh đòi quyền lợi cho nhân dân lao động trong nước và thể hiện tinh đoàn kết với nhân dân lao động thế giới. Các cuộc đấu tranh này đánh dấu bước phát triển mới của phong trào cách mạng Việt Nam. - Trong các tháng 6, 7, 8 năm 1930, phong trào tiếp tục nổ ra ở nhiều nơi trên phạm vi cả nước, các cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân và các tầng lớp khác nổ ra mạnh mẽ: Ở Bắc Kì có phong trào nông
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 2 dân Tiền Hải (Thái Bình), Duy Tiên (Hà Nam). Ở Trung Kì có các cuộc đấu tranh của nông dân Đức Phổ, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi). Ở Nam Kì có cuộc đấu tranh ở Bà Chiểu (Sài Gòn – Chợ Lớn), * Ở Nghệ An và Hà Tĩnh: - Phong trào nông dân lên cao với những cuộc biểu tình lớn có vũ trang tự vệ. Quần chúng nông dân kéo đến huyện lị, tỉnh lị đòi giảm sưu thuế, như nông dân các huyện Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Quỳnh Lưu, Thanh Chương, Đô Lương, Anh Sơn, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kì Anh, - Tiêu biểu nhất là cuộc biểu tình ngày 12/9/1930 của nông dân huyện Hưng Nguyên (Nghệ An) kéo đến huyện lị, phá nhà lao, đốt huyện đường, vây lính khố xanh, ủng hộ cuộc bãi công của công nhân Bến Thủy. - Chính quyền thực dân bị tê liệt, tan rã ở nhiều nơi. Nhiều cấp ủy Đảng ở thôn, xã lãnh đạo nhân dân đứng lên tự quản lí đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương, làm chức năng của chính quyền, gọi là “Xô viết”. * Thời kì thoái trào: Từ cuối năm 1930, khi chính quyền Xô viết ra đời, thực dân Pháp tập trung lực lượng đàn áp, kết hợp sử dụng bạo lực với những thủ đoạn lừa bịp về chính trị. Phong trào cách mạng bị tổn thất nặng nề. Một số cuộc đấu tranh lẻ tẻ còn kéo dài sang đến năm 1931 thì kết thúc. 2. Xô viết Nghệ - Tĩnh a. Sự ra đời và hoạt động: * Sự ra đời: - Trong các tháng 9 và 10/1930, trước khí thế cách mạng của quần chúng, bộ máy chính quyền địch ở nhiều nơi bị tan rã. Dưới sự lãnh đạo của các chi bộ đảng, Ban Chấp hành Nông hội ở thôn, xã đứng ra quản lí mọi mặt đời sống xã hội ở nông thôn, thực hiện chuyên chính với kẻ thù, dân chủ với quần chúng lao động, làm chức năng, nhiệm vụ của một chính quyền nhà nước dưới hình thức các ủy ban tự quản theo kiểu Xô Viết. - Tại Nghệ An, Xô viết ra đời tháng 9/1930. Ở Hà Tĩnh, Xô viết ra đời vào cuối năm 1930 đầu năm 1931. * Hoạt động (chính sách của Xô viết): - Về chính trị: + Thực hiện rộng rãi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân. + Quần chúng được tham gia các đoàn thể, tự do hội họp. + Các đội tự vệ đỏ, tòa án nhân dân được thành lập. - Về kinh tế: + Chia ruộng đất công, tiền, lúa công cho dân cày nghèo. + Bãi bỏ các thứ thuế vô lí (thuế thân, thế chợ, thuế muối, ), xóa nợ cho dân nghèo. + Chú trọng đắp đê phòng lụt, tu sửa cầu cống, đường giao thông. + Tổ chức giúp đỡ nhau sản xuất. - Về văn hóa – xã hội: + Mở các lớp dạy chữ Quốc ngữ, + Xóa bỏ các tệ nạn xã hội (bài trừ mê tín dị đoan, ) + Xây dựng nếp sống mới * Nhận xét: - Xô viết Nghệ - Tĩnh là hình thức chính quyền mới, xuất hiện đầu tiên ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, do kết quả của phong trào đấu tranh của quần chúng công nông cuối năm 1930 đầu năm 1931. - Những hoạt động của Xô viết trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm đem lại quyền lợi cho nhân dân lao động, đây là hình mẫu chính quyền cách mạng đầu tiên ở Việt Nam, một chính quyền nhà nước của dân, do dân, vì dân. - Các Xô viết được thành lập và thực thi những chính sách tiến bộ, thực hiện rộng rãi các quyền tự do, dân chủ, bước đầu giải quyết những yêu cầu về ruộng đất cho nhân dân, dựng lên một trật tự xã hội mới
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 3 với những tiến bộ, bài trừ các tệ nạn xã hội,... chứng tỏ rằng Xô viết Nghệ - Tĩnh là đỉnh cao của phong trào cách mạng 1930 – 1931 và là nguồn cổ vũ mạnh mẽ quần chúng nhân dân trong cả nước. => Có thể thấy những chính sách của Xô viết đã đem lại lợi ích cho nhân dân, chứng tỏ bản chất ưu việt của một chính quyền cách mạng kiểu mới, chính quyền của dân, do dân và vì dân. Chính vì thế Xô viết Nghệ Tĩnh là đỉnh cao của phong trào cách mạng 1930 – 1931. - Tuy nhiên, hoạt động của Xô viết Nghệ - Tĩnh vẫn còn những hạn chế: + Giải quyết vấn đề dân tộc và giai cấp chưa thật đúng, phong trào chưa chú trọng tập hợp lực lượng chống đế quốc vào một mặt trận dân tộc thống nhất. + Phong trào diễn ra trong lúc kẻ thù còn mạnh, việc vận dụng sách lược đấu tranh chưa chủ động, tiến thoái chưa đúng lúc. 3. Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 10/1930) a. Hoàn cảnh: Tháng 10/1930, trong lúc phong trào cách mạng 1930 – 1931 đang lên cao, BCH TW lâm thời của Đảng Cộng sản Việt Nam họp Hội nghị lần thứ nhất tại Hương Cảng (Trung Quốc). b. Nội dung Hội nghị: - Hội nghị quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương; - Bầu BCH TW chính thức do Trần Phú làm Tổng bí thư; - Thông qua Luận cương chính trị của Đảng do Trần Phú soạn thảo. c. Nội dung của Luận cương chính trị 10/1930 - Xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương: lúc đầu là cách mạng tư sản dân quyền, sau đó tiếp tục phát triển bỏ qua thời kì tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa. - Xác định Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là đánh phong kiến và đánh đế quốc, hai nhiệm vụ ấy có quan hệ khăng khít với nhau. - Xác định Động lực cách mạng là giai cấp công nhân và nông dân. - Xác định Lãnh đạo cách mạng là giai cấp vô sản với đội tiên phong là Đảng Cộng sản. - Luận cương chính trị cũng nêu rõ hình thức và phương pháp đấu tranh, mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mang thế giới. * Nhận xét về Luận cương chính trị 10/1930: - Ưu điểm: Luận cương đã đề cập đến các vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam. - Hạn chế: + Chưa nêu được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Đông Dương, do đó không nêu cao ngọn cờ dân tộc lên hàng đầu, nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất.. + Đánh giá không đúng khả năng cách mạng của giai cấp tiểu tư sản, khả năng chống đế quốc và phong kiến ở mức độ nhất định của giai cấp tư sản dân tộc, khả năng lôi kéo trung – tiểu địa chủ tham gia vào mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc và tay sai. 4. Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của phong trào cách mạng 1930 – 1931 a. Ý nghĩa lịch sử: Phong trào cách mạng 1930 – 1931 mặc dù thất bại nhưng đã khẳng định được những nhân tố đảm bảo thắng lợi của cách mạng: - Phong trào cách mạng 1930 - 1931 đã khẳng định đường lối cách mạng chống đế quốc, chống phong kiến mà Đảng xác định là đường lối đấu tranh đúng đắn, được quần chúng nhân dân ủng hộ. - Phong trào cách mạng 1930 – 1931 đã khẳng định trong thực tế quyền lãnh đạo và năng lực lãnh đạo của Đảng, quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với cách mạng các nước Đông Dương. Qua thực tiễn đấu tranh, quần chúng nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. - Qua phong trào cách mạng 1930 – 1931, khối liên minh công – nông được hình thành, công nhân và nông dân đã đoàn kết với nhau trong đấu tranh cách mạng. Đây là cơ sở để thành lập mặt trận dân tộc
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 4 thống nhất chống đế quốc, là nhân tố quan trọng đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng, như Lê Duẩn đánh giá: “Có Đảng, có liên minh công – nông, có thắng lợi”. - Phong trào cách mạng 1930 – 1931 cũng khẳng định về phương pháp bạo lực cách mạng. Trong điều kiện một nước thuộc địa như Việt Nam, kẻ thù luôn dùng bạo lực đàn áp quần chúng thì con đường đấu tranh duy nhất là dùng bạo lực cách mạng của quần chúng để đánh đổ chính quyền đế quốc, thục dân phong kiến để thiết lập chính quyền cách mạng. - Phong trào cách mạng 1930 – 1931 cũng đã làm lung lay ách thống trị cuar thực dân và phong kiến tay sai trên một vùng rộng lớn (đặc biệt ở Nghệ - Tĩnh), làm sụp đổ chính quyền địch ở vùng nông thôn Nghệ An, Hà Tĩnh, bước đầu thành lập một hình thức chính quyền cách mạng kiểu mới, của dân, do dân và vì dân. - Qua phong trào cách mạng 1930 – 1931, đội ngũ cán bộ đảng viên và quần chúng yêu nước được tôi luyện và trưởng thành qua thực tiễn đấu tranh quyết liệt với kẻ thù. Tinh thần và năng lực cách mạng của quần chúng nhân dân được rèn luyện. Đây là lực lượng xung kích trong phong trào cách mạng ở giai đoạn sau. - Phong trào cách mạng 1930 – 1931 được đánh giá cao trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Quốc tế Cộng sản đã công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là một bộ phận độc lập trực thuộc Quốc tế Cộng sản. - Phong trào cách mạng 1930 – 1931 đã bước đầu tạo ra trận địa và lực lượng cách mạng cho Cách mạng tháng Tám 1945 sau này. Đây là bước thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa quyết định đến tiến trình phát triển về sau của cách mạng Việt Nam. Vì nếu không có phong trào 1930 – 1931, trong đó quần chúng công - nông đã thể hiện một nghị lực cách mạng phi thường, làm rung chuyển trận địa của chính quyền địch ở nông thôn thì không thể có thắng lợi của phong trào dân chủ 1936 – 1939 và Cách mạng tháng Tám 1945. b. Bài học kinh nghiệm: Phong trào cách mạng 1930 – 1931 đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho cách mạng về sau: - Bài học về công tác tư tưởng; về chỉ đạo chiến lược, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến; - Bài học về tổ chức và sử dụng lực lượng cách mạng, lãnh đạo quần chúng đấu tranh; về xây dựng khối liên minh công – nông vững chắc và trên cơ sở đó phải xây dựng một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi nhằm đoàn kết toàn dân tộc chống đế quốc và phong kiến tay sai. - Bài học về giành và giữ chính quyền; về vấn đề khởi nghĩa vũ trang và thời cơ cách mạng. => Với tất cả những ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm to lớn đó, phong trào cách mạng 1930 – 1931 được xem là cuộc tập dượt đầu tiên của Đảng và quần chúng cho Cách mạng tháng Tám 1945. II. PHONG TRÀO CÁCH MẠNG 1932 – 1935 (HS tham khảo sách giáo khoa) 1. Cuộc đấu tranh phục hồi phong trào cách mạng 2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương (3/1935): (Đại hội khôi phục Đảng): - Từ ngày 27 đến ngày 31/3/1935, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng họp tại Ma Cao (Trung Quốc). a. Nội dung: - Xác định ba nhiệm vụ chủ yếu trước mắt: củng cố và phát triển Đảng, tranh thủ quần chúng rộng rãi, chống chiến tranh đế quốc. - Đại hội thông qua Nghị quyết Chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết về vận động công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, phụ nữ, về công tác trong các dân tộc thiểu số, về đội tự vệ và cứu tế đỏ. - Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương. b. Ý nghĩa: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng đã đánh dấu một mốc quan trọng: Đảng đã khôi phục được hệ thống tổ chức từ trung ương đến địa phương cũng như khôi phục các tổ chức quần chúng.
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 5 B. MỘT SỐ CÂU HỎI ÔN TẬP Câu 1: Phân tích nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ của phong trào cách mạng 1930 – 1931 ở Việt Nam? Trong đó, nguyên nhân nào có tính quyết định nhất, tại sao? Hướng dẫn trả lời: (HS sử dụng Kiến thức cơ bản để trả lời) Câu 2: Tóm Tắt phong trào cách mạng 1930 – 1931. Tại sao nói phong trào cách mạng 1930 – 1931 là một bước phát triển lớn của cách mạng Việt Nam so với những giai đoạn trước đó? Hướng dẫn trả lời: a. Tóm tắt phong trào cách mạng 1930 – 1931: (HS sử dụng Kiến thức cơ bản để trả lời) b. Tại sao nói phong trào cách mạng 1930 – 1931 là một bước phát triển lớn của cách mạng Việt Nam so với những giai đoạn trước đó (Điểm mới của phong trào cách mạng 1930 – 1931): - Về lãnh đạo: Phong trào cách mạng 1930 – 1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh là phong trào cách mạng đầu tiên của quần chúng nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhằm chống đế quốc và phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày. - Về đối tượng, mục tiêu đấu tranh: Phong trào cách mạng 1930 – 1931 là một phong trào cách mạng triệt để, có đường lối chính trị đúng đắn, nhằm chống lại kẻ thù của dân tộc là đế quốc Pháp và bọn phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc và ruộng đất cho nông dân, lập nên chính quyền Xô viết công – nông – binh, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng và thỏa hiệp với kẻ thù. - Về quy mô: Phong trào cách mạng 1930 – 1931 diễn ra trong thời gian dài, liên tục, trên quy mô cả nước, từ Bắc chí Nam, từ nông thôn đến thành thị, từ các nhà máy đến các hầm mỏ và đồn điền, nhưng mang tính thống nhất cao vì đều do Đảng Cộng sản lãnh đạo. - Về lực lượng đấu tranh: Phong trào đã lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia, từ nông dân, công nhân đến các tầng lớp nhân dân thành thị từ Bắc chí Nam. Đặc biệt, phong trào đã diễn ra với sự liên kết giữa công nhân với nông dân vô cùng chặt chẽ, qua đó hình thành khối liên minh công – nông. - Hình thức đấu tranh phong phú và quyết liệt: + Phong phú: bãi công của công nhân, biểu tình của nông dân, bãi khóa của học sinh, sinh viên. Bãi thị của tiểu thương, những cuộc mít tinh của nhiều tầng lớp xã hội, treo cờ đỏ búa liềm, rải truyền đơn, căng khẩu hiệu, + Quyết liệt: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quần chúng nhân dân đã đấu tranh quyết liệt, không khoan nhượng với kẻ thù. Đặc biệt ở các vùng nông thôn Nghệ An – Hà Tĩnh, các đoàn biểu tình có vũ trang đã phá đồn điền, nhà lao, nhà ga, bao vây huyện đường, làm cho hệ thống chính quyền thực dân, phong kiến bị tê liệt, tan rã. - Chính quyền được thành lập: Một số nơi thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh thiết lập chính quyền cách mạng dưới hình thức Xô viết - chính quyền công, nông đầu tiên ở Việt Nam. => Với những đặc điểm trên, phong trào cách mạng 1930 – 1931 là một bước phát triển mới so với những phong trào yêu nước trước đó. Câu 3: Trình bày sự ra đời và hoạt động của Xô viết Nghệ - Tĩnh và rút ra nhận xét? Vì sao Xô viết Nghệ - Tĩnh được coi là đỉnh cao của phong trào cách mạng 1930 - 1931? Hướng dẫn trả lời: (HS sử dụng Kiến thức cơ bản để trả lời) Câu 4: Trình bày hoàn cảnh và nội dung Hội nghị lần thứ nhất BCH TW lâm thời của Đảng Cộng sản Việt Nam (10/1930)? Phân tích và nhận xét nội dung cơ bản của Luận cương chính trị tháng
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 6 10/1930? Hướng dẫn trả lời: (HS sử dụng Kiến thức cơ bản để trả lời) Câu 5: Trong giai đoạn 1930 – 1945, Đảng ta đã Từng bước khắc phục những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10/1930 như thế nào? Hướng dẫn trả lời: Những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10/1930 được Đảng ta khắc phục trong giai đoạn 1930 – 1945: - Chủ trương của Hội nghị BCH TW Đảng tháng 7/1936 đã bước đầu khắc phục những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10/1930: + Về xác định nhiệm vụ cách mạng: Hội nghị tháng 7/1936 xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Đông Dương là chống đế quốc và chống phong kiến; nhiệm vụ trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình. Như vậy Hội nghị đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu chiến lược của cách mạng, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc, mối quan hệ giữa cách mạng Đông Dương và phong trào cách mạng thế giới. - Về tập hợp lực lượng cách mạng: Hội nghị tháng 7/1936 chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất Nhân dân phản đế Đông Dương (từ tháng 3/1938 đổi tên thành Mặt trận Thống nhất dân chủ Đông Dương) nhằm đoàn kết các giai cấp, đảng phái, đoàn thể chính trị, xã hội, dân tộc và tôn giáo khác nhau vào cuộc đấu tranh chung. Như vậy Hội nghị đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa liên minh công nông và việc thành lập mặt trận dân tộc để tập hợp lực lượng rộng rãi. Với những chủ trương trên, Hội nghị tháng 7/1936 của BCH TW Đảng đã bước đầu khắc phục những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10/1930 về xác định nhiệm vụ là lực lượng cách mạng. - Chủ trương của Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 6 (tháng 11/1939) đã khắc phục một cách căn bản những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10/1930: + Về xác định nhiệm vụ cách mạng: Hội nghị BCH TW Đảng tháng 11/1939 đã chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; tạm gác khẩu hiện cách mạng ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, lãi nặng; thay khẩu hiệu thành lập chính quyền Xô viết công – nông – binh bằng khẩu hiệu thành lập chính quyền dân chủ cộng hòa. + Về tập hợp lực lượng cách mạng: Hội nghị BCH TW Đảng tháng 11/1939 chủ trương tập hợp mọi lực lượng yêu nước trong Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương. => Với những chủ trương trên, Hội nghị tháng 11/1939 khắc phục một cách căn bản những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10/1930, đưa nhân dân ta bước vào thời kì trực tiếp vận động giải phóng dân tộc (1939 – 1945). - Chủ trương của Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 8 (tháng 5/1941) đã hoàn thành việc khắc phục những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10/1930: + Về xác định nhiệm vụ cách mạng: Hội nghị BCH TW Đảng tháng 5/1941 đã khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và nhấn mạnh đây là nhiệm vụ bức thiết nhất và chỉ rõ quyền lợi của mọi bộ phận và giai cấp phải đặt dưới sự tồn vong của quốc gia dân tộc; Hội nghị tiếp tục tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ thực hiện khẩu hiệu giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công. Đồng thời Đảng chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương. + Về xác định lực lượng cách mạng: Hội nghị BCH TW Đảng tháng 5/1941 quyết định thành lập ở mỗi nước Đông Dương một mặt trận riêng. Ở Việt Nam, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) được thành lập, là mặt trận đoàn kết dân tộc Việt Nam, tập hợp rộng rãi mọi người dân Việt Nam có lòng yêu nước thương nòi, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn, giáo, tín ngưỡng,... Đảng đã đánh giá đúng khả năng cách mạng của tầng lớp tiểu tư sản, khả năng chống đế quốc và chống phong kiến ở mức độ
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 7 nhất định của tư sản dân tộc, khả năng lôi kéo bộ phận trung, tiểu địa chủ tham gia mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc và tay sai. => Với những chủ trương mới của Hội nghị tháng 5/1941, những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10/1930 đã được khắc phục triệt để. Đồng thời chủ trương của Hội nghị tháng 5/1941 cũng khẳng định lại tính đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Việc khắc phục hoàn toàn nhũng hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10/1930 là sự chuẩn bị quan trọng về đường lối để đưa đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 sau này. Câu 6: So sánh những điểm giống và khác nhau của Luận cương chính trị tháng 10/1930 với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (2/1930)? Vì sao có sự khác nhau đó? Hướng dẫn trả lời: a. So sánh Cương lĩnh chính trị dầu tiên của Đảng (tháng 2/1930) với Luận cương chính trị (tháng 10/1930): * Giống nhau: - Cả hai văn kiện đều xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam: Cách mạng Việt Nam sẽ trải qua hai giai đoạn: trước làm cách mạng tư sản dân quyền, sau làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. - Cả hai văn kiện đều xác đinh cách mạng Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân mà đội tiên phong chính là Đảng Cộng sản; Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng. - Cả hai văn kiện đều khẳng định cách mạng Việt Nam là một bộ phận gắn bó khăng khít với cách mạng thế giới, cần đoàn kết với giai cấp vô sản Pháp và các dân tộc bị áp bức. * Khác nhau: - Về nội dung cách mạng tư sản dân quyền: + Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là làm tư sản dân quyền cách mệnh và thổ địa cách mệnh để đi tới xã hội cộng sản. + Luận cương chính trị tháng 10/1930 xác định Cách mạng Đông Dương lúc đầu là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, sau đó tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kì tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa. Như vậy, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, tư sản dân quyền cách mạng không bao gồm nhiệm vụ cách mạng ruộng đất mà chỉ thực hiện nhiệm vụ chống đế quốc, giành độc lập dân tộc, tức là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Còn trong Luận cương chính trị, tư sản dân quyền cách mạng bao gồm cả nhiệm vụ giải phóng dân tộc và nhiệm vụ cách mạng ruộng đất. - Về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến: + Cương lĩnh chính trị đầu tiên: Xác định nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ đế quốc Pháp, bọn phong kiến và tư sản phản cách mạng, làm cho nước Việt Nam được độc lập tự do, thành lập Chính phủ công nông binh; tổ chức quân đội công nông; tịch thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc, tịch thu ruộng đất của đế quốc và phản cách mạng chia cho dân cày nghèo, tiến hành cách mạng ruộng đất. Như vậy Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng xác định nhiệm vụ cách mạng bao gồm cả hai nội dung dân tộc và dân chủ (chống đế quốc và chống phong kiến) nhưng nổi lên hàng đầu là chống đế quốc và giành độc lập dân tộc. + Luận cương chính trị tháng 10/1930: Xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là đánh đế quốc và đánh phong kiến, hai nhiệm vụ này có mối quan hệ khăng khít với nhau. Tuy nhiên Luận cương nhấn mạnh „vấn đề thổ địa là cái cốt cách của cách mạng tư sản dân quyền“, tức là Luận cương đã không đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc (đánh đế quốc) lên hàng đầu mà đặt nhiệm vụ đánh phong kiến lên hàng đầu, nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất. - Về tập hợp lực lượng cách mạng: + Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định lực lượng cách mạng là công nhân, nông dân, tiểu tư sản trí thức; còn đối với phú nông, trung – tiểu địa chủ và tư sản dân tộc thì phải hết sức lợi dụng hoặc trung lập họ.
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 8 Như vậy lực lượng cách mạng được xác định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên là rất rộng lớn, đông đảo các giai cấp trong xã hội. Có thể thấy Cương lĩnh chính trị đầu tiên chủ trương tập hợp lực lượng toàn dân tộc, thể hiện tư tưởng đại đoàn kết dân tộc. + Luận cương chính trị tháng 10/1930 xác định động lực của cách mạng là công nhân, nông dân. Luận cương không thấy được khả năng cách mạng của tiểu tư sản; không thấy được khả năng chống đế quốc, chống phong kiến của tư sản dân tộc và khả năng phân hóa và lôi kéo một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ đi theo cách mạng. b. Nguyên nhân của sự khác nhau: - Do nhận thức thực tiễn: BCH TW Đảng tại Hội nghị tháng 10/1930 chưa nhận thức được mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội thuộc địa là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc đang bị áp bức với đế quốc xâm lược, nên không nhận thức được nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng là giải phóng dân tộc, không giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc. Từ đó, BCH TW Đảng tại Hội nghị tháng 10/1930 không thấy được mặt tích cực của tầng lớp tiểu tư sản, tư sản dân tộc, trung – tiểu địa chủ nên không coi họ là lực lượng cách mạng. - Sự khác biệt trong quá trình hoạt động, quá trình trải nghiệm của Nguyễn Ái Quốc và Trần Phú - Do ảnh hưởng của những tư tưởng tả khuynh, nhấn mạnh đấu tranh giai cấp đang tổn tại trong Quốc tế Cộng sản và một số Đảng cộng sản anh em lúc đó. - Về sau này, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đã từng bước khắc phục những hạn chế của Luận cương và đưa cách mạng tiến tới thành công. Câu 7: Trình bày và nhận xét về việc xác định nhiệm vụ cách mạng và lực lượng cách mạng trong Luận cương chính trị tháng 10/1930 và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (2/1930) của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hướng dẫn trả lời: (HS sử dụng Kiến thức cơ bản để trả lời) Câu 8: Phân tích ý nghĩa của phong trào cách mạng 1930 – 1931. Vì sao phong trào này được coi là cuộc tập dượt đầu tiên của Đảng và quần chúng cho Cách mạng tháng Tám 1945? Hướng dẫn trả lời: (HS sử dụng Kiến thức cơ bản để trả lời)
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 9 Bài 2: PHONG TRÀO DÂN CHỦ 1936 – 1939 A. KIẾN THỨC CƠ BẢN I. VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM 1936 – 1939 1. Tình hình chính trị a. Thế giới - Từ đầu những năm 30 của thế kỉ XX, các thế lực phát xít đã tạm thời thắng thế và lên cầm quyền ở một số nước (điển hình: Đức, Italia, Nhật Bản) và ráo riết chạy đua vũ trang, chuẩn bị chiến tranh thế giới. Sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh đã đe dọa nghiêm trọng nền hòa bình thế giới, vì thế nhiệm vụ cấp thiết của nhân dân thế giới lúc này là chống chủ nghĩa phát xít, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh. - Tháng 7/1935, Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản đã được tổ chức tại Mat-xcơ-va (Liên Xô). Đại hội xác định kẻ thù trước mắt là chủ nghĩa phát xít và nhiệm vụ trước mắt của phong trào cách mạng thế giới là chống chủ nghĩa phát xít, chống nguy cơ chiến tranh, bảo vệ hòa bình. Đại hội chủ trương thành lập mặt trận nhân dân rộng rãi ở các nước nhằm tập hợp lực lượng chống phát xít, chống chiến tranh. - Tháng 6/1936, Mặt trận nhân dân lên cầm quyền ở Pháp đã cho thi hành một số chính sách tiến bộ ở thuộc địa. Chính phủ của Mặt trận nhân dân Pháp còn cử phái viên sang điều tra tình hình và nới rộng một số quyền tự do, dân chủ tối thiểu ở các thuộc địa, trong đó có Đông Dương. Tình hình đó mở ra khả nanwg đấu tranh dân chủ công khai của phong trào cách mạng nước ta. b. Trong nước - Thực dân Pháp có một số nới lỏng trong chính sách cai trị của chúng ở Đông Dương: thả một số tù chính trị, nới lỏng các quyền tự do dân chủ, Chính phủ của Mặt trận nhân dân Pháp cử phái viên sang điều tra tình hình ở thuộc địa,... - Theo đó, ở trong nước nhiều đảng phái chính trị hoạt động, tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng. Trong đó ảnh hưởng và uy tín của Đảng Cộng sản Đông Dương là mạnh nhất. - Từ năm 1935, tổ chức cơ sở của Đảng Cộng sản Đông Dương và phong trào đấu tranh của quần chúng đã được phục hồi và sẵn sàng bước vào thời kì đấu tranh mới. 2. Tình hình kinh tế - xã hội a. Kinh tế - Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 vẫn tiếp diễn. Thực dân Pháp tập trung đầu tư khai thác thuộc địa để bù đắp những thiệt hại do khủng hoảng kinh tế. - Đây là giai đoạn kinh tế Việt Nam phục hồi và phát triển, tuy nhiên kinh tế Việt Nam vẫn lạc hậu và bị phụ thuộc vào kinh tế Pháp. b. Xã hội - Đời sống của các tầng lớp nhân dân gặp nhiều khó khăn (số công nhân thất nghiệp còn nhiều, nông dân không đủ ruộng cày, tư sản dân tộc có ít vốn nên chỉ lập được những công ti nhỏ, nhiều người trong giới tiểu tư sản trí thức thất nghiệp, đời sống bấp bênh,...) - yêu cầu của mọi tầng lớp xã hội là các quyền tự do, dân chủ, cải thiện đời sống. Vì thế, họ hăng hái tham gia phong trào đấu tranh đòi tự do, cơm áo dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. II. PHONG TRÀO DÂN CHỦ 1936 – 1939 1. Chủ trương của Đảng - Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 7/1936 a. Bối cảnh: - Sau phong trào cách mạng 1932 – 1935, Đảng và phong trào cách mạng được phục hồi, sẵn sàng bước vào giai đoạn đấu tranh mới. - Tháng 7/1936, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Thượng Hải (Trung Quốc) để định ra đường lối đấu tranh trong thời kì mới. b. Nội dung Hội nghị: Hội nghị xác định các nội dung cơ bản của cách mạng Đông Dương. Cụ thể:
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 10 - Kẻ thù trước mắt của nhân dân Đông Dương là bọn phản động Pháp ở thuộc địa và bọn tay sai không chịu thi hành những chính sách tiến bộ của Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp. - Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương là chống đế quốc và phong kiến (không thay đổi). - Nhiệm vụ trực tiếp, trước mắT là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình. - Phương pháp đấu tranh là kết hợp các hình thức đấu tranh công khai và bí mật, hợp pháp và bất hợp pháp, đấu tranh chính trị, hòa bình. - Tập hợp lực lượng: Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất Nhân dân phản đế Đông Dương nhằm đoàn kết các giai cấp, đảng phái, đoàn thể chính trị, xã hội, dân tộc và tôn giáo khác nhau. - Tiếp đó, Hội nghị Trung ương trong các năm 1937 và 1938 đã bổ sung và phát triển nội dung cơ bản Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 7/1936. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 3/1938, Mặt trận Thống nhất Nhân dân phản đế Đông Dương đổi thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương. 2. Những phong trào đấu tranh tiêu biểu a. Những sự kiện tiêu biểu * Phong trào Đông Dương Đại hội: - Giữa năm 1936, Mặt trận Nhân dân Pháp giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử, tháng 6/1936 chính phủ của Mặt trận Nhân dân được thành lập, ban hành một số chính sách mới đối với các thuộc địa. - Được tin Quốc hội Pháp cử phái đoàn sang điều tra tình hình Đông Dương, Đảng đã vận động nhân dân thảo ra bản “dân nguyện”, gửi tới phái đoàn của Quốc hội Pháp, tiến tới triệu tập Đông Dương Đại hội vào tháng 8/1936. - Phong trào khởi đầu ở Nam Kì, sau đó lan ra Bắc Kì và Trung Kì, thu hút đông đảo quần chúng và các đảng phái chính trị tham gia; hình thức đấu tranh phong phú như thành lập nhiều Ủy ban hành động, phát truyền đơn, ra báo chí, hội họp, thảo luận về yêu cầu dân chủ, dân sinh,... - Các cuộc đấu tranh của nông dân đòi giảm tô, giảm tức; các cuộc đấu tranh của tiểu thương ở các đô thị đòi giảm thuế chợ, thuế hàng,... Năm 1937, Đảng quyết định lập Đoàn Thanh niên phản đế thay cho Hội cứu tế đỏ, thành lập Hội cấy, Hội cày, Hội hiếu hỉ,... - Qua phong trào này, quần chúng nhân dân được giác ngộ, đoàn kết đấu tranh. Đảng thu được nhiều kinh nghiệm về phát động và lãnh đạo quần chúng đấu tranh công khai, hợp pháp. * Phong trào đón Gô-đa và Brê-vi-ê: Năm 1937, lợi dụng sự kiện đón Gô-đa và Brê-vi-ê, Đảng đã tổ chức quần chúng mít tinh “đón rước”, biểu dương lực lượng, đưa yêu sách về dân sinh, dân chủ. * Các cuộc đấu tranh của công nhân: - Năm 1936 có 236 cuộc đấu tranh của công nhân. Tiêu biểu là các cuộc bãi công của công nhân Hòn Gai, Cẩm Phả, Mông Dương đò tăng lương 25%. - Năm 1937 có 400 cuộc bãi công của công nhân. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của công nhân xe lửa Nam Đông Dương (tháng 7), cuộc đấu tranh của công nhân mỏ than Vàng Danh (tháng 9). Có 15 cuộc đấu tranh của nông dân đòi giảm tô, giảm tức,... Ở các đô thị, phong trào đòi giảm thuế chợ, thuế hàng diễn ra sôi nổi. - Năm 1938 có 131 cuộc bãi công của công nhân, những cuộc đấu tranh có chất lượng cao hơn trước. Đặc biệt là cuộc đấu tranh ngày 1/5/1938 ở Hà Nội và nhiều thành phố khác. Lần đầu tiên ở Đông Dương, ngày Quốc tế lao động được tổ chức kỉ niệm công khai, tiêu biểu là lễ kỉ niệm được tổ chức tại khu Đấu Xảo (Hà Nội) đã thu hút 2,5 vạn người tham gia. - Năm 1939, các phong trào tiếp tục diễn ra, chủ yếu tập trung ở các trung tâm công nghiệp lớn như Hà Nội, Sài Gòn – Chợ Lớn. * Ngoài các phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ, Đảng còn thực hiện đấu tranh nghị trường và đấu tranh trên lĩnh vực báo chí (HS tham khảo sách giáo khoa). b. Nhận xét:
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 11 - Ưu điểm: + Đây là cuộc đấu tranh có quy mô rộng lớn khắp Bắc, Trung, Nam, từ thành thị đến nông thôn. Phong trào đấu tranh có tổ chức hết sức chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. + Lực lượng cách mạng: Có sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân như công nhân, nông dân, tư sản, trung – tiểu địa chủ,... đoàn kết trong một mặt trận dân tộc thống nhất. + Phương pháp đấu tranh: Đấu tranh chính trị, hòa bình. + Hình thức đấu tranh phong phú: công khai, bán công khai, bí mật, hợp pháp, nửa hợp pháp. - Hạn chế: + Vấn đề công tác mặt trận, việc định ra hình thức tổ chức lúc đầu còn chưa phù hợp (đến năm 1938 mới đổi tên thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương để tập hợp đông đảo lực lượng...) + Đảng chủ trương giải quyết các vấn đề trước mắt: đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình. Như vậy khẩu hiệu đấu tranh chứa đựng nội dung cải cách dân chủ trong khuôn khổ chính quyền thực dân Pháp cho phép, chưa có những khẩu hiệu dân tộc thích hợp. 3. Tính chất, Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của phong trào dân chủ 1936 – 1939 a. Tính chất: - Về đối tượng cách mạng: Phong trào dân chủ 1936 – 1939 nhằm vào kẻ thù của nhân dân ta lúc này là bọn phản động thuộc địa của Pháp, vì chúng không chịu thực hiện những chính sách mà Chính phủ nhân dân Pháp đã ban hành. Bọn phản động thuộc địa là bộ phận nguy hiểm nhất troeng toàn bộ thực dân Pháp ở Đông Dương, tức là bộ phận nguy hiểm nhất trong kẻ thù dân tộc. Chống lại bộ phận nguy hiểm nhất trong kẻ thù dân tộc cho nên phong trào mang tính chất dân tộc. - Về mục tiêu đấu tranh: Phong trào dân chủ 1936 – 1939 là lúc Đảng tạm gác lại khẩu hiệu “độc lập dân tộc và cách mạng ruộng đất”, chủ trương đề ra mục tiêu đấu tranh đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình. Mục tiêu này tuy là những quyền dân chủ đơn sơ và chứa đựng nội dung cải cách dân chủ trong khuôn khổ chính quyền thực dân Pháp cho phép, nhưng cũng là quyền lợi của dân tộc và cũng phải đấu tranh từ tay kẻ thù dân tộc. Bởi vậy, phong trào dân chủ 1936 – 1939 vẫn mang tính chất dân tộc rộng rãi. Đây là phong trào thực hiện chiến lược của cách mạng dân tộc, dân chủ ở Việt Nam chứ không phải là một phong trào đấu tranh cải lương. - Về lãnh đạo: Phong trào dân chủ 1936 – 1939 là phong trào do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo thống nhất, quán triệt chủ trương của Quốc tế Cộng sản. - Về quy mô: Phong trào diễn ra trên quy mô rộng lớn, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia, với những hình thức tổ chức và đấu tranh phong phú, buộc Pháp phải nhượng bộ một số yêu sách của nhân dân về dân sinh, dân chủ. Đồng thời phong trào cũng là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới đấu tranh cho hòa bình, chống phát xít, chống chiến tranh. - Về lực lượng đấu tranh : Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (từ tháng 3/1938 là Mặt trận Dân chủ Đông Dương) đã tập hợp lực lượng hết sức rộng rãi, từ quần chúng cơ bản (công nhân, nông dân) đến các tầng lớp trên (tư sản dân tộc, trng – tiểu địa chủ, tiểu tư sản trí thức) và cả một bộ phận những người Pháp có xu hướng chống phát xít ở Đông Dương (tức là có cả những người ngoài lực lượng dân tộc). Như vậy lực lượng đông đảo nhất được tập hợp trong Mặt trận Dân chủ Đông Dương là lực lượng dân tộc. Vì thế cuộc vận động dân chủ 1936 – 1939 mang tính chất dân tộc. - Về kết quả - ý nghĩa: Phong trào dân chủ 1936 – 1939 đã chuẩn bị về lực lượng, trận địa để tiến lên làm các mạng giải phóng dân tộc ở giai đoạn sau. Vì thế nó mang tính dân tộc sâu sắc. => Như vậy có thể thấy: Phong trào dân chủ 1936 – 1939 là một cuộc vận động dân chủ nhưng vẫn mang tính dân tộc rất rõ nét. b. Ý nghĩa lịch sử: - Phong trào dân chủ 1936 – 1939 là một bước chuẩn bị lực lượng quan trọng để tiến lên làm cách mạng giải phóng dân tộc ở giai đoạn sau. Qua phong trào, quần chúng được tuyên truyền, giác ngộ về chính trị, được rèn luyện qua thực tiễn đấu tranh, tham gia vào mặt trận dân tộc thống nhất và trở thành đội quân
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 12 chính trị hùng hậu của cách mạng. Đó là lực lượng cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945. - Qua phong trào, trình độ chính trị và công tác của cán bộ, đảng viên được nâng cao một bước, đội ngũ đảng viên có sự phát triển về số lượng và trưởng thành. - Qua lãnh đạo đấu tranh, uy tín và ảnh hưởng của Đảng được mở rộng. Đường lối đấu tranh của Đảng, chủ nghĩa Mác – Lênin được phổ biến, tuyên truyền ngày càng sâu rộng trong nhân dân. Đảng trưởng thành một bước về chỉ đạo chiến lược, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu trong tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh - Các tổ chức của Đảng và mặt trận được củng cố và phát triển. c. Bài học kinh nghiệm: - Phong trào dân chủ 1936 – 1939 để lại nhiều bài học về xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất; tổ chức, vận động quần chúng đấu tranh bằng nhiều hình thức đấu tranh công khai, bí mật, hợp pháp, nửa hợp pháp, ; kết hợp mục tiêu chiến lược với mục tiêu trước mắt của cách mạng, - Đồng thời, Đảng thấy được hạn chế trong công tác mặt trận, vấn đề dân tộc. * Kinh nghiệm quý báu nhất trong phong trào dân chủ 1936 – 1939 : Đề ra đường lối cách mạng tiến công, triệt để lợi dụng mọi khả năng, hình thức hợp pháp nhằm động viên, giáo dục và tổ chức đội quân chính trị của quần chúng đấu tranh trong một mặt trận dân chủ rộng rãi. => Với tất cả kết quả, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm đó, phong trào dân chủ 1936 – 1939 là cuộc tổng diễn tập lần thứ hai chuẩn bị cho thành công của cách mạng tháng Tám 1945. B. MỘT SỐ CÂU HỎI ÔN TẬP : Câu 1: Phong trào dân chủ 1936 – 1939 diễn ra trong bối cảnh lịch sử như thế nào (Phân tích điều kiện lịch sử của phong trào dân chủ 1936 – 1939)? Phân tích ý nghĩa và vị trí của phong trào? Câu 2: Phân tích những nội dung của Hội nghị BCH TW Đảng tháng 7/1936. Theo em chủ trương của Hội nghị đã khắc phục những hạn chế nào trong Luận cương chính trị tháng 10/1930 của Đảng Cộng sản Đông Dương? Hướng dẫn trả lời: a. Phân tích những nội dung của Hội nghị BCH TW Đảng tháng 7/1936 (HS tìm nội dung trả lời ở trên) b. Chủ trương của Hội nghị tháng 7/1936 đã bước đầu khắc phục những hạn chế trong Luận cương tháng 10/1930. Cụ thể: - Về nhiệm vụ cách mạng: + Luận cương chính trị của Đảng tháng 10/1930 nêu nhiệm vụ cách mạng là đánh đổ phong kiến và đế quốc. Như vậy Luận cương chưa nêu được mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Đông Dương, không đưa ngọn cờ dân tộc lên hàng đầu mà nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất. + Hội nghị tháng 7/1936 xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Đông Dương là chống đế quốc và chống phong kiến; nhiệm vụ trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình. Như vậy Hội nghị đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu chiến lược của cách mạng, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc, mối quan hệ giữa cách mạng Đông Dương và phong trào cách mạng thế giới. - Về lực lượng cách mạng: + Luận cương chính trị của Đảng tháng 10/1930 nêu rõ lực lượng cách mạng là công nhân và nông dân. Như vậy Luận cương đã không đánh giá đúng khả năng cách mạng của giai cấp tiểu tư sản, khả năng chống đế quốc và phong kiến ở mức độ nhất định của giai cấp tư sản dân tộc, khả năng lôi kéo trung – tiểu địa chủ tham gia vào mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc và tay sai.
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 13 + Hội nghị tháng 7/1936 chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất Nhân dân phản đế Đông Dương nhằm đoàn kết các giai cấp, đảng phái, đoàn thể chính trị, xã hội, dân tộc và tôn giáo khác nhau vào cuộc đấu tranh chung. Như vậy Hội nghị đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa liên minh công nông và việc thành lập mặt trận dân tộc để tập hợp lực lượng rộng rãi. Câu 3: Trình bày những sự kiện tiêu biểu trong cuộc đấu tranh đòi các quyền Tự do, dân sinh, dân chủ ở Việt Nam trong những năm 1936 – 1939? Nêu nhận xét về phong trào đấu tranh đó? Câu 4: Phân tích tính chất, ý nghĩa và những bài học kinh nghiệm của phong trào dân chủ 1936 – 1939? Theo em kinh nghiệm quý báu nhất trong phong trào là gì? Câu 5: Hãy chứng minh Phong trào dân chủ 1936 – 1939 là một phong trào mang tính dân Tộc sâu sắc? Câu 6: Tại sao phong trào dân chủ 1936 – 1939 được coi là cuộc Tổng diễn Tập lần thứ hai chuẩn bị cho thành công của cách mạng tháng Tám 1945?
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 14 Bài 3: PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM (1939 – 1945). NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA RA ĐỜI A. KIẾN THỨC CƠ BẢN I. VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI (1939 – 1945) 1. Tình hình chính trị a. Thế giới: - Đầu tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức, thực hiện chính sách thù địch đối với các lực lượng tiến bộ trong nước và phong trào cách mạng ở thuộc địa. - Ở Đông Dương, Pháp thực hiện chính sách vơ vét sức người sức của để dốc vào cuộc chiến tranh. b. Trong nước: - Tháng 9/1940, quân Nhật tràn vào miền Bắc Việt Nam, thực dân Pháp nhanh chóng đầu hàng. Nhật giữ nguyên bộ máy thống trị của Pháp, dùng nó để vơ vét kinh tế phục vụ cho chiến tranh, đàn áp cách mạng. - Ở Việt Nam, các đảng phái thân Nhật ra sức tuyền truyền lừa bịp về văn minh, sức mạnh Nhật Bản, Thuyết “Đại Đông Á”, dọn đường cho Nhật hất cẳng Pháp sau này. - Bước sang năm 1945, ở châu Âu, phát xít Đức thất bại nặng nề; ở châu Á – Thái Bình Dương, quân Nhật cũng liên tiếp thua trận. Ở Đông Dương, ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp. Lợi dụng cơ hội đó, các đảng phái chính trị ở Việt Nam tăng cường hoạt động. Quần chúng nhân dân sôi sục khí thế, sẵn sàng khởi nghĩa. 2. Tình hình kinh tế - xã hội: a. Về kinh tế: Pháp – Nhật bắt tay nhau vơ vét, bóc lột nhân dân ta. - Chính Sách của Pháp: Thi hành chính sách “kinh tế chỉ huy”, tăng thuế cũ, đặt thêm thuế mới, sa thải công nhân, viên chức, giảm tiền lương, tăng giờ làm. - Chính Sách của Nhật: Cướp ruộng đất của nông dân, bắt nông dân nhổ lúa, ngô để trồng đay, thầu dầu để phục vụ chiến tranh; yêu cầu Pháp xuất các nguyên liệu chiến tranh sang Nhật Bản với giá rẻ; chú trọng đầu tư vào những ngành phục vụ cho nhu cầu quân sự như khai thác măng-gan, khai thác sắt, b. Về xã hội: - Chính sách bóc lột của Pháp – Nhật đã đẩy nhân dân ta tới chỗ cùng cực, “một cổ hai tròng”. Cuối năm 1944 – đầu năm 1945, có gần 2 triệu đồng bào ta bị chết đói. - Các giai cấp, tầng lớp ở nước ta đều bị ảnh hưởng bởi chính sách bóc lột của Pháp – Nhật, mâu thuẫn dân tộc lên cao hơn bao giờ hết. => Những chuyển biến của tình hình thế giới và trong nước đặt ra cho Đảng ta nhiệm vụ phải nắm bắt và đánh giá chính xác tình hình, đề ra đường lối đấu tranh phù hợp nhằm đưa nhân dân ta vào thời kì trực tiếp vận động cứu nước. II. PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TỪ THÁNG 9/1939 ĐẾN THÁNG 3/1945 1. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11/1939 a. Hoàn cảnh: - Tháng 11/1939, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì. b. Nội dung Hội nghị: - Xác định nhiệm vụ, mục tiêu trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. - Chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của thực dân đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi của dân tộc, chống tô cao, lãi nặng; thay khẩu hiệu lập chính quyền Xô viết công nông binh bằng khẩu hiệu lập Chính phủ dân chủ cộng hòa.
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 15 - Mục tiêu, phương pháp đấu tranh: Đảng quyết định chuyển từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ sang đấu tranh đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai; từ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật, bất hợp pháp. - Tập hợp lực lượng: Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương. c. Ý nghĩa: Hội nghị đã đánh dấu bước chuyển hướng đấu tranh quan trọng của Đảng – đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đưa nhân dân ta bước vào thời kì trực tiếp vận động cứu nước. 2. Những cuộc đấu tranh mở đầu thời kì mới - Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (27/9/1940) - Cuộc khởi nghĩa Nam Kì (23/11/1940) - Cuộc binh biến Đô Lương (13/1/1941) => Ý nghĩa: - Nêu cao tinh thần bất khuất của dân tộc. - Đó là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng vũ lực của các dân tộc Đông Dương. 3. Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (5/1941) a. Hoàn cảnh: - Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Người đã chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 tại Pác Pó (Cao Bằng) từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941. b. Nội dung Hội nghị: - Khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. - Chủ trương Tiếp tục tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, nêu khẩu hiệu giảm tô, giảm thuế, chia lại ruộng công, tiến tới thực hiện người cày có ruộng. - Tập hợp lực lượng: Quyết định thành lập Măt trận Việt Nam Độc lập đồng minh (Mặt trận Việt Minh) thay cho mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, thay tên các Hội Phản đế thành Hội Cứu quốc và giúp đỡ Lào, Campuchia thành lập mặt trận. Ngày 19/5/1941, Mặt trận Việt Minh ra đời. - Xác định hình thái của cuộc khởi nghĩa: đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa, xúc tiến công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang và nhấn mạnh: chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân. - Hội nghị chính thức bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới do đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư. c. Ý nghĩa: Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 đã hoàn chỉnh chủ trương được đề ra tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 11/1939 nhằm giải quyết mục tiêu số một của cách mạng là dân tộc giải phóng và đề ra nhiều chủ trương sáng tạo để thực hiện mục tiêu ấy. - Ngày 19/5/1941, Việt Nam Độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) ra đời. Năm tháng sau, Tuyên ngôn, Chương trình, Điều lệ Việt Minh được công bố chính thức. Chương trình cứu nước của Việt Minh được đông đảo các tầng lớp nhân dân ủng hộ. 4. Công cuộc tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền a. Bước đầu xây dựng lực lượng cho cuộc khởi nghĩa vũ trang * Xây dựng lực lượng chính trị: - Nhiệm vụ cấp bách là vận động quần chúng tham gia Việt Minh. Cao Bằng là nơi thí điểm xây dựng các hội Cứu quốc. Năm 1942, khắp các châu của Cao Bằng đều có các hội Cứu quốc. Ủy ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng và Ủy ban Việt Minh lâm thời liên tỉnh Cao – Bắc – Lạng được thành lập.
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 16 - Ở Bắc Kì và một số tỉnh Trung Kì, các hội Phản đế chuyển thành các hội Cứu quốc, nhiều hội Cứu quốc mới được thành lập. - Năm 1943, Đảng đề ra bản “Đề cương văn hóa Việt Nam” - Năm 1944, Đảng Dân chủ Việt Nam và Hội Văn hóa Cứu quốc Việt Nam được thành lập và đứng trong Mặt trận Việt Minh. - Đảng cũng tăng cường vận động binh lính người Việt trong quân đội Pháp và ngoại kiều ở Đông Dương chống phát xít. - Báo chí của Đảng và Mặt trận Việt Minh đã góp phần vào việc tuyên truyên đường lối chính sách của Đảng, đấu tranh chống lại các thủ đoạn chính trị, văn hóa của địch. * Xây dựng lực lượng vũ trang: - Sau khởi nghĩa Bắc Sơn (cuối năm 1940), đội du kích Bắc Sơn được thành lập, hoạt động tại căn cứ Bắc Sơn – Võ Nhai. Năm 1941, các đội du kích Bắc Sơn thống nhất thành Trung đội Cứu quốc quân số I (2/1941), phát động chiến tranh du kích trong 8 tháng (từ tháng 7/1941 đến tháng 2/1942), hoạt động chủ yếu ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn. Tháng 9/1941, Trung đội Cứu quốc quân số II ra đời. - Ở Cao Bằng, cuối năm 1941 Nguyễn Ái Quốc đã quyết định thành lập đội tự vệ vũ trang, tổ chức các lớp huấn luyện chính trị - quân sự . * Xây dựng căn cứ địa cách mạng: - Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 11/1940 chủ trương xây dựng Bắc Sơn – Võ Nhai thành căn cứ địa cách mạng. - Năm 1941, sau khi về nước, Nguyễn Ái Quốc chọn Cao Bằng để xây dựng căn cứ địa dựa trên cơ sở lực lượng chính trị được tổ chức và phát triển. - Đó là hai trung tâm căn cứ địa đầu tiên của cách mạng nước ta. b. Gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền: - Đầu năm 1943, cuộc Chiến tranh thế giới chuyển biến có lợi cho cách mạng. - Từ 25 đến 28/2/1943, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại Võng La (Đông Anh, Phúc yên), vạch ra kế hoạch chuẩn bị toàn diện cho khởi nghĩa vũ trang. Khắp nông thôn, thành thị Bắc Kì, các đoàn thể Việt Minh, các hội Cứu quốc được thành lập. - Tại các tỉnh vùng núi phía Bắc, công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa diễn ra khẩn trương. Ở Bắc Sơn – Võ Nhai, Trung đội Cứu quốc quân số III ra đời (2/1944). - Ở Cao Bằng, các đội tự vệ vũ trang và du kích được thành lập. Năm 1943, 19 ban “Xung phong Nam tiến” được lập ra để liên lạc với căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai và phát triển lực lượng xuống miền xuôi. - 7/5/1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị cho các cấp “Sửa soạn khởi nghĩa”. Và kêu gọi nhân dân “sắm vũ khí đuổi thù chung”. - Ngày 22/12/1944, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập. Hai ngày sau, Đội đã đánh thắng hai trận liên tiếp ở Phay Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng). Căn cứ Cao – Bắc – Lạng được củng cố và mở rộng. - Giữa tháng 5/1945, Hai đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân hợp nhất thành Việt Nam giải phóng quân. Công cuộc chuẩn bị vẫn tiếp tục cho đến ngày Tổng khởi nghĩa. - Từ ngày 15 đến 20/4/1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam và Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp. - Trong tháng 5/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Pắc Bó (Cao Bằng) về Tân Trào (Tuyên Quang). Người chọn Tân Trào làm trung tâm chỉ đạo phong trào cách mạng cả nước. - Ngày 4/6/1945, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập. Tân Trào được chọn làm Thủ đô Khu giải phóng. Ủy ban lâm thời khu giải phóng được thành lập. Khu giải phóng Việt Bắc trở thành căn cứ địa chính của cách mạng cả nước và là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới. III. KHỞI NGHĨA VŨ TRANG GIÀNH CHÍNH QUYỀN
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 17 1. Khởi nghĩa Từng phần (từ tháng 3 đến giữa tháng 8/1945) và tác dụng của cao trào kháng Nhật cứu nước đối với Tổng khởi nghĩa a. Hoàn cảnh lịch sử * Thế giới: Đầu năm 1945, trên đường Hồng quân Liên Xô tiến đánh Béc-lin (sào huyệt cuối cùng của phát xít Đức), một loạt các nước châu Âu được giải phóng, trong đó có Pháp (8/1944). Ở châu Á – Thái Bình Dương, quân Nhật thất bại nặng nề. * Ở Đông Dương: - Từ khi Nhật vào Đông Dương (9/1940), Nhật và Pháp hòa hoãn với nhau, cấu kết với nhau để cùng cai trị nhân dân Đông Dương, nhưng đó chỉ là sự hòa hoãn tạm thời, vì hai tên đế quốc không thể chung một xứ thuộc địa. - Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Ở châu Âu, quân phát xít Đức liên tiếp thất bại nặng nề trước sự tấn công của quân Đồng minh. Phát xít Nhật cũng thất bại nặng nề ở châu Á – Thái Bình Dương. Trước tình hình đó, Pháp ráo riết hoạt động, chờ thời cơ phản công quân Nhật. Mâu thuẫn Nhật – Pháp trở nên gay gắt. Tối 9/3/1045, Nhật đảo chính Pháp, quân Pháp đầu hàng, phát xít Nhật độc chiếm Đông Dương, tăng cường vơ vét, bóc lột nhân dân ta và đàn áp dã man những người cách mạng. b. Chủ trương của Đảng: - Ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp, ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Bản chỉ thị nhận định: + Cuộc đảo chính đã tạo nên sự khủng hoảng chính trị sâu sắc, song những điều kiện tổng khởi nghĩa chưa chín muồi. + Kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là phát xít Nhật. + Khẩu hiệu “Đánh đuổi Pháp – Nhật” được thay bằng khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”. + Hình thức đấu tranh từ bất hợp tác, bãi công, bãi thị đến biểu tình, thị uy, vũ trang du kích và sẵn sàng chuyển qua tổng khởi nghĩa khi có điều kiện. + Quyết định “phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa”. c. Khởi nghĩa từng phần: - Ở căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân phối hợp với lực lượng chính trị quần chúng giải phóng nhiều xã, châu, huyện. Tại những nơi này, chính quyền cách mạng được thành lập, các hội Cứu quốc được củng cố và phát triển. - Ở Bắc Kì, khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói” thu hút hàng triệu người tham gia - Ở Quảng Ngãi, tù chính trị nhà lao Ba Tơ nổi dậy, lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa, thành lập chính quyền cách mạng (11/3), tổ chức đội du kích Ba Tơ. - Ở Nam Kì, phong trào Việt Minh hoạt động mạnh mẽ, nhất là ở Mĩ Tho và Hậu Giang. * Tác dụng: - Cao trào kháng Nhật cứu nước thể hiện tinh thần nỗ lực đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam, đồng thời góp sức cùng Đồng minh tiêu diệt chủ nghĩa phát xít. - Qua cao trào, lực lượng chính trị và vũ trang cả nước phát triển mạnh, trận địa cách mạng được mở rộng; đồng thời cao trào kháng Nhật cũng góp phần làm cho kẻ thù ngày càng suy yếu, tạo cho thời cơ Tổng khởi nghĩa mau chín muồi. - Là cuộc tập dượt lớn, có tác dụng chuẩn bị trực tiếp cho Tổng khởi nghĩa thắng lợi. - Là bước phát triển nhảy vọt, là tiền đề để toàn Đảng, toàn dân sẵn sàng, chủ động tiến lên chớp lấy thời cơ tiến hành Tổng khởi nghĩa và Tổng khởi nghĩa tháng Tám giành thắng lợi nhanh chóng, ít đổ máu. 2. Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 a. Nhật đầu hàng Đồng minh, lệnh Tổng khởi nghĩa được ban bố * Điều kiện khách quan
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 18 - Đầu tháng 8/1945, quân Đồng minh tiến công mạnh mẽ vào các vị trí của quân Nhật ở châu Á – Thái Bình Dương. Ngày 6 và 9/8/1945, Mĩ mém hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hirôsima và Nagasaki của Nhật Bản. - Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật, một tuần sau, Hồng quân Liên Xô tiêu diệt đạo quân Quan Đông của Nhật Bản ở Đông Bắc Trung Quốc. - Ngày 15/8/1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã. Chính phủ Trần Trọng Kim hoang mang lo sợ. Điều kiện khách quan có lợi cho Tổng khởi nghĩa đã đến. * Chủ trương của Đảng (điều kiện chủ quan) - Ngay từ ngày 13/8/1945, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, ban bố “Quân lệnh số 1” vào lúc 23 giờ cùng ngày, phát lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước. - Từ ngày 14 đến 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Tuyên Quang), quyết định phát động tổng khởi nghĩa trong cả nước giành chính quyền trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương, thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa và quyết định những vấn đề đối nội, đối ngoại sau khi giành được chính quyền. - Tiếp đó, từ ngày 16 đến ngày 17/8/1945, Đại hội Quốc dân ở Tân Trào tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách của Việt Minh, cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. b. Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 - Giữa tháng 8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào đã quyết định phát động tổng khởi nghĩa trong cả nước. - Từ ngày 14/8/1945, một số cấp bộ Đảng và tổ chức Việt Minh đã linh hoạt phát động nhân dân khởi nghĩa ở nhiều xã, huyện thuộc các tỉnh đồng bằng châu thổ sông Hồng, Thanh Hóa, Nghệ An, Khánh Hòa, - Chiều 16/8/1945, theo lệnh của Ủy ban Khởi nghĩa, một đơn vị Giải phóng quân do Võ Nguyên Giáp chỉ huy từ Tân Trào tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên, mở đầu cho cuộc tổng khởi nghĩa. - Ngày 18/8/1945, Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam là những địa phương giành chính quyền sớm nhất trong cả nước. * Giành chính quyền ở Hà Nội: - Chiều 17/8/1945, quần chúng nhân dân nội, ngoại thành tổ chức mít tinh tại Nhà hát lớn. Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội quyết định giành chính quyền vào ngày 19/8/1945. - Ngày 18/8, cờ đỏ sao vàng xuất hiện trên các đường phố chính. Khí thế khởi nghĩa của quần chúng ngày càng sôi sục. - Ngày 19/8, hàng vạn nhân dân xuống đường biểu dương lực lượng, chiếm Phủ Khâm sai Bắc Bộ, Sở Cảnh sát Trung ương, Sở Bưu điện, Tối 19/8/1945, khởi nghĩa thắng lợi. * Giành chính quyền ở Huế: Ngày 23/8/1945, hàng vạn nhân dân biểu tình thị uy, chiếm các công sở, giành chính quyền về tay nhân dân. * Giành chính quyền ở Sài Gòn: Sáng 25/8/1945, các đơn vị “Xung phong công đoàn”, “Thanh niên tiền phong”, công nhân, nông dân các tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Mĩ Tho kéo về thành phố, chiếm các công sở và giành chính quyền. - Đồng Nai Thượng và Hà Tiên là hai địa phương giành chính quyền muộn nhất vào ngày 28/8/1945. => Tổng Khởi nghĩa đã giành được thắng lợi trên cả nước chỉ trong vòng nửa tháng (14 - 28/8/1945). Thắng lợi ở các địa phương Hà Nội, Huế, Sài Gòn đã quyết định thắng lợi của Tổng khởi nghĩa trong cả nước. - Chiều 30/8, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị. Chế độ phong kiến Việt Nam hoàn toàn sụp đổ. IV. NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA ĐƯỢC THÀNH LẬP (2/9/1945)
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 19 1. Sự ra đời của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Trong lúc Cách mạng tháng Tám năm 1945 đang thắng lợi ở nhiều nơi, ngày 25/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam đã từ Tân Trào về đến Hà Nội. - Ngày 28/8/1945, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam cải tổ thành Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. - Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân và cả thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. 2. Nội dung bản Tuyên ngôn Độc lập - Khẳng định quyền độc lập tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm mà mọi dân tộc phải được hưởng, trong đó có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. - Khẳng định thắng lợi của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và phát xít Nhật: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa”. - Khẳng định ý chí sắt đá của nhân dân Việt Nam quyết giữ nền độc lập tự do vừa giành được: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và Sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”. => Nhận xét: Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử trọng đại, và ngày 2/9/1945 mãi đi vào lịch sử Việt Nam là một ngày hội lớn, vẻ vang của dân tộc Việt Nam – ngày tuyên bố thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. V. NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI, Ý NGHĨA LỊCH SỬ, TÍNH CHẤT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 1. Nguyên nhân thắng lợi: Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi là kết quả tổng hợp của những nhân tố khách quan và chủ quan. a. Nguyên nhân chủ quan - Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, từng trải qua nhiều cuộc đấu tranh kiên cương, bất khuất để giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do. Vì vậy, khi Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh giương cao ngọn cờ cứu nước thì toàn dân tộc nhất tề đứng dậy cứu nước, cứu nhà. - Có sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với quá trình chuẩn bị suốt 15 năm kể từ khi Đảng ra đời. - Đảng đã có quá trình chuẩn bị lâu dài, chu đáo, rút kinh nghiệm qua thực tiễn đấu tranh, đặc biệt là quá trình lãnh đạo việc chuẩn bị lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng trong giai đoạn vận động giải phóng dân tộc 1939 – 1945. - Trong những ngày khởi nghĩa toàn Đảng, toàn dân nhất trí, đồng lòng, quyết tâm giành độc lập tự do. Các cấp bộ Đảng và Việt Minh từ trung ương đến địa phương linh hoạt, sáng tạo trong chỉ đạo khởi nghĩa, chớp thời cơ phát động quần chúng nổi dậy đấu tranh giành chính quyền. b. Nguyên nhân khách quan - Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đã làm cho chủ nghĩa đế quốc suy yếu. Cuộc chiến đấu của nhân dân Liên Xô và lực lượng dân chủ đã từng bước làm thất bại lực lượng phát xít, thúc đẩy, cổ vũ các dân tộc thuộc địa đứng lên giải phóng. - Khi quân Đồng minh đánh bại phát xít Nhật, Nhật đầu hàng, phát xít Nhật ở Đông Dương và chính quyền tay sai của chúng hoang mang tê liệt. Đó là thời cơ "ngàn năm có một" cho nhân dân Việt Nam đứng lên tổng khởi nghĩa và giành thắng lợi nhanh chóng, ít đổ máu. 2. Ý nghĩa lịch sử
- Tài Liệu bồi dưỡng hsg môn Lịch sử - Phần LSVN (1930 – 1945) 20 a. Trong nước - Cách mạng tháng Tám 1945 là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình giành thắng lợi, đã phá tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm và phát xít Nhật gần 5 năm, đánh đổ chế độ phong kiến, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cách mạng tháng Tám thành công đã đưa nước ta từ một nước thuộc địa trở thành nước độc lập, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. - Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi đã đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: kỉ nguyên độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, kỉ nguyên nhân dân nắm chính quyền, làm chủ đất nước, kỉ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với phải phóng xã hội, giải phóng nhân dân lao động. - Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương từ chỗ phải hoạt động bí mật trở thành một Đảng cầm quyền và hoạt động công khai, từ chỗ hoạt động bất hợp pháp trở thành Đảng lãnh đạo chính quyền trong cả nước, chuẩn bị đều kiện cho những thắng lợi tiếp theo của cách mạng Việt Nam. b. Thế giới - Cách mạng tháng Tám 1945 là thắng lợi đầu tiên trong thời đại mới của một dân tộc nhỏ yếu đã tự mình giải phóng khỏi ách đô hộ của đế quốc thực dân và cũng là thắng lợi đầu tiên của Đảng vô sản ở một nước thuộc địa, giành được chính quyền cách mạng trong cả nước. Do đó Cách mạng tháng Tám đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh tự giải phóng của nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa trên thế giới, trong đó ảnh hưởng trực tiếp đến cách mạng Lào và Campuchia. - Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 cũng góp phần vào thắng lợi của nhân dân thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chọc thủng hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, góp phần làm suy yếu chúng, tạo điều kiện cho các dân tộc đứng lên tự giải phóng. 3. Tính chấT Tính chất của một cuộc cách mạng được quy định bởi nhiệm vụ mà nó giải quyết, lực lượng tham gia và kết quả mà nó mang lại. Cách mạng tháng Tám 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân Tộc, bởi vì : - Về nhiệm vụ cách mạng : Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (tháng 11/1939) và Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 5/1941), Đảng đã nhấn mạnh mâu thuẫn dân tộc (mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với đế quốc phát xít xâm lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu). - Về lực lượng cách mạng : Đảng chủ trương tập hợp mọi lực lượng dân tộc chống đế quốc – phát xít trong các tổ chức Mặt trận dân tộc thống nhất như Mặt trận Phản đế Đông Dương, Mặt trận Việt Minh. - Chính quyền giành được sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là chính quyền của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, giải quyết thành công vấn đề cơ bản của cuộc khởi nghĩa là vấn đề chính quyền. 4. Bài học kinh nghiệm * Về chỉ đạo chiến lược : - Đảng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, nắm bắt diễn biến của tình hình thế giới và tình hình trong nước để thay đổi chủ trương, sách lược cho phù hợp. - Trên cơ sở nắm vững nguyên lý về mối quan hệ giai cấp và dân tộc, luôn đề cao vấn đề dân tộc, tập trung mọi lực lượng của toàn dân tộc đấu tranh chống đế qu ốc và tay sai, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, độc lập dân tộc và cách mạng ruộng đất, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. * Về tập hợp, xây dựng lực lượng : Trên cơ sở nắm vững nguyên lý cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng đã tập hợp, tổ chức đoàn kết lực lượng cách mạng trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi trên cơ sở liên minh công - nông, tạo nên sức mạnh toàn dân, phân hóa và cô lập cao độ kẻ thù đế quốc và tay sai để đánh đổ chúng.



