Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 9 - Chuyên đề: Châu Á, Phi, Mỹ Latinh
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 9 - Chuyên đề: Châu Á, Phi, Mỹ Latinh", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
chuyen_de_boi_duong_hsg_mon_lich_su_lop_9_chuyen_de_chau_a_p.pdf
Nội dung text: Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch Sử Lớp 9 - Chuyên đề: Châu Á, Phi, Mỹ Latinh
- Câu 1. Phân tích những biến đổi về chính trị và kinh tế của khu vực Đông Bắc Á sau Chiến tranh thế giới thứ II. Sự biến đổi đó đã tác động đến quan hệ quốc tế trong thời kì Chiến tranh lạnh như thế nào? a) Biến đổi của Đông Bắc Á: * Biến đổi về chính trị - Trước Chiến tranh thế giới thứ II, Trung Quốc và Triều Tiên là thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Âu - Mỹ - Nhật Bản. - Từ sau Chiến tranh thế giới thứ II, Trung Quốc có sự biến đổi sâu sắc. + Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc dẫn tới sự ra đời của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1/10/1949). + Tuy nhiên, lãnh thổ Trung Quốc bị chia cắt: Hồng Kông, Ma Cao văn là thuộc địa của Anh, Bồ Đào Nha, phải đến những năm cuối của thập kỉ 90 vùng đất này mới được trở về với Trung Quốc: Hồng Kông (1997), Ma Cao (1999). Đài Loan là một bộ phận của lãnh thổ Trung Quốc, nhưng năm ngoái sự kiểm soát của nước này. - Bán đảo Triều Tiên bị chia cắt thành 2 nước do hậu quả của chiến tranh giữa hai phe. Những năm 50, 60 (thế kỉ XX), hai nhà nước ở trong tình trạng căng thẳng, đối đầu. Từ những năm 70, đặc biệt từ năm 1990 hai bên chuyến dẫn sang hòa dịu, đối thoại. Năm 2000, Hiệp định hòa bình giữa hai nước Triều Tiên được ki kết, mở ra thời kì mới cho sự thống nhất bản đảo. - Nhật Bản là nước bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai, bị Mỹ chiếm đóng theo chế độ quân quản. Nhật Bản nhanh chóng khôi phục kinh tế và dán thoát khỏi sự lệ thuộc vào Mĩ. * Biến đổi kinh tế - Trong nửa sau thế kỉ XX, khu vực Đông Bắc Á đã đạt sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế, từ nước nghèo nàn, lạc hậu hoặc bị chiến tranh tàn phá thì nay khu vực này có sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế. - Ba nước Đông Bắc Á (Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông) được đánh giá là con rồng kinh tế - những nước NICs. - Nhật Bản từ đóng đổ nát do chiến tranh, từ năm 1952 đến năm 1973, Nhật Bản trở thành một trong ba trung tâm kinh tế, tài chính thế giới; là nước có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. - Từ những năm 80, 90 của thế kỉ XX trở đi, nền kinh tế Trung Quốc có 2 tốc độ tăng trưởng nhanh và cao nhất thế giới, Trung Quốc trở thành nước có nào kinh tế lớn thứ tư trên thế giới. b) Tác động đến quan hệ quốc tế trong thời kì Chiến tranh lạnh - Cuộc nội chiến ở Trung Quốc (1946 – 1949) và cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 1953), làm cho cuộc Chiến tranh lạnh và sự đối đầu Đông – Tây đã trở lên quyết liệt và ngày càng mở rộng. Cuộc chiến tranh Triều Tiên là cuộc đụng đầu đầu tiên giữa hai phe TBCN và XHCN không phân thắng bại. - Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc và sự ra đời của nước Cộng hòa “Nhân dân Trung Hoa (1949) đã phá vỡ một khẩu quan trọng trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, làm mất đi phạm vi ảnh hưởng của Mĩ và Liên Xô ở khu vực này, qua đó làm xói mòn trật tự hai cực Ianta. - Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc góp phần tăng cường ảnh hưởng của lực lượng của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới; tác động mạnh đến phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Á, Phi và Mĩ Latinh. - Việc Trung Quốc trở thành Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (1972), góp phần cùng với Liên Xô tạo nên sự cân bằng quyền lực giữa phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trong tổ chức quốc tế này, qua đó góp phần duy trì hòa bình, an ninh thế giới, ngăn ngừa một cuộc chiến tranh thế giới mới. - Sự phát triển “thần kì" của nền kinh tế Nhật Bản làm cho Nhật Bản trở thành một trong ba trung tâm kinh tế, tài chính thế giới và hiện tượng trở thành “con rồng kinh tế” của Hàn Quốc, Đài Loan và Hồng Công không chỉ tác động đến nền kinh tế thế giới mà còn góp phần làm cho địa vị kinh tế Mĩ bị suy giảm. Câu 2. Tóm tắt cuộc nội chiến ở Trung Quốc (1946-1949) và sự thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Phân tích ý nghĩa lịch sử và tính chất của cuộc nội chiến đó. a) Sự ra dời của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa:
- - Sau khi kết thúc thắng lợi chống quân phiệt Nhật ở Trung Quốc đã diễn ra cuộc nội chiến giữa lực lượng của Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản, kéo dài trong 3 năm (1946 – 1949). - Ngày 20/7/1946, Tưởng Giới Thạch phát động nội chiến chống Đảng Cộng sản Trung Quốc, từ đây Đảng Cộng sản Trung Quốc đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc nội chiến cách mạng để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ. - Sau giai đoạn phòng ngự tích cực (từ 7/1946 đến 6/1947), quân giải Phóng Trung Quốc chuyển sang phản công và lần lượt giải phóng các vùng do Quốc dân Đảng chiếm đóng. - Cuối năm 1949 cuộc nội chiến kết thúc, toàn bộ lục địa Trung Quốc được giải phỏng. Lực lượng Tưởng Giới Thạch thất bại, chạy ra Đài Loan. - Ngày 1/10/1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập. b) Ý nghĩa lịch sử và tính chất: - Ý nghĩa: + Trong nước: Chấm dứt hơn 100 năm nô dịch và thống trị của đế quốc, xóa bỏ tàn dư phong kiến; đưa nước Trung Hoa vào kỉ nguyên độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội; đưa nhân dân Trung Quốc từ địa vị người nô lệ trở thành người làm chủ đất nước; đưa Đảng Cộng sản thành Đảng cầm quyền. + Đối với thế giới: Cách mạng Trung Quốc thành công Trung Quốc tuyên bố đi lên chủ nghĩa xã hội đã phá vỡ một khẩu quan trọng trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc; tạo điều kiện nối liên các nước xã hội chủ nghĩa từ châu Âu sang châu Á. Thắng lợi này cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới mà trước hết là các nước Đông Nam Á. - Tính chất: + Xét về đối tượng Cách mạng: Lực lượng Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch được Mỹ ủng hộ và làm hậu thuẫn. Nếu lực lượng này thắng thị đồng nghĩa với sự có mặt của Mỹ ở Trung Quốc, Mỹ sẽ có nhiều quyền lợi ở Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc sau khi thoát khỏi sự thống trị của Nhật lại rơi vào ách thống trị của Mỹ - Tưởng bởi hai lực lượng này cấu kết với nhau. Cuộc cách mạng đã nhằm vào kẻ thù chủ yếu là đế quốc Mỹ và tay sai của chúng do đó mang nhiệm vụ dân tộc. + Xét về nhiệm vụ cách mạng; nhằm lật đổ tập đoàn Tưởng Giới Thạch, cũng đồng nghĩa với việc xóa bỏ quyền lợi và ách nô dịch của Mỹ ở nước này. Mặt khác, sau thắng lợi của cách mạng nhân dân Trung Quốc xóa bỏ hoàn toàn những tàn tích phong kiến còn tồn tại ở Trung Quốc dưới chính quyền Tưởng Giới Thạch. Như vậy, cuộc cách mạng đã hoàn thành những nhiệm vụ chủ yếu của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ. + Xét về lực lượng tham gia cách mạng gồm dông đảo các tầng lớp nhân dân, chủ yếu là giai cấp công nhân và nông dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đây là lực lượng đông đảo nhất, đại diện của dân tộc. à Căn cứ vào đặc điểm nói trên, có thể gọi cuộc nội chiến cách mạng 1946 - 1949 ở Trung Quốc là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ. Câu 3 Nêu tiến trình, nội dung cơ bản và những thành tựu chính của Trung Quốc trong công cuộc cải cách - mở cửa ( từ năm 1978). Phân tích ý nghĩa của công cuộc cải cách đó. a) Công cuộc cải cách – mở cửa của Trung Quốc (từ năm 1978) - Tháng 12/1978, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc vạch ra đường lối mới do Đặng Tiểu Bình khởi xưởng, mở dấu cho công cuộc cái cách kinh tế - xã hội. Đường lối này được nâng lên thành Đường lối chung qua Đại hội XII (9/1982), Đại hội XIII (10/1987) của Đảng Cộng sản Trung Quốc. - Nội dung: + Lấy phát triển kinh tế làm trung tâm; tiến hành cải cách mở cửa chuyển nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa; nhằm hiện đại hóa và xây dựng xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc, biến Trung Quốc thành quốc gia giàu mạnh, dân chủ, văn minh. - Thành tựu: + Sau 20 năm cải cách, mở cửa (1978 - 1998), thành tựu nổi bật trong nền kinh tế là tốc độ tăng trưởng cao, GDP hàng năm tăng trung bình trên 8 %, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng bình quân của thế giới. Năm 2000 GDP vượt ngưỡng 1000 tỉ USD.
- + Thay đổi trong cơ cấu thành phần kinh tế, tạo ra cơ chế kinh tế nhiều thành phần. Cơ cấu các ngành kinh tế cũng thay đổi, công nghiệp và xây dựng đạt 51%, dịch vụ đạt 33%. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. + Khoa học kĩ thuật đạt thành tựu nổi bật, đặc biệt là khoa học vũ trụ: Năm 2003 phóng 4 tàu "Thần Châu" với chế độ tự động vào vũ trụ. Tháng 10/2003, tàu "Thần Châu 5" cùng nhà du hành Dương Lợi Vĩ bay vào vũ trụ, đánh dấu Trung Quốc trở thành một trong 3 nước trên thế giới có tàu cùng con người bay vào vũ trụ. + Chính trị: Trung Quốc thành công trong việc khôi phục và thể chế lãnh đạo của Đảng và Nhà nước theo nguyên tắc dân chủ. + Đối ngoại: Từ những năm 80, binh thường hóa về quan hệ ngoại giao với Liên Xô, Mông Cổ mở rộng sự hợp tác với nhiều nước; Năm 1997, Trung Quốc thu hồi chủ quyền đối với Hồng Công và năm 1999 thu hồi chủ quyền đối với Ma Can Đài Loan là một bộ phận lãnh thổ của Trung Quốc, nhưng đến nay vẫn nằm ngoài sự kiểm soát của nước này. b) Ý nghĩa - Thực hiện đường lối cải cách, Trung Quốc đã có những biến đổi căn bản, trở thành một cường quốc trong cuộc tranh đua vươn tới xác lập trật tự thế giới mới đa cực, thay thế cho trật tự hai cực Ianta đã tan rã (trong quan hệ quốc tế). - Trên cơ sở điều chính chính sách đối ngoại, Trung Quốc đã giữ được độc lập tự chủ, mở rộng quan hệ quốc tế, góp phần vào sự nghiệp chung của nhân dân thế giới trong cuộc đấu tranh vì hòa bình và phát triển. Vị thế của Trung Quốc được nâng cao tiến trường quốc tế. - Thành công của công cuộc cải cách - mở cửa của Trung Quốc để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho các nước xã hội chủ nghĩa tiến hành công cuộc đổi mới Câu 4 Trình bày hoàn cảnh lịch sử và nêu khái quát cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới thứ hai. a) Hoàn cảnh lịch sử - Trong chiến tranh thế giới II, các nước thuộc khu vực châu Á là nơi tập trung nhiều mâu thuẫn cơ bản nhất, khâu yếu nhất trong dây chuyển của chú nghĩa đế quốc. Cũng ở khu vực này, mâu thuẫn dân tộc, giai cấp chằng chéo và trở nên hết sức căng thẳng trong giai đoạn chuẩn bị kết thúc chiến tranh. - Trong giai đoạn kết thúc chiến tranh thế giới, các lực lượng xã hội như giai cấp tư sản dân tộc và vô sản đã lớn mạnh. Giai cấp tư sản dân tộc không ngừng lớn mạnh, ở nhiều nước họ đã lãnh đạo phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân và giành thắng lợi. Trong khi đó, giai cấp vô sản đông về số lượng trưởng thành về ý thức với sự xuất hiện hàng loạt các Đảng Cộng sản. Một số Đảng Cộng sản ở các nước đã nắm ngọn cờ lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc. - Sự kết thúc chiến tranh thế giới II với thắng lợi của Liên Xô và lực lượng dân chủ, cùng với nó là sự thất bại của chủ nghĩa phát xít, quân phiệt. Bản thân các nước đế quốc có nhiều thuộc địa (Anh, Pháp, Hà Lan) trong thời kì chiến tranh đã bị lực lượng phát xít giáng đòn chí tử không những ở chính quốc mà ở ngay các nước thuộc địa. Đây là điều kiện khách quan thuận lợi cho sự bùng nổ phong trào giải phóng dân tộc sau chiến tranh. - Sau Chiến tranh thế giới II, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã hình thành. Đây là chỗ dựa vững chắc cho phong trào giải phóng dân tộc. - Sự lớn mạnh và phát triển của phong trào cộng sản công nhân quốc tế, của các lực lượng dân chủ hòa bình đã tác động thuận lợi đến phong trào giải phóng dân tộc. - Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các nước đế quốc trong phe đồng minh được vào giải giáp quân đội Nhật. Với bản chất để quốc, chúng sẽ đàn áp phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc Đông Nam Á. b) Quá trình đấu tranh giành độc lập - Đông Nam Á là khu vực rộng 4,5 triệu km, dân số 528 triệu người (năm 2000), hiện nay gồm 11 nước. Trước Chiến tranh thế giới II, hầu hết các nước trong khu vực (trừ Thái Lan) đều là thuộc địa của các đế quốc Âu - Mĩ. Khi chiến tranh bùng nổ, Nhật Bản xâm chiếm cả vùng Đông Nam Á, thiết lập trật tự phát xít ở đây. Từ cuộc đấu tranh chống thực dân Âu - Mĩ, nhân dân Đông Nam Á chuyển sang cuộc đấu tranh chóng quân phiệt Nhật Bản, giải phóng đất nước.
- - Tận dụng thời cơ Nhật Bản đầu hàng đồng minh (8 - 1945), nhiều nước đã đứng lên giành độc lập hoặc đã giải phóng phần lớn lãnh thổ khỏi quân Nhật. + Ngày 17/8/1945, Inđônêxia tuyên bố độc lập và thành lập nước Cộng hòa Inđônêxia. + Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam thành công dẫn tới sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945). + Tháng 8/1945, nhân dân các bộ tộc Lào nổi dậy và ngày 12/10/1945, nước Lào tuyên bố độc lập. + Nhân dân các nước Miến Điện, Mã Lai và Philippin đều nổi dậy đấu tranh chống quân phiệt Nhật Bản, giải phóng nhiều vùng rộng lớn của đất nước. - Ngay sau đó, các nước thực dân Âu - Mĩ quay trở lại xâm lược Đông Nam Á. Nhân dân Đông Nam Á lại phải tiếp tục cuộc đấu tranh chống xâm lược. + Giữa những năm 50 (thế kỉ XX), nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia đã lần lượt đánh đuổi thực dân Pháp, sau đó phải tiếp tục chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ đến năm 1975 mới giành thắng lợi hoàn toàn. + Cuối những năm năm 50 (thế kỉ XX), thực dân Âu - Mĩ cũng lần lượt công nhận độc lập cho Philippin (7-1946), Miến Điện (1-1948), Indônêxia (8-1950), Mã Lai (8-1957), Xingapo giành quyền tự trị (1959) + Ngày 1/1/1984, Brunây tuyên bố độc lập nằm trong khối Liên hiệp Anh. + Đông Timo là quốc gia trẻ tuổi nhất khu vực, đến tháng 5 - 2002 trở thành một quốc gia độc lập. - Trong bối cảnh chiến tranh lạnh, tháng 9/1954, Mĩ cùng một số nước Tây Âu và một số nước trong khu vực thành lập Tổ chức hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á (SEATO) nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội và hạn chế thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc. Sau thắng lợi của ba nước Đông Dương giữa năm 1975, đến 6/1977, khối SEATO giải thể. Câu 5. Nêu những sự kiện lịch sử tiêu biểu thể hiện tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ (1945 – 1975). a) Trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954). - Việt Nam, Lào và Campuchia có chung đường biên giới và đều bị thực dân Pháp thống trị. Ba nước đã sớm đoàn kết chống xâm lược và đều dưới dự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. - Ngày 11 – 3 - 1951, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Khơme Itxarắc, Mặt trận Lào Itxala họp hội nghị để thành lập Liên minh nhân dân Việt - Miên - Lào. Liên minh thành lập đã tăng cường tình đoàn kết giữa nhân dân ba nước trong cuộc đấu tranh chống kẻ thủ chung là Pháp và Mỹ. - Tháng 4 – 1953, bộ đội Việt Nam phối hợp với bộ đội Pathét Lào mở chiến dịch Thượng Lào, giải phóng tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Phong Xa Lì. Căn cứ kháng chiến Lào được mở rộng và nối liên với Tây Bắc Việt Nam. - Tháng 12 – 1953, liên quân Lào - Việt mở chiến dịch Trung Lào, giải phóng thị xã Thà Khẹt và toàn bộ tỉnh Khăm Muộn, uy hiếp Senô, góp phần làm phá sản kế hoạch Nava của địch. - Đầu năm 1954, liên quân Lào - Việt tiến công địch ở Thượng Lào, mở rộng căn cứ kháng chiến cho nước bạn Lào. - Những thắng lợi của quân dân Việt – Lào trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) đã buộc Pháp phải kí Hiệp định Giơnevơ (21 – 7 – 1954), công nhận các quyền dân tộc cơ bản của ba nước Đông Dương. b) Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ (1954-1975) - Sau khi Mĩ giúp bọn tay sai làm đảo chính, xóa bỏ nên trung lập ở Campuchia, mở rộng Đông Dương hoá chiến tranh, ba nước Việt - Lào - Campuchia họp Hội nghị cấp cao tại Hà Nội (24 - 25/4/1970) biểu thị quyết tâm đoàn kết chiến đấu chống Mĩ. - Nửa đầu năm 1970, quân tình nguyện Việt Nam ở Lào cùng quân dân Lào đập tan cuộc hành quân lên chiếm Cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng, giải phỏng một vùng rộng lớn ở Nam Lào. - Tháng 2 và 3/1971, quân và dân Việt Nam phối hợp với quân và dân Lào đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn - 719 nhằm chiếm giữ đường 9 - Nam Lào của 4,5 vạn lính nguy Sài Gòn, giữ vững hành lang chiến lược của cách mạng Đông Dương. - Thắng lợi của cách mạng Việt Nam buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pari (27/1/1973), sau đó Mĩ phải kí Hiệp định Viêng Chăn với Lào (21/2/1973), chấp nhận rút quân đội về nước. - Chiến thắng 30-4-1975 của Việt Nam đã có vũ và tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến chống Mĩ ở Lào giành thắng lợi hoàn toàn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ra đời (2/12/1975).
- - Tình đoàn kết, phối hợp chiến đấu giữa hai dân tộc Việt - Lào đã trở thành yếu tố thúc đẩy sự phát triển và thắng lợi của cuộc kháng chiến ở mỗi nước. Câu 6. Trình bày hoàn cảnh ra đời, quá trình hợp tác và phát triển của tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập ASEAN là gì? a) Hoàn cảnh ra đời - Sau hơn 20 năm đấu tranh giành và bảo về độc lập, các nước trong khu vực Đông Nam Á bước vào thời kì ổn định và phát triển kinh tế, nhiều nước có nhu cầu hợp tác với nhau để công giải quyết khó khăn và phát triển. - Trong bối cảnh Mĩ ngày càng sa lấy trên chiến trường Đông Dương, các nước Đông Nam Á muốn liên kết lại, nhằm giảm bớt sức ép của các nước lớn. Những tổ chức hợp tác mang tính khu vực trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều, nhất là sự thành công của Khối thị trường chung châu Âu (EEC) có tác dụng cổ vũ các nước Đông Nam Á. - Ngày 8/8/1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc – Thái Lan với sự tham gia của Indonesia, Malaysia, Philippin, Thái Lan và Singapore. b) Quá trình phát triển - Mục đích của ASEAN được thể hiện qua các bản tuyên bố: 1- Tuyên bố Băng Cốc (1967) nêu rõ mục tiêu của ASEAN là phát triển kinh tế, văn hoá thông qua những nỗ lực hợp tác chung giữa các nước thành viên, trên tinh thần duy trì hoà bình và ổn định khu vực. 2- Tuyên bố Kualalămpua (1971) đưa ra đề nghị xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, tự do, trung lập. 3- Hiệp ước Bali (1976) xác định mục tiêu xây dựng mối quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác giữa các nước trong khu vực, tạo nên cộng đồng Đông Nam Á hùng mạnh. - Trong giai đoạn đầu (1967-1975), ASEAN là tổ chức non trẻ, quan hệ hợp tác còn lỏng lẻo, chưa có vị thế quốc tế. - Hội nghị cấp cao Bali (2/1976), các nước kí Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, xây dựng nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các nước: 1- Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau. 2- Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. 3- Giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình. 4- Hợp tác, giúp đỡ nhau cùng phát triển. Hiệp ước Bali mở ra thời kì mới trong quan hệ giữa các nước thành viên và giữa ASEAN với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Quan hệ giữa các nước Đông Dương và ASEAN được cải thiện, thể hiện ở việc thiết lập quan hệ ngoại giao và những chuyến viếng thăm của các nhà lãnh đạo cấp cao. Từ dấu những năm 90, Chiến tranh lạnh chấm dứt và "vấn đề Campuchia" được giải quyết, ASEAN có điều kiện phát triển. - Mở rộng thành viên ASEAN: Brunây (1984), Việt Nam (1995), Lào và Mianma (1997), Campuchia (1999). - Đẩy mạnh hoạt động hợp tác xây dựng một cộng đồng ASEAN về kinh tế, an ninh và văn hoá quyết định thành lập một khu vực mậu dịch tự do (AFTA) (1992), lập diễn đàn khu vực (ARF) với sự tham gia của 23 nước trong và ngoài khu vực (1991), chủ động đề xuất diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), tích cực tham gia diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), kí kết bản Hiến chương ASEAN (2007) nhằm xây dựng một Cộng đồng ASEAN có vị thế cao hơn và hiệu quả hơn. - Trong quá trình phát triển và hội nhập, ASEAN đạt được nhiều thành tựu to lớn, nền kinh tế các nước thành viên phát triển mạnh, với tư cách là một tổ chức liên minh chính trị - kinh tế, ASEAN đẩy mạnh hợp tác kinh tế, xây dựng thành khu vực hoà bình, ổn định và phát triển, mở rộng quan hệ quốc tế và ngày càng nâng cao địa vị quốc tế của ASEAN. c) Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập ASEAN - Cơ hội + Nền kinh tế Việt Nam được hội nhập với nền kinh tế khu vực. Tạo điều kiện cho kinh tế Việt Nam rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực + Việt Nam tiếp thu những thành tựu cách mạng KHKT tiên tiến trên thế giới. Có điều kiện hợp tác với các nước về văn hoá, giáo dục, văn học, nghệ thuật. + Tạo những điều kiện thuận lợi trong việc bảo vệ hòa bình và an ninh khu vực, qua đó góp phần bảo vệ nên độc lập dân tộc. - Thách thức
- + Nếu không tận dụng được cơ hội để phát triển kinh tế thì Việt Nam sẽ bị tụt hậu. + Sự cạnh tranh quyết liệt về kinh tế giữa các nước, trong khi xuất phát điểm của Việt Nam thấp hơn các nước. + Dễ bị đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc. Câu 7. Những yếu tố nào làm cho ASEAN mở rộng thành viên trên toàn Đông Nam Á? Vì sao quá trình mở rộng thành viên từ 5 nước ban đầu lên 10 nước của ASEAN lại diễn ra lâu dài và đầy trở ngại? Hiện nay, Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á cần làm gì để bảo đảm hòa bình và an ninh ở biển Đông? a) Những yếu tố làm cho ASEAN mở rộng thành viên - Ngày 8/8/1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc – Thái Lan với sự tham gia của 5 nước: Inđônêxia, Malaixia Philippin, Thái Lan và Xingapo. Năm 1984, sau khi giành độc lập, Brunây gia nhập ASEAN và trở thành thành viên thứ sáu của tổ chức. Năm 1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ bảy. Năm 1997, Lào và Mianma trở thành thành viên của tổ chức. Năm 1999, Cam-pu-chia trở thành thành viên thứ mười của tổ chức này. - Các nước Đông Nam Á đã giành được độc lập dân tộc hoàn toàn. - Các nước Đông Nam Á có một nền kinh tế không cách biệt nhau lắm và từ lâu đã liên hệ, trao đổi kinh tế, văn hoá với nhau. - Tác động của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật và xu hướng toàn cầu hóa, làm cho các nước Đông Nam Á có xu hướng liên kết về kinh tế và chính trị. - Sau khi giành được độc lập, do nền kinh tế đã bắt đầu phát triển, các nước Đông Nam Á ngày càng muốn thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào các nước lớn. Các nước Đông Nam Á đứng riêng lẻ không thể đọ sức được với các nước lớn, họ cần phải liên kết cùng nhau trong cuộc cạnh tranh với các nước ngoài khu vực. b) Quá trình mở rộng thành viên từ 5 nước ban đầu lên 10 nước của ASEAN lại diễn ra lâu dài và đầy trở ngại là vì: - Cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của mỗi nước giành thắng lợi không cùng nhau: Các nước thực dân Âu - Mĩ lần lượt công nhận nên độc lập của Phi-lip-pin (7/1946), Miến Điện (1/1948), In- đô-nê-xi-a (8/1950), Ma-lai-xi-a (8/1957), Xin-ga-po giành quyền tự trị (1959); Việt Nam, Lào, Campuchia đã giành thắng lợi trong kháng chiến Mỹ (năm 1975); thực dân Anh công nhận nền độc lập của Bru-nây (1984). - Các nước Đông Nam Á hình thành hai nhóm nước với các hệ tư tưởng không giống nhau, thậm chí còn đối lập nhau: Thái lan, Phi-lip-pin, Miến Điện, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po theo hệ tư tưởng TBCN, Việt Nam, Lào theo hệ tư tưởng XHCN. Trong khi đó, Thái lan, và Phi-lip-pin đã tham gia vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam do Mĩ tiến hành. - Năm 1976, Hiệp ước Ba-li mở ra thời kì mới trong quan hệ giữa các nước thành viên ASEAN và giữa ASEAN với các nước còn lại trong khu vực Đông Nam Á. Từ đó quan hệ giữa hai nhóm nước ở Đông Nam Á được cải thiện. - Từ đầu những năm 90, Chiến tranh lạnh chấm dứt, xu thế đối thoại, hợp tác đã xuất hiện trong quan hệ quốc tế. Mặt khác, “vấn đề Campuchia” được giải quyết, các nước Đông Nam Á có điều kiện hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá. Do vậy ASEAN đã mở rộng thành viên trên toàn Đông Nam Á. c) Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á cần làm gì để bảo đảm hòa bình và an ninh ở biển Đông - Căn cứ vào các nguyên tắc trong Hiến chương Liên hợp quốc; các nguyên tắc trong Hiệp ước Bali (1976): Tôn trọng quyền bình dâng và quyền sự quyết của các dân tộc. Tôn trong toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của trại các nước. - Căn cứ vào Công ước quốc tế về luật biển năm 1982 của Liên hợp quốc (quy định chủ quyền về vùng Nội thủy, Lãnh hải, Vùng tiếp giáp Lãnh hải, Vùng đặc quyền kinh tế, Thêm lục địa của một quốc gia). - Căn cứ vào Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) (được ASEAN và Trung Quốc ký ngày 4/11/2002 tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 8 ở Phnôm - Pênh (Campuchia). - Các nước Đông Nam Á dựa vào các nguyên tắc có tính chất pháp lý nói trên để đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc. Kiên trì đấu tranh ngoại giao và pháp lí lên án mạnh mẽ mọi hành động xâm
- phạm chủ quyền, đặc biệt là chủ quyền biên đảo, qua đó đấu tranh đòi được tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước, phù hợp pháp lí quốc tế. - Việt Nam đoàn kết với các quốc gia Đông Nam Á, cùng các nước trong khu vực Đông Nam Á thể hiện trách nhiệm chung để bảo đảm hòa binh và an ninh ở biển Đông. Câu 8. Trình bày những biến đổi quan trọng của các nước Đông Nam Á từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 2000. Biến đổi nào là quan trọng nhất? Vì sao? a) Những biến đổi * Biến đổi thứ nhất: Các nước Đông Nam Á từ thân phận các nước thuộc địa, nữa thuộc địa và lệ thuộc đã trở thành những nước độc lập. - Trước chiến tranh thế giới II, hầu hết các nước trong khu vực (trừ Thái Lan) đều là thuộc địa của các đế quốc Âu – Mỹ. Khi chiến tranh bùng nổ, Nhật Bản xâm chiếm cả vùng Đông Nam Á, thiết lập trật tự phát xít ở đây. Từ cuộc đấu tranh chống thực dân Âu – Mỹ, nhân dân Đông Nam Á chuyển sang cuộc đấu tranh chống quân phiệt Nhật Bản, giải phóng đất nước. - Tận dụng thời cơ Nhật Bản đầu hàng đồng minh (8/1945), nhiều nước đã đứng lên giành độc lập hoặc đã giải phóng phần lớn lãnh thổ khỏi quân Nhật. + Ngày 17/8/1945, Inđônêxia tuyên bố độc lập và thành lập nước Cộng hòa Inđônêxia. + Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam thành công dẫn tới sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hỏa (2/9/1945). + Tháng 8/1945, nhân dân các bộ tộc Lào nổi dậy và ngày 12/10/1945 nước Lào tuyên bố độc lập. + Nhân dân các nước Miến Điện, Mã Lai và Philippin đều nổi dậy đấu tranh chống quân phiệt Nhật Bản, giải phóng nhiều vùng rộng lớn của đất nước. - Ngay sau đó, các nước thực dân Âu - Mỹ quay trở lại xâm lược Đông Nam Á. Nhân dân Đông Nam Á lại phải tiếp tục cuộc đấu tranh chống xâm lược. + Giữa những năm 50 (thế kỉ XX), nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia đã lần lượt đánh đuổi thực dân Pháp, sau đó phải tiếp tục chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ đến năm 1975 mới giành thắng lợi hoàn toàn. + Cuối những năm 40 đầu những năm 50 (thế kỷ XX), thực dân Âu – Mĩ cũng lần lượt cộng nhận độc lập cho Philippin (7-1946), Miến Điện (1-1948), Indônêxia (8-1950), Mã Lai (8-1957), Xingapo giành quyền tự trị (1959). + Ngày 1/1/1984, Brunây tuyên bố độc lập nằm trong khối Liên hiệp Anh. + Đông Timo là quốc gia trẻ tuổi nhất khu vực, đến tháng 5 - 2002 trở thành một quốc gia độc lập. * Biến đổi thứ hai: Từ sau khi giành lại độc lập, các nước Đông Nam Á đều ra sức xây dựng và phát triển nền kinh tế - xã hội của mình và đạt nhiều thành tựu to lớn: như Xingapo, Indônêxia, Thái Lan, Malaixia, đặc biệt là Xingapo có nền kinh tế phát triển nhất ở khu vực Đông Nam Á và được xếp vào hàng các nước phát triển trên thế giới. * Biến đổi thứ ba: Cho đến tháng 4-1999, các nước Đông Nam Á đều gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), nhằm mục tiêu xây dựng những mối quan hệ hoà bình, hữu nghị hợp tác giữa các nước trong khu vực. b) Biến đổi nào là quan trọng nhất: từ thân phận các nước thuộc địa, nửa thuộc địa và lệ thuộc, các nước Đông Nam Á đã trở thành những nước độc lập. Nhờ có biến đổi đó các nước Đông Nam Á mới có những điều kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của mình ngày càng phồn vinh. Câu 9. Vì sao trong cùng thời gian thuận lợi vào giữa 8-1945 nhưng ở Đông Nam Á chỉ có ba quốc gia tuyên bố độc lập, còn các nước khác giành thắng lợi ở các mức độ thấp hơn? - Giữa tháng 8-1945, một thời cơ, điều kiện vô cùng thuậ lợi đối với các nước Đông Nam Á trong cuộc đấu tranh giành độc lập, đó là Nhật Bản đầu hàng đồng minh, các nước thực dân cũ chưa kịp quay trở lại với các quốc gia Đông Nam Á. Trong điều kiện đó, nhân dân Đông Nam Á đã đứng lên giành độc lập và chủ quyền quốc gia. - Tuy nhiên trong năm 1945, khu vực Đông Nam Á chỉ có ba nước độc lập (Indônêxia, Việt Nam, Lào), còn các nước khác (Mã Lai, Miến Philíppin) mới chỉ giải phóng một số vùng lãnh thổ. * Nguyên nhân:
- - Muốn giành được độc lập thì phải có điều kiện khách quan và chủ quan thuận lợi kết hợp nhuần nhuyễn với nhau. - Điều kiện khách quan là Nhật đầu hàng đồng minh, các nước thực không kịp quay trở lại. Đây là điều kiện khách quan thuận lợi chung cho có Đông Nam Á. - Điều kiện chủ quan là sự chuẩn bị ở mỗi nước: tức là có một chính đảng hoặc một tổ chức chính trị lãnh đạo với một đường lối đúng đắn; sự hăng hái và tập dượt của quần chúng; sự đoàn kết, quyết tâm của cả dân tộc. Khi điiều kiện khách quan đến thì đảng hoặc tổ chức chính trị đó nhanh chóng phát động nhân dân đứng lên giành chính quyền. - Tình hình ở Inđônêxia, Việt Nam, Lào có đủ những điều kiện này: + Inđônêxia: Khi Nhật đầu hàng, các đảng phải như Đảng quốc dân, tổ chức thanh niên chống Nhật của công nhân, nông dân, trí thức, đã thúc đẩy Xucácnô – lãnh tụ của Đảng quốc dân, soạn thảo và đọc Tuyên ngôn Độc lập, khi Tuyên ngôn được công bố, cả nước đứng lên giành chủ quyền. + Việt Nam: đã có sự chuẩn bị trong suốt 15 năm, qua 3 lần diễn tập: 1930 – 1931, 1936 – 1939, 1939 – 1945. Khi thời cơ đến, Đảng Cộng sản Đông Dương đã thời lãnh đạo nhân dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền toàn quốc. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. + Lào: dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhân dân dậy đấu tranh giành độc lập. Ngày 12-10-1945, Lào tuyên bố độc lập. - Các nước Đông Nam Á khác, xu hướng thân Đổng minh rất rõ, dựa vào Đổng minh để đánh Nhật, giành độc lập cho đất nước (Miến Điện thân Anh, Philíppin thân Mĩ). Sự hợp tác này dẫn đến quân Anh, Mĩ trở lại nước này rất sớm, nên khi Nhật thất bại, thời cơ giành độc lập đã bị bỏ lỡ. Câu 10. Trình bày khái quát sự ra đời của các quốc gia độc lập ở Đông Nam Á trong năm 1945. - Giữa tháng 8-1945, quân phiệt Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, các nước thực dân Âu – Mĩ chưa kịp quay trở lại xâm lược Đông Nam Á. Hoàn cảnh đó đã tạo điều kiện khách quan thuận lợi cho nhân dân Đông Nam Á đứng lên giành độc lập và chủ quyền quốc gia. - Tuy nhiên, trong khu vực Đông Nam Á, chỉ có ba nước tuyên bố độc lập trong năm 1945 : Inđônêxia, Việt Nam, Lào, còn các nước khác giành độc lập ở các mức độ khác nhau (giải phóng một số vùng lãnh thổ, không tuyên bố độc lập). - Inđônêxia : + Ngày 17-8-1945, sau khi quân phiệt Nhật Bản đầu hàng, Xucácnô đã đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố thành lập nước Cộng hoà Inđônêxia. + Hưởng ứng Tuyên ngôn Độc lập, nhân dân cả nước, trước hết là ở các thành phố như Giacácta, Xurabaya... đã nổi dậy chiếm các công sở, dài phát thanh và giành chính quyền từ tay Nhật Bản. + Ngày 18-8-1945, lãnh tụ các chính đảng và các đoàn thể mở hội nghị của Uỷ ban trù bị độc lập Inđônêxia, thông qua bản Hiến pháp, bầu Xucácnó làm Tổng thống nước Cộng hoà Indonexia. - Việt Nam: + Tháng 8-1945, Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc thắng lợi. + Cuộc Cách mạng tháng Tám của nhân dân Việt Nam thành công, ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. - Lào: + Lợi dụng thời cơ thuận lợi, tháng 8-1945 nhân dân các bộ tộc Lào nổi dậy giành chính quyền từ tay phát xít Nhật + Ngày 10-12-1945, Chính phủ Lào ra mắt quốc dân và tuyên bố độc lập. Câu 11. Lập bảng so sánh về chiến lược kinh tế hướng nội và chiến lược kinh tế hướng ngoại của nhóm nước sáng lập ASEAN? (về thời gian, mục tiêu, nội dung thành tựu, hạn chế). NDSS Chiến lược kinh tế hướng nội Chiến lược kinh tế hướng ngoại Từ khi giành độc lập đến những Từ những năm 60, 70 của thế kỉ XX trở đi. Thời gian năm 60, 70 của thế kỉ XX.
- Nhanh chóng xóa bỏ nghèo nàn, lạc Khắc phục những hạn chế của chiến lược hậu, xây dựng nền kinh tế tự chủ. kinh tế hướng nội, làm cho kinh tế phát triển, Mục tiêu tạo nhiều việc làm, giải quyết thất nghiệp, giải quyết vấn đề thị trường. Đẩy mạnh phát triển các ngành Tiến hành mở cửa nền kinh tế, thu hút vốn công nghiệp sản xuất hàng tiêu đầu tư, kĩ thuật của nước ngoài, tập trung sản Nội dung dùng nội địa, thay thế hàng nhập xuất hàng hóa để xuất khẩu, phát triển ngoại khẩu, lấy thị trường trong nước làm thương chỗ dựa để phát triển sản xuất. Sản xuất đã đáp ứng nhu cầu cơ bản Sau một thời gian thực hiện chiến lược, bộ của nhân dân trong nước, góp phần mặt kinh tế, xã hội của các nước này có sự giải quyết nạn thất nghiệp, phát biến đổi lớn: tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ Thành tựu triển một số ngành chế biến, chế trong nền kinh tế cao hơn nông nghiệp, tốc tạo độ tăng trưởng ở các nước cao, vấn đề công bằng xã hội đã được giải quyết một bước. - Thiếu vốn, nguyên liệu và công - Phụ thuộc vào vốn, thị trường bên ngoài quá nghệ, lớn. - Chi phí cao dẫn đến làm ăn thua - Đầu tư bất hợp lí, trình độ quản lí không lỗ, tệ tham nhũng, quan liêu phát theo kịp sự phát triển của nền kinh tế. Hạn chế triển. - Sự yếu kém của hệ thống tài chính, ngân - Đời sống người lao động còn khó hàng. khăn, chưa giải quyết được quan hệ - Tình trạng tham nhũng giữa tăng trưởng với công bằng xã à Hậu quả là dẫn tới cuộc khủng hoảng tài hội. chính – tiền tệ năm 1997, Câu 12. So sánh Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Liên minh châu Âu (EU). a. Giống nhau: - ASEAN và EU là một tổ chức luôn phát triển, biến đổi để thích nghi với hoàn cảnh. - ASEAN và EU là tổ chức “mở” và có quan hệ phong phú với các đối tác trên khắp thế giới. - Cả ASEAN và EU đều được đánh giá là các tổ chức thành công và là nòng cốt thúc đấy chủ nghĩa khu vực ở châu Âu và Đông Nam Á. - ASEAN và EU đều có cùng một mục tiêu là duy trì hòa bình ở khu vực trên thế giới, đem lại sự phát triển và thịnh vượng cho các nước thành viên. b. Khác nhau: * Về quyền lực - ASEAN: + ASEAN là một tổ chức liên Chính phủ, không phải là một tổ chức siêu quốc gia có quyền lực bao trùm lên chủ quyền của các nước thành viên. + Mọi quyết định của ASEAN đều có sự tham gia đóng góp của các nước thành viên. + ASEAN là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của biểu hiện tinh thần các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. ASEAN là biểu hiện tinh thần đoàn kết giữa các nước trong cùng khu vực với nhau, đồng thời hợp tác chống tình trạng bạo động và bất ổn tại những nước thành viên. ASEAN đã nhấn mạnh trên việc hợp tác khu vực trong “ba trụ cột” về an ninh, văn hoá xã hội và hội nhập kinh tế. + ASEAN là khu vực tự do thương mại. Các nhóm khu vực đã có những thành quả lớn nhất trong hội nhập kinh tế, với mục tiêu tạo lập một cộng đồng kinh tế. Thoả thuận AFTA được ký ngày 28 tháng 1 năm 1992 tại Xin-ga-po. - Liên minh châu Âu (EU): + Liên minh châu Âu (EU), Liên minh châu Phi (AU), hay Tổ chức các nước châu Mỹ (OAS) là các tổ chức khu vực vừa có thành tố hợp tác liên Chính phủ, vừa tạo ra các thể chế siêu quốc gia có thể ra phán quyết buộc các nước thành viên phải tuân thủ. + Liên minh châu Âu đã phát triển một thị trường chung thông qua hệ thống luật pháp tiêu chuẩn áp dụng cho tất cả các nước thành viên nhằm đảm bảo sự lưu thông tự do của con người, hàng hóa, dịch vụ và vốn.
- + Liên minh châu Âu duy trì các chính sách chung về thương mại, nông nghiệp, ngư nghiệp và phát triển địa phương. 17 nước thành viên đã chấp nhận đồng tiền chung - đồng Euro, tạo nên khu vực đồng Euro. Liên minh châu Âu đã phát triển vai trò nhất định trong chính sách đối ngoại, có đại diện trong Tổ chức Thương mại Thế giới, G8, G20 các nền kinh tế lớn và Liên hợp quốc. + Liên minh châu Âu đã thông qua việc bãi bỏ kiếm tra hộ chiếu bằng Hiệp ước Schengen giữa 22 quốc gia thành viên và 4 quốc gia không phải là thành viên Liên minh châu Âu. * Sự đa dạng của các nước thành viên - Các nước thành viên ASEAN rất khác nhau về lịch sử, nguồn gốc dân tộc và sắc tộc, về văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo, thể chế chính trị và trình độ phát triển kinh tế. Đặc điểm này tạo nên sự phong phú, đa dạng của cộng đồng ASEAN, song cũng tạo nên không ít khó khăn trong quá trình hợp tác giữa các nước ASEAN với nhau. - EU: Tuy các quốc gia châu Âu cũng có bản sắc phong phú và đa dạng về nhiều mặt, song lại khá gần gũi về mặt sắc tộc, lịch sử, tôn giáo và văn hóa, có thể chế chính trị cơ bản giống nhau và không chênh lệch nhau nhiều về trình độ phát triển. * Về lịch sử phát triển - Các nước ASEAN giành độc lập muộn nên sự hợp tác ASEAN còn khá non trẻ. Ở Đông Nam Á, sự chia rẽ về mặt địa lí ảnh hưởng của các nước lớn trong khu vực, của các đế quốc trong giai đoạn thuộc địa và ảnh hưởng của Chiến tranh lạnh đã khiến các dân tộc Đông Nam Á phần nào bị chia rẻ, ít giao lưu và hiểu biết về nhau hơn. - EU: Trong khi sự phát triển và suy tàn của các để chế ở châu Âu với tầm ảnh hưởng bao trùm rộng lớn, EU đã góp phần tạo điều kiện cho các dân tộc ở châu Âu có sự giao thoa, qua đó hình thành bản sắc riêng của châu lục. Câu 13. Tại sao nói từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX, bối cảnh quốc tế và khu vực Đông Nam Á đã mở ra cơ hội hợp tác cho các nước trong khu vực? - Chiến tranh lạnh chấm dứt trên thế giới cuối những năm 80 đầu những năm 90 quan hệ đối đầu từng bước nhường chỗ cho đối thoại, hợp tác, môi trường hòa bình dần thay thế cho những xung đột căng thẳng trên thế giới. Đặc biệt là sự đối đầu hai cực Xô – Mĩ giữa CNXH và CNTB không còn, điều đó đã tác động tích cực đến Đông Nam Á dẫn tới sự đối đầu giữa hai nhóm nước khu vực đó là nhóm nước sáng lập ASEAN và Đông Dương đến khi Chiến tranh lạnh cũng chấm dứt. - Ở Đông Nam Á, chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Đông Dương cũng kết thúc 1975, Hiệp định hòa bình về Campuchia được ký kết năm 1991 ở Pari, vấn đề Campuchia được giải quyết thì việc chống Việt Nam của các nước ASEAN cũng chấm dứt. Sự đối đầu giữa ASEAN và Đông Dương không còn, hai nhóm nước chuyển sang đối thoại, khu vực Đông Nam Á hòa bình. Vì vậy các nước trong khu vực tập trung vào xây dựng đất nước lấy phát triển về kinh tế làm trọng tâm. - Với xu thế hợp tác khu vực đã mở ra cơ hội cho các nước Đông Dương gia nhập ASEAN, từ 1995 các nước Đông Dương và Mianma lần lượt được kết nạp vào ASEAN (VN 1995, Mianma, Lào 1997, Campuchia 1999), 10 nước Đông Nam Á cùng đứng chung trong 1 tổ chức khu vực. - Sự đối đầu và căng thẳng ở Đông Nam Á không còn, các nước trong khu vực có chung nguyện vọng hợp tác kinh tế, hợp tác an ninh – chính trị, xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định, phát triển. Đông Dương từ bãi chiến trường thành thị trường trở thành thi trường đầu tư cho các nước ASEAN. à Trong bối cảnh mới các nước ASEAN chuyển trộng tâm sang phát triển kinh tế cùng với việc xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình và ổn định. Từ đây, vấn đề hợp tác kinh tế và an ninh được đẩy mạnh, mở rộng trong và ngoài khu vực như xây dựng các tổ diễn đàn: AFTA, ARF, ASEM, APEC Như vậy, tình hình thuận lợi trên đã mở ra cơ hội hợp tác của các nước trong khu vực. Câu 14. Lý giải vì sao trước những năm 90 của thế kỉ XX, trong hoạt động của mình ASEAN chỉ coi trọng vấn đề an ninh, chính trị nhưng từ những năm 90 trở về sau tổ chức này coi trọng hợp tác kinh tế sông song với hợp tác an ninh, chính trị? a. Trước những năm 90 của thế kỉ XX, trong hoạt động ASEAN chỉ coi trọng vấn đề an ninh, chính trị vì:
- - ASEAN ra đời trong bối cảnh của cuộc chiến tranh lạnh và cuộc chiến tranh đó cũng đang diễn ra ở Đông Nam Á, không có nước nào đứng ngoài cuộc chiến tranh này, thế giới trong thời kì đó chìm đắm trong căng thẳng đối đầu giữa hai khối TBCN và XHCN, giữa Liên Xô và Mĩ, giữa hai nhóm nước ở Đông Nam Á: Đông Dương và ASEAN. Trong bối cảnh của cuộc Chiến tranh lạnh, do đó mọi ưu tiên trong hoạt động và hợp tác của ASEAN là vấn đề an ninh. - Ở Đông Nam Á cuộc chiến tranh đang diễn ra ác liệt ở Đông Dương tình hình đó các nước phải coi trọng vấn đề an ninh – chính trị. - ASEAN ra đời mang tính tự vệ, họ rất e ngại sự can thiệp của các nước lớn vào khu vực. Trong bối cảnh áp lực của sự can thiệp của các nước lớn vào khu vực ngày càng tăng các nước cần chú ý đến an ninh khu vực. - Tình hình chính trị Đông Nam Á không ổn định. + Chiến tranh Đông Dương từ những năm 60 đến 70 đang ở đỉnh cao khốc lệt. + Vấn đề Campuchia giữa thập niên 70 đến 90 + Vấn đề khủng bố, cực đoan đang đe dọa nền an ninh chính trị Đông Nam Á (Thái Lan, Philippin, In-đô-nê-xi-a, Malaixia ) + Vấn đề tranh chấp lãnh thổ, biển đảo giữa các nước có biển, vấn đề biên giới lãnh thổ giữa các nước liền kề. à Do vậy, vấn đề an ninh – chính trị được khu vực Đông Nam Á coi trọng. b. Từ những năm 90 trở về sau tổ chức này coi trọng hợp tác kinh tế song song với hợp tác an ninh, chính trị. - Khi chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ đối đầu từng bước nhường chỗ cho đối thoại, hợp tác, môi trường hòa bình dần thay thế cho những xung đột căng thẳng. - Ở Đông Nam Á chiến tranh Đông Dương kết thúc, sự đối đầu hai nhóm nước về vấn đề Campuchia không còn. Khi vấn đề Campuchia được giải quyết từ bãi chiến trường các nước Đông Dương trở thành thị trường của các nước ASEAN, các nước Đông Nam Á có hòa bình do đó các nước tập trung vào xây dựng đất nước và phát triển kinh tế. - Các nước Đông Dương và Mianma lần lượt gia nhập ASEAN (Việt Nam 1995, Mianma, Lào 1997, Campuchia 1999), 10 nước Đông Nam Á cùng đứng chung trong một khu vực cùng chung một nguyện vọng: hợp tác kinh tế, an ninh – chính trị; xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình, ổn định và phát triển. - Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển biến tích cực, ở Đông Nam Á vẫn còn nhiều nguy cơ về vấn đề về an ninh như: tranh chấp Biển Đông giữa các nước Đông Nam Á với Trung Quốc. Trung Quốc đưa ra đường lưỡi bò tuyên bố độc chiếm gần hết Biển Đông, ngang ngược xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế, lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam, In-đô-nê-xi-a, PLhilippin, Malaixia, Thái Lan, - Vấn đề khủng bố và chống khủng bố vẫn đặt ra đối với các nước khu vực, nhất là đối với Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Philippin... - Vấn đề an ninh phi truyền thống tiếp tục được đặt ra như: nạn buôn bán người, buôn bán ma túy, biến đổi khí hậu, tội phạm xuyên quốc gia vẫn đặt ra thường xuyên với các nước Đông Nam Á. à Vì vậy bên cạnh quan tâm đến vấn đề pt kinh tế thì vấn đề an ninh, chính trị vẫn được coi trọng như nhau, đặt ra thường xuyên, trong hoạt động của ASEAN. Câu 15. Những nhân tố tác động đến việc Việt Nam gia nhập ASEAN và những đóng góp của Việt Nam cho ASEAN. a. Những nhân tố tác động: - Hai nước Xô – Mĩ tuyên bố chấm dứt chiến tranh lạnh, tình hình thế giới chuyển biến theo hướng hòa dịu, CNXH ở châu Âu tan rã, đỉnh cao là sụp đổ của Liên Xô trật tự hai cực không còn. Điều đó dẫn tới sự đối đầu ở Đông Nam Á cũng mất đi, hai nhóm nước ở Đông Nam Á có cơ hội hợp tác với nhau. - Việc giải quyết vấn đề Campuchia với việc ký Hiệp định Pari 1991, đánh dấu chấm dứt thời kì băng giá trong quan hệ Việt Nam và ASEAN. - Việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 1991 đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ổn định khu vực Đông Nam Á, mở ra thời kì hợp tác và liên kết khu vực. - Chính sách biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường của Thái Lan và ASEAN. Trong bối cảnh mới, vấn đề đặt ra là tăng cường sức mạnh kinh tế của từng nước và khu vực. Thông qua
- sự hợp tác với các nước Đông Nam Á. Vì vậy, sự phát triển với Việt Nam và Đông Dương trở thành chính sách của ASEAN. - Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam 6/1991 đánh giá biến động của thế giới và tuyên bố: Việt Nam muốn làm bạn với các nước trong cộng đồng thế giới, đó là đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, không còn nặng về ý thức hệ như trước đây nữa. - Đối với Đông Nam Á, Đảng xác định phát triển mối quan hệ hữu nghị với ASEAN và Thái Bình Dương là mục tiêu hàng đầu sẽ giúp Việt Nam hội nhập vào Đông Nam Á. - Sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ và xu hướng toàn cầu hóa đang đòi hỏi các nước liên kết lại với nhau để cùng phát triển, không nước nào xây dựng và phát triển đất nước mà đứng ngoài xu thế này, bởi tất cả các nước phải phụ thuộc với nhau. b. Đóng góp Việt Nam - Việt Nam gia nhập ASEAN đã mở ra một thời kì mới ở Đông Nam Á, chấm dứt thời kì đối đầu căng thẳng trong khu vực, góp phần thực hiện ước mở biến ASEAN thành 1 tổ chức nội khối. - Góp phần mở rộng hợp tác quốc tế của ASEAN, góp phần làm tăng mối quan hệ của ASEAN với các nước lớn, góp phần tạo nên sự cân bằng chiến lược và ảnh hưởng của các nước lớn trong khu vực. - Việt Nam chủ động tham gia vào các tổ chức sẵn có mà còn đóng góp vào các sáng kiến các cơ chế mới của ASEAN: + Khi chưa gia nhập Việt Nam đã chủ động tham gia ARF (1 trong 18 nước sáng lập). + Khi là thành viên chính thức Việt Nam đã cam kết và thực hiện các cam kết hợp tác ASEAN, đóng góp khắc phục những yếu kém, trì trệ trong ASEAN, đóng góp sáng kiến thu hẹp khoảng cách phát triển giữa hai nhóm nước của ASEAN. + Đóng góp ý tưởng và xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột, trong đó cộng đồng văn hóa – xã hội do Việt Nam đề xuất. - Khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã tạo ra bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, hội nhập quốc tế và Việt Nam là một trong thành viên sáng lập ASEM, APEC, mở rộng không gian hợp tác ASEAN với Đông Bắc Á. Câu 16. Phân tích bối cảnh lịch sử quốc tế và khu vực sau Chiến tranh thế giới thứ hai tác động đến cuộc đấu tranh giành độc lập ở Đông Nam Á. - Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với sự thất bại của chủ nghĩa phát xít, quân phiệt. Bản thân các nước đế quốc có nhiều thuộc địa ở Đông Nam Á như: Anh, Pháp, Hà Lan đã bị phát xít giáng đòn chí tử không những ở chính quốc mà ngay tại các nước thuộc địa. Đây là điều kiện khách quan thuận lợi cho sự bùng nổ phong trào giải phóng dân tộc sau chiến tranh. - Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa xã hội từ một nước trở thành hệ thống thế giới. Chủ nghĩa xã hội vừa là đồng minh, vừa là chỗ dựa cho cuộc đấu tranh giành độc lập cho các dân tộc thuộc địa trên thế giới nói chung, ở Đông Nam Á nói riêng. - Cũng từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào cộng sản, phong trào công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ phát triển mạnh ở các nước tư bản. Đó lànhững đồng minh tự nhiên của phong trào giành độc lập của các quốc gia Đông Nam Á (vì có chung kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc). - Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Đông Nam Á trở thành điểm sôi động nhất trong cuộc Chiến tranh lạnh, là nơi đụng đầu quyết liệt nhất giữa hai lực lượng quốc tế. Từ đây, ở Đông Nam Á có những điều kiện khách quan thuận lợi và không thuận lợi cho sự bùng nổ và thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc. - Trong những năm cuối cùng của Chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt là sau chiến tranh, ở khu vực Đông Nam Á, mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp chằng chéo nhau và trở nên hết sức căng thẳng. Đây là nguyên nhân dẫn tới sự bùng nổ của cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Đông Nam Á. - Trong những năm cuối cùng của Chiến tranh thế giới thứ hai và những năm sau chiến tranh, các lực lượng xã hội ở Đông Nam Á lớn mạnh không ngừng. Giai cấp tư sản dân tộc và tiểu tư sản ngày càng lớn mạnh, là khởi nguồn của cuộc đấu tranh dân tộc. Ở nhiều nước, giai cấp tư sản dân tộc đã nắm ngọn cờ đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong khi đó, đội ngũ của giai cấp vô sản cũng ngày
- càng đông đảo, trưởng thành về ý thức. Nhiều Đảng Cộng sản ở khu vực đứng ra đảm nhận nhiệm vụ lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc (Việt Nam, Lào). Câu 17: a) Trình bày hoàn cảnh ra đời, mục tiêu và hoạt động của tổ chức ASEAN. b) Tại sao có thể nói: Từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX, “một chương mới đã mở ra trong lịch sử khu vực Đông Nam Á”? a. Hoàn cảnh ra đời, mục tiêu và hoạt động của tổ chức ASEAN * Hoàn cảnh ra đời: - Sau khi giành được độc lập và đứng trước những khó khăn, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhiều nước Đông Nam Á có nhu cầu thành lập một tổ chức liên minh khu vực, nhằm cùng nhau hợp tác, đưa nền kinh tế khu vực phát triển đi lên. Đồng thời muốn hạn chế ảnh hưởng của các nước lớn bên ngoài, nhất là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mĩ ngày càng tỏ rõ không tránh khỏi thất bại cuối cùng. - Nhiều tổ chức hợp tác mang tính khu vực xuất hiện ở nhiều nơi. Sự thành công của khối thị trường chung Châu Âu đã cổ vũ các nước Đông Nam Á tìm cách liên kết lại với nhau. - Ngày 8/8/1967, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập tại Bangkok (Băng Cốc - Thái Lan), gồm 5 nước: Indonesia, Malaysia, Singapore, Philippine và Thái Lan. Trụ sở ở Jakarta (Gia-các-ta - Indonesia). * Mục tiêu: - Phát triển kinh tế và văn hóa thông qua hợp tác chung giữa các nước thành viên vì một Đông Nam Á hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển. * Hoạt động: - Từ 1967 – 1975: tổ chức non trẻ, hợp tác lỏng lẻo, chưa có vị trí trên trường quốc tế. - Từ 1976 đến nay: hoạt động khởi sắc từ sau Hội nghị Bali (Indonesia) tháng 2/1976, với việc ký Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á (Hiệp ước Bali). - Từ sau 1975, ASEAN cải thiện quan hệ với Đông Dương. Tuy nhiên, từ 1979 - 1989, quan hệ giữa hai nhóm nước trở nên căng thẳng do vấn đề Campuchia. Đến 1989 khi vấn đề Cam-pu-chia đực giải quyết, hai bên bắt đầu quá trình đối thoại, tình hình chính trị khu vực cải thiện căn bản. Thời kỳ này kinh tế ASEAN tăng trưởng mạnh. - Tổ chức ASEAN không ngừng mở rộng các thành viên tham gia, nhất là trong thập kỉ 90: Năm 1984: Bru-nây, năm 1995: Việt Nam, năm 1997: Lào và Mi-an-ma, năm 1999: Cam-pu-chia gia nhập ASEAN. - Sau khi phát triển thành 10 thành viên (1999), ASEAN đẩy mạnh hoạt động hợp tác kinh tế, xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định để cùng phát triển. Năm 1992, lập khu vực mậu dịch tự do Đông nam Á (AFTA) rồi Diễn đàn khu vực (ARF), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), có sự tham gia của nhiều nước Á - Âu. - Tháng 11/2007, các nước thành viên đã ký bản Hiến chương ASEAN nhằm xây dựng ASEAN thành một cộng đồng vững mạnh. - Ngày 31/12/2015, Cộng động ASEAN được thành lập dựa trên 3 trụ cột: cộng đồng kinh tế - cộng đồng an ninh, chính trị - cộng đồng văn hóa, xã hội. b. Từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX, “một chương mới đã mở ra trong lịch sử khu vực Đông Nam Á” vì: - Từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX, xu hướng nổi bật đầu tiên là sự mở rộng các thành viên của Hiệp hội. Lần lượt các nước đã gia nhập ASEAN: Việt Nam vào năm 1995, Lào và Mi-an-ma – năm 1997, Cam-pu-chia – năm 1999. - Lần đầu tiên trong lịch sử, các nước ĐNA đứng trong 1 tổ chức thống nhất. Với 10 nước thành viên, ASEAN trở thành một tổ chức khu vực ngày càng có uy tín với những hợp tác kinh tế (AFTA, 1992) và hợp tác an ninh (Diễn đàn khu vực ARF, 1994). Nhiều nước ngoài khu vực đã tham gia hai tổ chức trên như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mĩ, Ấn Độ,... Câu 18. Bằng kiến thức lịch sử đã học và liên hệ thực tiễn. Em hãy chứng minh: Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, các nước Châu Á đã đạt được nhiều thắng lợi to lớn. Nhưng hiện nay vẫn đang đứng trước khó khăn và thử thách.
- a. Thắng lợi của Châu Á từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay. + Thứ nhất: Các nước đều giành độc lập dân tộc. - Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở Châu Á. Tới cuối những năm 50, phần lớn các nước Châu Á đều giành được độc lập dân tộc như: In-đô-nê-xi-a (17/8/1945), Việt Nam (2/9/1945), Lào (12/10/1945). Nhân dân các nước Mã Lai (ma-lai-xi-a), Miến Điện (Mi-an-ma), Phi- líp-pin đều nổi dậy đấu tranh và giải phóng được nhiều vùng đất rộng lớn - Ngay sau đó, nhiều nước Đông Nam Á phải chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc. Trước phong trào đấu tranh của nhân dân, các nước đế quốc phải trao trả độc lập cho 3 nước Đông Dương (1954), Phi-líp-pin (7/1946), Miến Điện (1948), Mã Lai (8/1957), - Tại Trung Quốc: cuối năm 1949, cuộc nội chiến kết thúc, toàn bộ lục địa Trung Quốc được giải phóng. - Ấn Độ: Trước sức ép của phong trào đấu tranh nhân dân Ấn Độ, thực dân Anh buộc phải nhượng bộ. Đến năm 1950, Ấn Độ tuyên bố giành độc lập và thành lập nước cộng hòa. + Thứ hai: Đạt được nhiều thành tựu to lớn trong xây dựng đất nước và hợp tác phát triển. - Những năm 60 thế kỉ XX: Nhật Bản trở thành cường quốc công nghiệp trên thế giới, đứng thứ hai trong thế giới tư bản chủ nghĩa, - Trung Quốc: Từ năm 1978 đến nay: Kinh tế phát triển nhanh chóng, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng trưởng bình quân hằng năm: 9,6%, đời sống nhân dân được nâng cao - Ấn Độ: “Cách mạng xanh” trong nông nghiệp, Công nghệ thông tin, công nghệ viễn thông phát triển mạnh mẽ,... - Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông, Xin-ga-po trở thành “bốn con rồng của Châu Á”, Thái Lan, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin cũng đạt nhiều thành tự to lớn, - Việt Nam nền kinh tế có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, an ninh, chính trị ổn định, đời sống nhân dân cải thiện. - Các tổ chức ở Châu Á được thành lập trên cơ sở hợp tác cùng phát triển: Tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), b. Khó khăn, thử thách của các nước Châu Á hiện nay: - Tình hình chính trị phức tạp, không ổn định: sự can thiệp của các nước đế quốc, ly khai, khủng bố, xung đột, bạo lực,.. ở Irắc, Áp-ga-ni-xtan, In-đô-nê-xi-a, - Vấn đề điểm nóng: Biển Đông, bán đảo Triều Tiên,... - Thiên tai hoàn hành: động đất, núi lửa, sóng thần, bão lụt, (DC) - Tệ nạn xã hội, tham nhũng, dịch bệnh (gần đây đại dịch COVID phát hiện đầu tiên ở Trung Quốc), ô nhiễm môi trường, Câu 19. Phân tích bối cảnh lịch sử tác động đến sự kiện Việt Nam gia nhập ASEAN. Từ khi gia nhập đến nay Việt Nam đã có những đóng góp gì cho sự phát triển của tổ chức này? a. Phân tích bối cảnh lịch sử tác động đến sự kiện Việt Nam gia nhập ASEAN: * Bối cảnh quốc tế: - Sự thay đổi trong quan hệ quốc tế từ đối đầu căng thẳng sang hòa bình, hợp tác cùng phát triển. - Tác động của cuộc cách mạng KH – KT và công nghệ cùng với xu thế toàn cầu hóa đã tác động đến đường lối phát triển, sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của tất cả các nước * Bối cảnh khu vực: - Vấn đề Campuchia được giải quyết, mở ra cơ hội, cánh cửa cho quan hệ giữa ASEAN với nhóm các nước Đông Dương, tạo điều kiện cho sự mở rộng thành viên của ASEAN - Các nước ASEAN khi chuyển trọng tâm sang phát triển kinh tế bên cạnh hợp tác an ninh – chính trị thì cũng có nhu cầu mở rộng thành viên, có nhu cầu hợp tác với Việt Nam. * Về phía Việt Nam: - Kể từ năm 1986 khi Việt Nam thực hiện đường lối Đổi mới đất nước, khi triển khai đường lối này thì Đảng và Chính phủ Việt Nam đã chủ trương chính sách đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác. Tại Đại hội VII được cụ thể hóa hơn: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, sẵn sàng tham gia vào các tổ chức, các diễn đàn khu vực và thế giới Đó chính là một tín hiệu đáng mừng, một thông điệp ngoại giao được các nước ASEAN đánh giá cao
- - Sau gần 10 năm thực hiện đường lối Đổi mới (1986 – 1995), mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng vẫn còn nhiều khó khăn. Vì thế, để đường lối Đổi mới tiếp tục đạt được những thành tựu lớn hơn, Đảng ta chủ trương tham gia vào các tổ chức khu vực và trên thế giới. Việc gia nhập vào ASEAN được Đảng xác định như một bước chân mở đầu cho quá trình hội nhập với khu vực và thế giới. b. Những đóng góp của Việt Nam kể từ khi gia nhập ASEAN: - Kể từ năm 1995 đến nay, khi đã trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN thì đó chính là thời cơ, là cơ hội cho quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Qua diễn đàn ASEAN, Việt Nam đã thu hút được những sự đầu tư lớn, học hỏi được kinh nghiệm về quản lí và phát triển đất nước của các nước bạn, Việt Nam cũng nhận được sự giúp đỡ, sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng khu vực và quốc tế, Chính vì thế có thể nói việc gia nhập vào ASEAN là một trong những điều kiện góp phần vào sự phát triển của Việt Nam. - Tuy nhiên, từ khi gia nhập ASEAN cho đến nay, Việt Nam với tư cách là một thành viên của tổ chức, cũng đã có những đóng góp cho sự phát triển hiệu quả và bền vững của ASEAN. Những đóng góp đó được thể hiện: - Thứ nhất: Khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã tuân thủ và thực hiện đầy đủ, nghiêm túc những nguyên tắc, quy chế hoạt động của ASEAN đặc biệt là nguyên tắc hoạt động của Hiệp ước Bali, đồng thời chúng ta cũng tham gia tích cực vào những diễn đàn vốn có của ASEAN (ARF, AFTA). - Thứ hai: Việt Nam có nhiều sáng kiến, có nhiều đóng góp cho sự phát triển của tổ chức: + Việt Nam là một nước thành viên có ý tưởng về việc khắc phục những yếu kém của ASEAN, đó là giải pháp làm rút ngắn khoảng cách giàu – nghèo giữa các nước thành viên. + Việt Nam chính là một trong những quốc gia có ý tưởng đề xuất về việc thành lập Diễn đàn kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) qua đó thúc đẩy sự hợp tác của ASEAN ra bên ngoài. Ý tưởng đó đã được sự ủng hộ của ASEAN + Việt Nam chính là quốc gia thành viên đề xuất ý tưởng về việc thành lập Cộng đồng ASEAN với 3 trụ cột, bên cạnh cộng đồng kinh tế và cộng đồng an ninh – chính trị thì cần phải có cộng đồng về văn hóa – xã hội. Tiếp thu ý tưởng này, ASEAN đã thông qua Hiến chương ASEAN năm 2007 và đi đến thành lập Cộng đồng ASEAN năm 2015 với 3 trụ cột: kinh tế, an ninh – chính trị và văn hóa – xã hội. - Thứ ba: Đối với lĩnh vực an ninh – chính trị, Việt Nam là một trong những quốc gia thành viên có những đóng góp tích cực vào quá trình duy trì nền hòa bình, ổn định của khu vực. Đó chính là những giải pháp đề giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn giữa các nước thành viên nội khối với nhau. Đặc biệt, Việt Nam là quốc gia rất kiên định, rõ ràng, quyết đoán về những vẫn đề liên quan đến chủ quyền biển đảo, kiên quyết chống lại những thế lực gây bất ổn khu vực, Câu 20. Trình bày và phân tích ý nghĩa của những sự kiện mang tính bước ngoặt của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) từ khi thành lập đến nay. Vì sao từ những năm 90 thế kỉ XX trở đi, trong hoạt động của mình, ASEAN đẩy mạnh hợp tác kinh tế song song với hợp tác an ninh chính trị? a. Những sự kiện mang tính bước ngoặt của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) từ khi thành lập đến nay: - 8/8/1967, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) thành lập với mục tiêu phát triển kinh tế văn hóa thông qua những nỗ lực hợp tác chung giữa các nước thành viên, trên tinh thần duy trì hòa bình và ổn định khu vực -> tạo nền tảng cho quá trình liên kết, hợp tác khu vực - 2/1976, các nước ASEAN ký Hiệp ước thân thiện hợp tác ở Đông Nam Á tại Bali (Inđônêxia), xác định những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các nước thành viên đánh dấu sự khởi sắc và mở ra một thời kỳ phát triển mới của ASEAN (quan hệ giữa các nước Đông Dương với ASEAN được cải thiện, ASEAN mở rộng thành viên, kinh tế chuyển biến mạnh mẽ, đạt được sự tăng trưởng cao...) - Từ đầu những năm 90, Chiến tranh lạnh kết thúc, vấn đề Campuchia được giải quyết tình hình chính trị khu vực được cải thiện rõ rệt, ASEAN có điều kiện mở rộng tổ chức, kết nạp thành viên mới (từ ASEAN 6 thành ASEAN 10) ASEAN chuyển trọng tâm sang hoạt động hợp tác kinh tế (song song với hợp tác an ninh chính trị), xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, ổn định, cùng phát triển. Một chương mới mở ra trong lịch sử khu vực Đông Nam Á...
- - 11-2007: Hiến chương ASEAN được kí kết nhằm xây dựng một cộng đồng ASEAN vững mạnh. Cuối năm 2015, Cộng đồng ASEAN ra đời -> đưa ASEAN thành một tổ chức hợp tác liên Chính phủ liên kết sâu rộng hơn và ràng buộc hơn trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN; nâng quá trình liên kết khu vực lên một tầm cao mới b. Từ những năm 90 thế kỉ XX trở đi, ASEAN đẩy mạnh hợp tác kinh tế song song với hợp tác an ninh chính trị, vì: - Trước thập niên 90, trong hoạt động của mình, ASEAN rất coi trọng vấn đề an ninh chính trị bởi thế giới trong thời kì đó chìm đắm trong những căng thẳng, đối đầu giữa 2 khối nước TBCN và XHCN, giữa Liên Xô và Mĩ, giữa 2 nhóm nước ở Đông Nam Á, trong bối cảnh của cuộc chiến tranh lạnh. Do đó mọi ưu tiên trong hợp tác của ASEAN là vấn đề an ninh chính trị - Từ những năm 90 của thế kỉ XX trở đi, khi chiến tranh lạnh chấm dứt, quan hệ đối đầu từng bước nhường chỗ cho đối ngoại, hợp tác, môi trường hòa bình thay thế cho những xung đột căng thẳng trên thế giới; các nước điều chỉnh chiến lược phát triển lấy kinh tế làm trọng điểm - Ở Đông Nam Á, chiến tranh Đông Dương kết thúc, sự đối đầu giữa nhóm nước sáng lập ASEAN với Đông Dương về Campuchia không còn, khi vấn đề Campuchia được giải quyết. Từ chiến trường, Đông Dương trở thành thị trường trong lĩnh vực hợp tác kinh tế, các nước Đông Dương và Mianma lần lượt gia nhập ASEAN, VN 1995, Lào và Mianma 1997, Campuchia 1999, 10 nước ĐNA cùng đứng chung trong 1 tổ chức khu vực, cùng có nguyện vọng hợp tác kinh tế, hợp tác an ninh chính trị, xây dựng ĐNA thành khu vực hòa bình, ổn định và phát triển Câu 21. Tóm tắt cuộc đấu tranh giành độc lập ở các nước châu Phi sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Nêu những khó khăn, thử thách của các nước châu Phi trong công cuộc phát triển kinh tế, xã hội. Tại sao cuộc đấu tranh chống chế độ A-pác-thai được xếp vào phong trào giải phóng dân tộc? a) Tóm tắt - Phong trào đấu tranh bùng nổ sớm nhất ở Bắc Phi, sau đó lan ra các vùng khác. Mở đầu là cuộc binh biến của sĩ quan và binh lính yêu nước Ai Cập (7/1952) lật đổ vương triều Pha-rúc, chỗ dựa của thực dân Anh, lập nên nước Cộng hoà Ai Cập. Cùng năm 1952, nhân dân Li-bi giành được độc lập. - Hệ thống thuộc địa của thực dân ở châu Phi nối tiếp nhau tan rã, các quốc gia độc lập lần lượt xuất hiện như Tuy-ni-di, Ma-rốc, Xu-đăng (1956), Ga-na (1957); Ghi-nè (1958),... - Năm 1960 được lịch sử ghi nhận là “Năm châu Phi” với 17 nước được trao trả độc lập. Năm 1975, nhân dân Mô-dăm-bích và Ăng-gô-la giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chóng thực dân Bồ Đào Nha, về cơ bản chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ ở châu Phi. - Từ cuối những năm 70 (thế kỷ XX), chủ nghĩa thực dân chỉ còn tồn tại dưới hình thức chế độ phân biệt chủng tộc (A-pác-thai), tập trung ở ba nước: Rô-đê-di-a, Tây Nam Phi và Cộng hoà Nam Phi. Năm 1980, chính quyền của người da đen đã được thành lập ở Rô-de-di-a (Dim-ba-bu-ê) sau đó là Tây Nam Phi (1990). Năm 1994, chế độ phân biệt chủng tộc bị xoá bỏ hoàn toàn ở Cộng hoà Nam Phi. b) Những khó khăn, thử thách - Nhiều nước châu Phi vẫn ở tình trạng đói nghèo, lạc hậu, nợ nần chồng chất và các dịch bệnh hoành hành, Liên Hợp Quốc xếp 32 trong 57 nước châu Phi vào nhóm những nước nghèo nhất thế giới. - Từ cuối những năm 80 (thế kỷ XX), tình hình chính trị, xã hội các nước châu Phi không ổn định. Đó là các cuộc xung đột nội chiến đẫm máu do mâu thuẫn sắc tộc hoặc tôn giáo. Từ năm 1987 đến năm 1997, châu Phi có 14 cuộc xung đột và nội chiến. - Trong những năm gần đây, cùng với sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, các nước châu Phi đã tích cực tìm kiếm các giải pháp, đề ra cải cách nhằm giải quyết cuộc xung đột, khắc phục những khó khăn về kinh tế, thành lập các tổ chức liên minh khu vực. Lớn nhất là Tổ chức thống nhất châu Phi (Liên minh châu Phi). c) Giải thích - Nam Phi là thuộc địa của thực dân Hà Lan (thế kỉ XVII, XVIII), đầu thế ki XIX là thuộc địa của Anh. Chế độ A-pác-thai là chế độ phân biệt chủng tộc tàn bạo của thực dân người da trắng đối với người da đen và da màu.
- - Như vậy, chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi là hình thái của chủ nghĩa thực dân, đánh đổ chế độ này là đánh đổ một hình thái áp bức, bóc lột thực dân. Nên cuộc đấu tranh chống chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi được xếp vào phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Câu 22. Những nét nổi bật (về chính trị và kinh tế) ở Mĩ La-tinh từ sau năm 1945 đến năm 2000. Nêu điểm khác biệt trong phong trào đấu tranh giành và bảo vệ độc lập của các nước khu vực Mỹ Latinh với các nước ở châu Á và châu Phi. a) Những nét nổi bật ở Mĩ Latinh - Mĩ Latinh gồm 33 nước, diện tích trên 20,5 triệu km và dân số là 531 triệu người (2002). Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, về hình thức nhiều nước ở Mĩ La-tinh là những quốc gia độc lập, nhưng thực tế lại bị lệ thuộc vào Mĩ, là “sân sau” của nước Mĩ. - Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài thân Mĩ bùng nổ và phát triển ở nhiều nước Mĩ Latinh, mở đầu bằng cuộc cách mạng Cu-ba. Ngày 1/1/1959, chế độ Ba-ti- xta sụp đổ, nước Cộng hoà Cu-ba ra đời do Phi-đen Cát-xtơ-rô đứng đầu. - Từ đầu những năm 60 đến những năm 80 của thế kỉ XX, một cao trào đấu tranh đã bùng nổ ở Mĩ Latinh: + Dưới ảnh hưởng của cách mạng Cu-ba, những năm 60 – 70, phong trào đấu tranh chống Mĩ và chế độ độc tài thân Mĩ ở khu vực ngày càng phát triển và thu nhiều thắng lợi. + Cùng với hình thức bãi công của công nhân, nổi dậy của nông dân, đấu tranh nghị trường để thành lập các chính phủ tiến bộ, phong trào đấu tranh vũ trang diễn ra mạnh mẽ đã biến Mĩ La-tinh thành "lục địa bùng cháy" của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. + Nhân dân Pa-na-ma sôi nổi đấu tranh, Mĩ phải trả lại chủ quyền kênh đào cho Pa-na-ma. Đến năm 1983, trong vùng Ca-ri-bê đã có 13 quốc gia độc lập. + Phong trào đấu tranh vũ trang chống chế độ độc tài ở các nước Vê-nê xu-ê-la, Goa-tê-ma-la, Cô- lôm-bia, Pê-ru, Ni-ca-ra-goa, Chi-lê, En Xan-va-do... đã diễn ra liên tục. Kết quả là chính quyền độc tài bị lật đổ, các Chính phủ dân tộc dân chủ được thiết lập. - Trong công cuộc xây dựng đất nước, các nước Mĩ La-tinh đã thu được nhiều thành tựu quan trọng: củng cố độc lập chủ quyền, dân chủ hoá sinh hoạt chính trị, tiến hành các cải cách kinh tế và thành lập các tổ chức liên minh khu vực về hợp tác và phát triển kinh tế. b) Điểm khác - Hoàn cảnh lịch sử: + Khu vực Mỹ Latinh giành được độc lập sớm (đầu thế kỉ XIX), nhưng sau đó lệ thuộc vào Mỹ, trở thành “sân sau” của Mỹ và thiết lập chế độ độc tài thân Mỹ. Thực chất, Mĩ Latinh đã trở thành thuộc địa kiểu mới của Mĩ. + Các nước châu Á và châu Phi, là thuộc địa của các nước tư bản Âu – Mỹ ngoại trừ một số nước là thuộc địa kiểu mới của Mĩ (khu vực Đông Nam Á), còn lại là các thuộc địa kiểu cũ của Anh, Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha. - Mục tiêu đấu tranh: + Ở Mỹ Latinh đấu tranh xóa bỏ chế độ độc tài thân Mỹ, thành lập các chính phủ tiến bộ, qua đó giành, bảo vệ và củng cố độc lập. + Các nước châu Á và châu Phi mục tiêu chủ yếu đấu tranh nhằm lật độ chính quyền thực dân giành độc lập. - Hình thức đấu tranh: + Ở Mỹ Latinh có hình thức đấu tranh rất phong phú: Đấu tranh vũ trang (Vênêduêla, Goatêmada, Colômbia, Peru, Nicaragoa, Chile, Enxanvado...); bãi công của công nhân ở nhiều nước; nổi dậy của nông dân đòi ruộng đất; đấu tranh nghị trường đòi thành lập chính phủ tiến bộ. + Còn ở châu Á và châu Phi là hình thức đấu tranh chính trị hoặc vũ trang nhằm đòi quyền độc lập dân tộc. Câu 23. Nêu những điều kiện thuận lợi tác động đến sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Á, Phi, Mila tinh sau Chiến tranh thể giới thứ hai. Phân tích ý nghĩa thắng lợi của phong trào đó. a) Những điều kiện
- - Trong giai đoạn kết thúc chiến tranh, mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp ở các nước Á, Phi, Mĩ Latinh đã trở nên hết sức gay gắt. - Các lực lượng xã hội như giai cấp tư sản dân tộc và vô sản ở các nước Á, Phi, Mĩ Latinh đã lớn mạnh, đã thành lập được các chính đảng của mình, trở thành lực lượng lãnh đạo phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của mỗi nước. - Sự kết thúc chiến tranh thế giới II với sự thất bại của chủ nghĩa phát xít, quân phiệt, cũng như các nước đế quốc có nhiều thuộc địa (Anh, Pháp, Hà Lan) trong thời kì chiến tranh đã bị lực lượng phát xít giáng đòn chí tử không những ở chính quốc mà ở ngay các nước thuộc địa là điều kiện khách quan cho sự bùng nổ phong trào giải phóng dân tộc sau chiến tranh. - Sau chiến tranh thế giới II, chủ nghĩa xã hội đã trở thành hệ thống thế giới là chỗ dựa vững chắc cho phong trào giải phóng dân tộc. Sự lớn mạnh và phát triển của phong trào công nhân quốc tế, của các lực lượng dân chủ, hòa bình đã tác động thuận lợi đến phong trào giải phóng dân tộc. b) Ý nghĩa - Đã xoá bỏ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, làm cho hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phân biệt chủng tộc kéo dài nhiều thế kỉ sụp đổ hoàn toàn. Qua đó, góp phần làm suy yếu chủ nghĩa đế quốc, tăng thêm sức mạnh cho phong trào cách mạng thế giới. - Đã góp phần vào quá trình làm “xói mòn” và tan rã trật tự thế giới hai cực Ianta được thiết lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai. - Sự ra đời của hơn 100 quốc gia độc lập đã điều các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Thắng lợi đó đã làm cho bản đồ chính trị thế giới có những thay đổi to lớn và sâu sắc. - Sau khi giành được độc lập dân tộc, các quốc gia độc lập ngày càng tích cực tham gia và có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị thế giới. Câu 24. Tóm tắt các giai đoạn phát triển thắng lợi của phong trào giáo phóng dân tộc ở các nước Á, Phi, Mi Latinh từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 2000, Thắng lợi đó đã tác động đến quan hệ quốc tế như thế nào? a) Các giai đoạn phát triển thắng lợi * Giai đoạn từ năm 1945 đến giữa những năm 60 của thế kỷ XX - Ngay khi phát xít Nhật đầu hàng, nhân dẫn nhiều nước Đông Nam Á đã nổi dậy, tiến hành khởi nghĩa vũ trang, lật đổ ách thống trị của phát xít, thành lập chính quyền cách mạng, tiêu biểu là In- đô-nê-xi-a (17/8/1945), Việt Nam (2/9/1945) và Lào (12/10/1945). - Phong trào lan nhanh sang các nước Nam Á và Bắc Phi. Nhiều nước ở hai khu vực này liên tiếp nổi dậy giành độc lập thắng lợi như Ấn Độ (1946 - 1950), Ai Cập (1952), An-giê-ri (1954-1962). - Năm 1959, nhân dân Cu Ba lật đổ chế độ độc tài thân Mĩ. - Năm 1960, 17 nước châu Phi tuyên bố độc lập. * Giai đoạn từ giữa những năm 60 đến giữa những năm 70 của thế kỉ XX - Từ giữa những năm 60 (thế kỷ XX), nhân dân các nước Ăng-gô-la, Môn-dăm-bích và Ghi-nê Bít- xao đấu tranh vũ trang nhằm lật đổ ách thống trị của Bồ Đào Nha. - Chính quyền Bồ Đào Nha phải tuyên bố trao trả độc lập cho Ghi-nê Bít-xao (9/1974), Mô-dăm- bích (6/1975) và Ăng-gô-la (11/1975). * Giai đoạn từ giữa những năm 70 đến giữa những năm 90 của thế kỉ XX - Từ cuối những năm 70 đến dấu những năm 90 (thế kỷ XX), chủ nghĩa thực dân chỉ còn tồn tại dưới hình thức chế độ phân biệt chủng tộc (A-pác-thai), tập trung ở ba nước: Rô-đê-di-a, Tây Nam Phi và Cộng hoà Nam Phi. - Năm 1980, chính quyền của người da đen đã được thành lập ở Rô-đê di-a (Dim-ba-bu-ê), sau đó là Tây Nam Phi (1990). - Năm 1993, chế độ phân biệt chủng tộc bị xoá bỏ hoàn toàn ở Cộng hoà Nam Phi. Đến đây, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc bị sụp đổ hoàn toàn. b) Tác động đến quan hệ quốc tế - Đã xoá bỏ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, làm cho hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phân biệt chủng tộc kéo dài nhiều thế kỉ sụp đổ hoàn toàn. Qua đó, góp phần làm suy yếu chủ nghĩa đế quốc, tăng thêm sức mạnh cho phong trào cách mạng thế giới.
- - Đã góp phần vào quá trình làm "xói mòn" và tan ra trật tự thế giới hai cực Ianta được thiết lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai. - Sự ra đời của hơn 100 quốc gia độc lập đã đưa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Thắng lợi đó đã làm cho bản đồ chính trị thế giới có những thay đổi to lớn và sâu sắc. - Sau khi giành được độc lập dân tộc, các quốc gia độc lập ngày càng tích cực tham gia và có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị thế giới. Cầu 25. Hãy chứng minh rằng sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc đã làm cho thế kỉ XX trở thành một "thế kỉ giải trừ chủ nghĩa thực dân"? Cách mạng Việt Nam có vai trò như thế nào trong phong trao đó? a) Thế kỉ XX trở thành một "thế kỉ giải trừ chủ nghĩa thực dân - Trong thế kỉ XX, nhất là sau Chiến tranh thế giới thứ hai, một cao trào giải phóng dân tộc đã dấy lên mạnh mẽ ở các nước Á, Phi và Mỹ Latinh. Đến cuối thế kỉ XX, hầu hết các nước thuộc địa và phụ thuộc ở các khu vực Á, Phi và Mỹ Latinh đã giành được độc lập, hơn 100 quốc gia độc lập trẻ tuổi đã ra đời, bản đồ chính trị thế giới đã thay đổi căn bản. + Khu vực châu Á; hầu hết các nước đã giành được độc lập dân tộc như Trung Quốc (1949), Ấn Độ (1950), Việt Nam, Lào và Campuchia (1945-1975), Inđônêxia, Malaixia, Xingapo, Philíppin, Mianma (những năm 1945-1960). + Khu vực châu Phi: Từ năm 1945-1975, phong trào giành độc lập giành thắng lợi ở nhiều nước vùng Bắc Phi và vùng châu Phi xích đạo. Năm 1960, 17 nước châu Phi tuyên bố độc lập, lịch sử gọi là “năm châu Phi”. Năm 1975, thắng lợi của nhân dân Môdămbích, Ănggôla trong cuộc đấu tranh chóng thực dân Bồ Đào Nha về cơ bản đã chấm dứt sự tồn tại chủ nghĩa thực dân cũ ở châu Phi cùng hệ thống thuộc địa của nó. Sau năm 1975, nhân dân các thuộc địa còn lại ở châu Phi hoàn thành cuộc đấu tranh đánh đổ ách thống trị thực dân cũ, giành độc lập và quyền sống của con người. Tại Nam Phi, năm 1993, chế độ Apacthai - một hình thái của chủ nghĩa thực dân cũ đã hoàn toàn bị xóa bỏ. Sự kiện này đánh dấu thắng lợi hoàn toàn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở châu Phi. + Khu vực Mỹ Latinh: Thắng lợi của cách mạng Cuba (1953-1959) Ngày 1/1/1959, chế độ độc tài Batixta sụp đổ nước Cộng hòa Cuba ra đời do Phiden đứng đầu. Cách mạng Cuba thắng lợi đã ảnh hưởng, tác động tới phong trào đấu tranh giành và bảo vệ độc lập của nhân dân Mỹ Latinh. Đến năm 1983, tại vùng biển Caribê đã có 13 quốc gia giành độc lập, Mỹ Latinh đã trở thành "Lục địa bùng cháy, chính quyền độc tài ở nhiều nước bị lật đổ, các chính phủ dân tộc được thiết lập. - Thắng lợi đó đã làm cho bản đồ chính trị thế giới có những thay đổi to lớn và sâu sắc. Hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc kéo dài nhiều thế kỉ sụp đổ hoàn toàn. - Trên cơ sở xoá bỏ chủ nghĩa thực dân, các quốc gia độc lập ra đời và ngày càng có vai trò quan trọng đời sống chính trị thế giới với ý chí chống chủ nghĩa thực dân, vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. - Như vậy, với thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc đã làm cho thế kỉ XX trở thành một "thế kỉ giải trừ chủ nghĩa thực dân". b) Vai trò của Việt Nam - Cách mạng tháng Tám 1945, cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) thắng lợi, nhân dân Việt Nam đã giành và bảo vệ được nên độc lập dân tộc của mình. Những thắng lợi đó có tác dụng cố vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. - Đặc biệt, cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân Việt Nam, mang tính đụng đầu lịch sử, tác động đến nội tình nước Mĩ; là một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế và có tính thời đại sâu sắc. Câu 26. Khái quát mối quan hệ Việt Nam - Cu-ba từ năm 1960 đến nay. Nền tảng tác động đến quan hệ Việt Nam - Cu-ba là gì? a. Quan hệ Việt Nam - Cu-ba từ năm 1960 đến nay: - Quan hệ song phương giữa hai nước Việt Nam và Cu-ba, được thiết lập này 2 - 12 - 1960 giữa Chính phủ Cộng hòa Cu-ba và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
- * Trên lĩnh vực kinh tế: - Việt Nam và Cu-ba đang hợp tác kinh tế song phương trong nhiều lĩnh vực dựa vào thế mạnh của mỗi nước. Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, dầu khí, viễn thông, giáo dục và y tế. Petro Việt Nam đang có các dự án thăm dò khai thác dầu khí tại Cu-ba. Tổng kim ngạch thương mại hai chiều của Việt Nam - Cu-ba đạt mức 250 triệu USD vào năm 2010. * Trên lĩnh vực văn hóa, chính trị - Hai nước đã có mối quan hệ chính trị sâu sắc và gắn kết vững bền từ năm 1960 đến nay. - Tháng 12-1960, hai nước Việt Nam và Cu-ba thiết lập quan hệ ngoại giao, từ đó mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước đã phát triển toàn diện cả chiều rộng lẫn chiều sâu, trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật. Tượng đài Hồ Chí Minh đã được khánh thành tại thủ đô La-ha-ba-na (năm 2003). - Cách mạng Cu-ba thành công vào lúc nhân dân ta đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nhận rõ tính chất thời đại của sự nghiệp đấu tranh của Việt Nam, Đảng, Nhà nước, nhân dân Cu-ba và đồng chí Fidel Castro đã dành cho nhân dân ta sự ủng hộ và giúp đỡ vô cùng quý báu, có hiệu quả cả tinh thần lẫn vật chất. - Với tinh thần “Vì Việt Nam, chúng ta sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình" (Fidel Castro), một phong trào quần chúng rộng rãi ủng hộ Việt Nam đã được triển khai khắp cả nước với các hình thức rất phong phú: mít-tinh, xuống đường chống đế quốc Mỹ, hội thảo, nói chuyện, thi tìm hiểu về Việt Nam, lập các tổ nghiên cứu chuyên đề về Việt Nam tại các trường đại học, cơ quan, xí nghiệp, đơn vị quân đội... Đài phát thanh La-ha-ba-na đã dành riêng một kênh phát bằng tiếng Anh sang Mỹ, ngày phát 6 buổi để giới thiệu với nhân dân Mỹ về tình hình Việt Nam và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, góp phần cùng Việt Nam tranh thủ dư luận tiến bộ Mỹ, ủng hộ Việt Nam, đòi chấm dứt chiến tranh. - Giữa lúc đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, nhiều kỹ sư, công nhân Cu- ba đã sang xây dựng một số công trình quan trọng phục vụ quốc kế dân sinh: Khách sạn Thắng Lợi, Bệnh viện Đồng Hới, xa lộ Xuân Mai - Sơn Tây, đường Hồ Chí Minh; nhiều bác sĩ, nhân viên y tế Cu-ba đã sang giúp chữa trị cho các nạn nhân chiến tranh. - Bất chấp sự phong tỏa bằng bom, mìn của đế quốc Mỹ, các tàu Cu-ba vẫn cập cảng Hải Phòng vận chuyển hàng cứu trợ của nhân dân Cu-ba giúp nhân dân ta. - Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, Cu-ba là nước đầu tiên công nhận Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và cho đặt cơ quan đại diện thường trú của Mặt trận tại La Ha-ba-na, sau đó, Cu-ba đã cử Đạ sứ bên cạnh Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam tại vùng giải phóng. - Trong lúc chiến tranh diễn ra ác liệt, đồng chí Fidel là nguyên thủ quốc gia đầu tiên và duy nhất đến thăm một vùng giải phóng của miền Nam. Chuyến thăm Việt Nam đầu tiên này của đồng chí Fidel là nguồn cổ vũ to lớn đối với nhân dân ta, đẩy mạnh hơn nữa cuộc chiến đấu oanh liệt tới thắng lợi cuối cùng đối với sự nghiệp giải phóng và độc lập dân tộc của nhân dân ta. - Khi Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, Mỹ siết chặt cấm vận, lại bị thiên tại tàn phá liên tiếp, Cu-ba đã phải đương đầu với rất nhiều khó khăn. Trước tình hình trên, Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và nhân dân ta đã dành cho Cu-ba anh em sự ủng hộ hết lòng, góp phần khiêm tốn cùng bạn vượt qua khó khăn: tổ chức các đợt quyên góp gạo, quần áo, đồ dùng học tập cho học sinh, một số mặt hàng tiêu dùng cần thiết khác, gửi sang giúp bạn. - Đặc biệt, trong tháng 6-2007 trong chuyến thăm Cu-ba của Tổng Bí thu Nông Đức Mạnh, Việt Nam và Cu-ba đã ký tám hiệp định và thỏa thuận hợp tác trên các lĩnh vực nông nghiệp, dầu khí, văn hóa, thể thao... b. Nền tảng tác động đến quan hệ Việt Nam - Cuba: - Hai nước có chung lý tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội; - Đều chung chiến hào chống Mĩ; - Cùng do một chính Đảng Cộng sản lãnh đạo ở mỗi nước; - Hồ Chí Minh và Fidel Catxtro đặt nền móng xây dựng tình hữu nghị. Câu 27. Hoàn cảnh lịch sử tác động đến sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Á, Phi, Mĩ Latinh sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Thắng lợi của phong trào giải phóng



