Bài dự thi Cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn dành cho học sinh trung học NH 2015-2016 - TH: Biển đảo Việt Nam (HS: Lê Mai Thy, Trần Trương Huỳnh Ngân)

doc 17 trang Đình Bắc 11/08/2025 50
Bạn đang xem tài liệu "Bài dự thi Cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn dành cho học sinh trung học NH 2015-2016 - TH: Biển đảo Việt Nam (HS: Lê Mai Thy, Trần Trương Huỳnh Ngân)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docbai_du_thi_cuoc_thi_van_dung_kien_thuc_lien_mon_de_giai_quye.doc

Nội dung text: Bài dự thi Cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn dành cho học sinh trung học NH 2015-2016 - TH: Biển đảo Việt Nam (HS: Lê Mai Thy, Trần Trương Huỳnh Ngân)

  1. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẦN THƠ PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN CÁI RĂNG BÀI DỰ THI VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN ĐỂ GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN DÀNH CHO HỌC SINH THCS TÊN TÌNH HUỐNG BIỂN ĐẢO VIỆT NAM - Trường: THCS THƯỜNG THẠNH - Điạ chỉ: THƯỜNG THẠNH - CÁI RĂNG- CẦN THƠ. - Điện thoại: 07103 846 884; - Email: [email protected] - Học sinh thực hiện: Lê Mai Thy - Ngày sinh: 13/08/2002 - Lớp: 8A1 - Học sinh thực hiện: Trần Trương Huỳnh Ngân - Ngày sinh: 24/08/2002 - Lớp: 8A1
  2. PHỤC LỤC I PHIẾU THÔNG TIN CỦA HỌC SINH - Sở Giáo Dục Và Đào Tạo TP Cần Thơ - Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo Quận Cái Răng - Đơn vị: Trường THCS Thường Thạnh - Địa chỉ: Thường Thạnh-Cái Răng-Cần Thơ - Điện thoại: 07103 846 884 - Mail: [email protected] Họ và tên : Lê Mai Thy Ngày sinh: 13/08/2002 Lớp: 8A1 Họ và tên: Trần Trương Huỳnh Ngân Ngày sinh: 24/08/2002 Lớp: 8A1 Bài dự thị vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống Trang 1
  3. BÀI VĂN THUYẾT MINH VỀ MỘT DANH LAM THẮNG CẢNH 1. Tình huống cần giải quyết là: Một đoàn khách du lịch nước ngoài muốn tìm hiểu về Biển đảo của Việt Nam. Em được cử làm người giới thiệu về Biển đảo của Việt Nam cho đoàn khách đó. 2. Mục tiêu: Làm cho đoàn khách du lịch hiểu được về biển Đông nói chung và biển Việt Nam nói riêng, đặc biệt là đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Từ đó mọi người hiểu hơn về đất nước và con người Việt Nam. 3. Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến việc giải quyết tình huống: Cần kết hợp các tri thức khách quan ở Biển đảo Việt Nam - Vị trí địa lý và tầm quan trọng của Biển đảo Việt Nam. - Vị trí địa lý và tầm quan trọng của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 4. Giải pháp giải quyết tình huống: Vận dụng các kiến thức liên môn: - Lịch sử Việt Nam. - Ngữ văn: Văn thuyết minh lớp 8 - tiết 44, 47. - Địa lí: Lớp 8 – Biển Việt Nam Lớp 9 – Phát triển tổng hợp kinh tế và bảo vệ tài nguyên môi trường Biển Đảo - Giáo dục công dân – Giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của đất nước - Giáo dục lòng yêu nước. (Giáo dục công dân lớp 7) 5. Thuyết minh tiến trình giải quyết tình huống: Bài dự thị vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống Trang 2
  4. Bản đồ biển đảo Việt Nam (tư liệu internet) Bài dự thị vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống Trang 3
  5. Bản đồ chủ quyền Việt Nam (tư liệu internet) Bài dự thị vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống Trang 4
  6. Liên môn lịch sử Biển đông còn gọi là biển Nam Trung Hoa là một biển ở rìa Tây Thái Bình Dương. Theo quy định của ủy ban quốc tế về biển, tên của các biển rìa dựa vào địa danh của lục địa lớn gần nhất hoặc mang tên gọi của một nhà khoa học phát hiện ra chúng. Biển Đông nằm ở phía Nam đại lục địa Trung Hoa nên có tên gọi là biển Nam Trung Hoa. Tuy nhiên địa danh biển không có ý nghĩa về mặt chủ quyền như một số người ngộ nhận. Biển Đông được nhân dân Việt Nam gọi theo thói quen như một danh từ riêng. Liên môn địa lý Biển Đông là một biển nửa kín có diện tích khoảng 3,5 triệu km 2 trải rộng từ vĩ độ 3o lên đến vĩ độ 26o bắc và từ kinh độ 100o đến 121o đông. Ngoài Việt Nam biển đông được bao bọc bởi 8 nước khác là China, Philippin, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singgapo, Thailand và Campuchia. Theo tính sơ bộ Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của khoảng 300 triệu người dân của các nước này. Việt Nam có bờ biển dài khoảng 3260 Km từ phía Bắc xuống phía Nam chiếm tỉ lệ 100 km 2 đất liền trên 1 km 2 bờ biển và hơn 3000 hòn đảo trong đó có quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. khoảng 1.000 bãi đá ngầm. Đảo của Việt Nam được chia thành hệ thống các đảo ven bờ và hệ thống các đảo xa bờ. Hệ thống đảo ven bờ có khoảng 2.800 đảo, phân bố tập trung nhất ở vùng biển các tỉnh: Quảng Ninh, Hải Phòng, Khánh Hòa, Kiên Giang. Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch lối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu – Châu Á, Trung Quốc – Trung Đông – Châu Á. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ 2 của thế giới. Mỗi ngày có khoảng từ 150 đến 200 tàu các loại qua lại Biển Đông trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5000 tấn, hơn 10% tàu có trọng tải 30.000 tấn trở lên. Đối với Việt Nam, vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên con đường hằng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữ Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Điều kiện tự nhiên của vùng Biển Việt Nam là tiềm năng to lớn cho giao thông hằng hải Việt Nam, dọc bờ biển Việt Nam có nhiều vũng vịnh sâu, rộng có thể xây dựng nhiều cảng nước sâu như Cái Lân và một số điểm ở khu vực Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long Cát Hải, Đồ Sơn . Ngoài sự hình thành cảng biển các tuyến đường bộ, đường sắt dọc ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa Bài dự thị vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống Trang 5
  7. (đặc biệt là tuyến đường xuyên Á) cho phép vùng biển và ven biển Việt Nam có khả năng chuyển hàng hóa nhập khẩu một cách nhanh chóng và thuận lợi. Cũng như Biển Đông biển Việt Nam có tầm quan trọng về thủy sản, dầu mỏ, khí đốt, du lịch Về quốc phòng, an ninh: Biển Việt Nam được ví như mặt tiền sau trước, cửa ngõ quốc gia. Biển, đảo, thềm lục địa và đất liền hình thành phên dậu, chiếm lũng nhiều lớp, nhiều tầng bố trí thành tuyến phòng thủ liên hoàn bảo vệ Tổ Quốc. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã ghi nhận có tới 2/3 cuộc chiến tranh, kẻ thù đã sử dụng đường biển để tấn công Việt Nam. Những chiến công hiển hách trên chiến trường sông biển đủ minh chứng như ba lần đại thắng quân thù trên sông Bạch Đằng (năm 938,981,1288) chiến thắng trên phòng tuyến sông Như Nguyệt (1077), chiến thắng Rạch Gầm Xoài Mút (1785) .Từ nhiều năm nay nhất là những năm đầu của thập kỉ 70 của thế kỉ 20 đến nay biển Đông đang tồn tại nhiều tranh chấp biển đảo rất quyết liệt và phức tạp tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định tác động đến quốc phòng, an ninh của Việt Nam. Vì vậy Việt Nam luôn coi biển đảo là ưu tiên số 1 bởi vì ngay từ thủa bình minh của dân tộc ông tổ của người Việt Nam là Lạc Long Quân đã nhận thấy tầm quan trọng của biển nên đem 50 người con khai thác và dựng xây mở mang bờ cõi về phía biển. Vươn ra biển, làm giàu từ biển và quyết tâm giữ biển là định hướng đúng đắn, phù hợp với điều kiện hiện nay. Biển Việt Nam có rất nhiều đảo và quần đảo tuy nhiên có 2 quần đảo quan trọng là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Liên môn lịch sử Cho đến thế kỷ XVII, 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là các đảo vô chủ. Vào nửa đầu thế kỷ XVII, chúa Nguyễn đã tổ chức “Đội Hoàng Sa” hàng năm ra Hoàng Sa thu lượm hải vật, đánh bắt hải sản, đo vẽ, trồng cây và dựng mốc trên đảo, đến nửa đầu thế kỷ XVIII, tổ chức thêm “Đội Bắc Hải” ra Trường Sa làm nhiệm vụ như “Đội Hoàng Sa”. Liên tục từ đó, Việt Nam đã có nhiều hoạt động củng cố chủ quyền trên 2 quần đảo như: Năm 1925 duy trì tuần tra trên đảo, đưa quân đội trú đóng; năm 1933 - 1938, thành lập đơn vị hành chính, đặt cột mốc, xây hải đăng, trạm khí tượng, trạm vô tuyến điện; lên tiếng phản đối các nước nêu yêu sách chủ quyền đối với Hoàng Sa; năm 1951, khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại hội nghị San Francisco mà không gặp phải ý kiến phản đối nào; năm 1956 quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy và năm 1961, chuyển quần đảo Hoàng Sa từ tỉnh Thừa Thiên về tỉnh Quảng Nam quản lý; Bài dự thị vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống Trang 6
  8. năm 1977 tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; năm 1982 thành lập huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai và huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng; năm 1994 tham gia Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển năm 1982, năm 2003, ban hành Luật Biên giới quốc gia, tháng 4 năm 2007 thành lập thị trấn Trường Sa, xã Song Tử Tây và xã Sinh Tồn thuộc huyện đảo Trường Sa. Hiện nay, huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng và huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần công bố Sách Trắng về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. - Việt Nam là Nhà nước đầu tiên xác lập chủ quyền và là quốc gia duy nhất đã chiếm hữu hòa bình, quản lý liên tục, phù hợp với các quy định của luật pháp Quốc tế đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Biển Việt Nam vào ngày 21 tháng 6 năm 2012. Đảo Hoàng Sa (tư liệu internet) Quần đảo Hoàng Sa là một trong những quần đảo xa bờ thuộc chủ quyền Việt Nam từ lâu đời. Trong lịch sử quần đảo Hoàng Sa có tên gọi là “Bãi cát vàng”. Quần đảo gồm 37 đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm và một số đối tượng địa lý khác thuộc huyện đảo Hoàng Sa – TP Đà Nẵng. Khu vực quần đảo nằm trên vùng biển rộng khoảng 30.000 km2. Đây là quần đảo nằm trong vùng “Xích đạo từ” có độ sai lệch từ không thay đổi đến thay đổi rất nhỏ, rất thuận lợi cho việc đi biển. Quần đảo này có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều thường có sương mù và nhiều dông bão nhất là từ tháng 6 đến tháng 8 hàng năm. Trên một số đảo có Bài dự thị vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống Trang 7
  9. nguồn nước ngọt, cây cối um tùm, vô số chim và đặc biệt có nhiều rùa biển sinh sống. Nằm ở phía Đông của Việt Nam Hoàng Sa án ngữ đường hàng hải quốc tế từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương vùng biển này có nhiều tiềm năng lớn, có vị trí chiến lược về quân sự và giao thông. Quần đảo Hoàng Sa gồm 2 cụm đảo chính là cụm lưỡi liềm ở phía Tây và cụm An Vĩnh ở phía Đông Cụm lưỡi liềm gồm các đảo đá Bắc, đảo Hoàng Sa, đảo Hữu Nhật, đảo Duy Mông, đảo Quang Hòa, đảo Bạch Quy, đảo Tri Tôn. Ngoài ra cụm lưỡi liềm còn vô số các đảo nhỏ mỏm đá và bãi khác. Cụm An Vĩnh được đặt tên theo một xã An Vĩnh thuộc huyện đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi nằm ở phía Đông bao gồm các đảo tương đối lớn như đảo Phú Lâm, đảo Cây, đảo Linh Cồn, đảo Trung, đảo Bắc, đảo Nam, đảo Tây, đảo Hòn Đá. Quần đảo Hoàng Sa là một thế giới san hô với hơn 100 loài tạo thành một phần của vòng cung san hô ngầm dọc bờ biển Đông Nam của lục địa Châu Á. Hình của các đảo tương đối đơn giản. Về mặt hình thái đảo thường có cấu tạo 3 phần khác nhau đó là phần đảo nổi, hành lang bãi chiều (thềm san hô) bao quanh đảo và sườn bờ ngầm dốc đứng. Quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Từ thời nhà Nguyễn đã có nhiều đội quân được cử ra giữ đảo. Trên đảo còn có nhiều dấu tích của người Việt để lại như Miếu thờ, bia đá. Ở Quảng Ngãi còn có nhiều dòng họ vẫn còn giữ gia phả ghi lại những chứng cứ về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa. Thời Pháp và thời Mĩ ngụy vẫn coi Hoàng Sa là đất của Việt Nam. Một thực tế cho thấy đời Nhà Thanh (Trung Quốc) thì bản đồ Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam. Thực tế lịch sử đó không thể phủ nhận được. Bài dự thị vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống Trang 8
  10. (Tư liệu internet) Liên môn địa lý Quần đảo Trường Sa nằm cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 200 hải lý về phía nam bao gồm 100 đảo, đá, bãi ngầm, bãi san hô nằm rải rác trong phạm vi biển, khoảng từ vĩ tuyến 6o30’ Bắc đến 12o Bắc khoảng từ kính tuyền 111o30’ Đông đến 117o20’ Đông. Đảo gồm đất liền nhất là Đảo Trường Sa cách vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa) khoảng 250 hải lý. Cách điểm gần nhất của đảo Hải nam (Trung Quốc) khoảng gần 600 hải lý và cách đảo Đài Loan khoảng 960 hải lý. Các đảo của quần đảo Trường Sa thấp hơn các đảo của quần đảo Hoàng Sa. Độ cao trung bình trên mặt nước khoảng 3 – 5 m. Quần đảo Trường Sa được chia làm 8 cụm: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm, Bình Nguyên, Song Tử Tây là đảo cao nhất. Ba bình là đảo rộng nhất. Ngoài ra còn có nhiều đảo nhỏ và bãi đá ngầm như Sinh Tồn Đông, Chữ Thập, Châu Viên, Ga Vên, Đá Lớn .. Tổng diện tích phần nổi của tất cả các đảo, đá, cồn bãi của quần đảo Trường Sa chỉ khoảng 3 km 2 nhỏ hơn tổng diện tích của quần đảo Hoàng Sa (10 km2) nhưng lại trải ra trên một vùng biển rộng gấp hơn nhiều lần quần đảo Hoàng Sa. Các đảo và quần đảo trong Biển Đông có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với nhiều nước. Nằm ở trung tâm Biển Đông hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa là một trong những khu vực có nhiều tuyến đường biển nhất thế giới trên các tuyến đường biển đóng vai trò chiến lược của Châu Á. Có hai điểm Bài dự thị vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống Trang 9
  11. trọng yếu: Thứ nhất là eo biển Malacca nhưng vận chuyển hàng hóa qua eo biển này thì cước phí cao. Điểm trọng yếu thứ hai chính là Biển Đông đặc biệt là khu vực xung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngoài ra hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí chiến lược có thể dùng để kiểm soát các tuyến hàng hải qua lại biển Đông và dùng cho mục đích quân sự như đặt trạm ra đa, các trạm thông tin xây dựng các trạm dừng chân va tiếp nhiên liệu cho tàu bè. Các nhà chiến lược phương Tây cho rằng quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được cả Biển Đông. Có thể nói Biển Đông nói chung và biển Việt Nam nói riêng có vị trí chiến lược hết sức quan trọng. Thế kỉ 21 là thế kỉ của Biển, vươn ra Biển là hướng đi đúng khi và chỉ khi các quốc gia coi biển vì mục đích hòa bình và phát triển. Biển Việt nam vẫn hiền hòa như nó vốn có bởi vì người Việt Nam hơn các dân tộc khác hiểu rất rõ giá trị của hòa bình. Người Việt đã từng “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” thì sẵn sàng kiên quyết Hải quân giữ đất bảo vệ liền,biển đảo bầu trời(Tư vàkiệu biểninternet) đảo để cho những cánh chim hải âu tung cánh trên vùng biển thanh bình, cho câu hát dân ca ngọt ngào thấm vào đất mẹ. Mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển, đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN... Trước yêu cầu bức thiết của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đảng ta nhận thức sâu sắc và thể hiện rõ quan điểm về phát triển kinh tế độc lập tự chủ, kinh tế biển, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong quá trình phát triển và hội Bài dự thị vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống Trang 10
  12. nhập quốc tế. Quan điểm đó được thể hiện tập trung trong các nghị quyết, chỉ thị như: Nghị quyết 03/-NQ/TW ngày 6-5-1993 của Bộ Chính trị (khóa VII) về “Một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt”; Chỉ thị 20- CT/TW ngày 22-9-1997 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về “Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng CNH, HĐH”; đặc biệt là “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” trong Nghị quyết TW 4 (khoá X): “Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển”(1). Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi công dân Việt Nam đối với lịch sử dân tộc, là nhân tố quan trọng bảo đảm cho dân tộc ta phát triển bền vững. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển, đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN ”(2). Đó là ý chí sắt đá, quyết tâm không gì lay chuyển được của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thời gian qua, sự biến đổi khôn lường của tình hình thế giới, khu vực và trên biển Đông khiến nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ đất nước, nhất là an ninh trên biển trở thành nhiệm vụ nhiều khó khăn, thách thức. Để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, điều tiên quyết đặt ra là phải không ngừng củng cố, tăng cường sức mạnh quốc gia, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển. Trong đó, xây dựng thế trận lòng dân, đảm bảo bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc là vấn đề chiến lược, mang tính cấp bách, then chốt. Vì vậy, chúng ta cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề sau đây: Liên môn GDCD - Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo Công tác tuyên truyền biển, đảo cần bám sát thực tiễn tình hình, không ngừng đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức, phương pháp tuyên truyền phù hợp với trình độ nhận thức của từng đối tượng, đồng thời tận dụng có hiệu quả các phương tiện kỹ thuật và chú trọng mở rộng phạm vi tuyên truyền. Công tác tuyên truyền về chủ quyền quốc gia trên biển đòi hỏi có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành và các địa phương; phải có sự chỉ đạo thống nhất, chặt chẽ từ Trung ương tới cơ sở về nội dung và phương pháp tuyên truyền. Nội dung tuyên truyền phải đa dạng và phong phú trên các phương tiện thông tin đại chúng trong nước và quốc tế, lồng ghép chặt chẽ giữa các hoạt động đối ngoại, chính trị, kinh tế, quân sự, quốc phòng Qua đó, nhân dân Việt Nam cũng như cộng đồng quốc tế hiểu và nắm vững các vùng, khu vực thuộc chủ quyền lịch sử lâu đời của Việt Nam cũng như chủ quyền biển Việt Nam được xác lập trên cơ sở các điều khoản quy định trong Công ước quốc tế về Luật Biển 1982. Tuyên truyền về các điều khoản và nghĩa vụ cần phải chấp hành các quy định của luật pháp Việt Nam khi hoạt động hoặc tham gia giao thông trong phạm vi lãnh hải, các vùng nội thuỷ, vùng đảo, quần đảo và khu vực đặc quyền kinh tế trên biển Việt Nam; về các quan điểm chủ đạo và nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Bài dự thị vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống Trang 11
  13. Nam trong thực thi quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo, quần đảo và các khu vực đặc quyền kinh tế biển. Đặc biệt, chú trọng nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, nhất là các cấp, ngành ở địa phương ven biển, nhận thức rõ tính chất phức tạp của nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong bối cảnh mở cửa, hội nhập quốc tế; khẳng định, củng cố niềm tin cho nhân dân cả nước, cộng đồng quốc tế về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; làm chuyển biến ý thức, trách nhiệm của mỗi người Qua đó phát huy sức mạnh của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và của cả hệ thống chính trị, kết hợp sức mạnh trong và ngoài nước, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Công tác tuyên truyền phải được tiến hành sâu rộng trong và ngoài nước, phải gắn kết giữa lịch sử với hiện tại để người dân thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; làm cho mỗi công dân Việt Nam thấy được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với chủ quyền biển, đảo quốc gia. Từ đó đoàn kết, chung sức đồng lòng quyết tâm làm chủ, bảo vệ biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. - Ưu tiên nguồn lực cho phát triển kinh tế biển, đảo và thực hiện có hiệu quả chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên các vùng ven biển, hải đảo Biển Việt Nam chứa đựng nhiều tiềm năng to lớn về kinh tế. Vì vậy, để khai thác, sử dụng hiệu quả và biến các tiềm năng ấy thành nguồn lực, động lực đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, Đảng và Nhà nước cần tập trung đầu tư nguồn lực thích đáng cho các ngành kinh tế mũi nhọn, có thế mạnh ở các vùng ven biển, trên các đảo và quần đảo như: Khai thác, chế biến dầu khí; hệ thống cảng và dịch vụ vận tải biển; khai thác, chế biến hải sản, du lịch... Trong đó, ưu tiên xây dựng các trung tâm dịch vụ, thành lập các tập đoàn kinh tế mạnh có đủ khả năng vươn xa, kết hợp phát triển kinh tế với làm chủ biển, đảo; tập trung nguồn vốn, khoa học, công nghệ, nguồn lao động để khai thác có hiệu quả các tiềm năng của biển; ưu tiên phát triển hạ tầng cơ sở kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh trên khu vực quần đảo Trường Sa và các đảo lớn xa bờ, tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh tốc độ sản xuất của nhân dân đang sinh sống trên các đảo và quần đảo. Quá trình thu hút nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội biển, đảo đòi hỏi các ngành chức năng và địa phương cần phối hợp nghiên cứu, khảo sát tổng thể, xác định rõ tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, từng khu vực, đánh giá đúng, đủ các yếu tố tự nhiên cũng như xu thế phát triển. Việc quy hoạch phải tính đến sự kế thừa, phát triển, tính liên kết giữa các vùng và các khu vực; phải gắn bờ, biển, đảo và quần đảo trong một không gian sinh tồn về kinh tế và quốc phòng. Vì vậy, nếu không khảo sát đầy đủ, đánh giá một cách khoa học thì kết quả sẽ thấp, thậm chí không mang lại hiệu quả mà còn phá vỡ tính cân bằng trong quá trình phát triển kinh tế biển. Phát triển kinh tế biển phải gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, coi đó như một vấn đề then chốt trong xây dựng thế trận lòng dân trên biển. Lịch sử đã chứng minh, ở bất cứ thời đại, chế độ nào, nguyện vọng sâu xa của nhân dân vẫn là đời sống vật chất và tinh thần Bài dự thị vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống Trang 12
  14. được đảm bảo, “khoan thư sức dân” - cách thức tốt nhất để quy tụ lòng dân, làm cơ sở, nền tảng để xây dựng thế trận lòng dân. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta thời gian qua rất chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho nhân dân các vùng ven biển và hải đảo, nhất là ở các vùng biển, đảo giữ vai trò quan trọng về quốc phòng, an ninh của đất nước. Kết hợp chặt chẽ giữa thúc đẩy nhanh quá trình dân sự hóa trên biển với xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh trên biển vững mạnh, đủ khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển Dân sự hóa các vùng biển, đảo vừa là cơ sở để chúng ta khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên trên biển, vừa là tiền đề để xây dựng, củng cố và phát huy lực lượng tại chỗ phục vụ chiến lược quốc phòng - an ninh trên biển. Đảng ta đã khẳng định trong Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020: “Thực hiện quá trình dân sự hóa trên biển, đảo gắn với tổ chức dân cư, tổ chức sản xuất và khai thác biển. Có chính sách đặc biệt để khuyến khích mạnh mẽ nhân dân ra định cư ổn định và làm ăn dài ngày trên biển; thí điểm xây dựng các khu quốc phòng - kinh tế tại các đảo, quần đảo Trường Sa, vùng biển, đảo của Tổ quốc”(3). Đây là một chủ trương chiến lược có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước. Chủ trương này đã và đang được hiện thực hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển đi đôi với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền của Việt Nam trên biển. Quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, công tác dân sự hóa trên các vùng biển, đảo, nhất là ở những vùng biển, đảo chiến lược đã được đẩy mạnh, ảnh hưởng tốt đến sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để củng cố và xây dựng thế trận lòng dân trên biển. Ở một số đảo có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh, quốc phòng như: Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa quá trình dân sự hoá bước đầu được thực hiện có hiệu quả, tạo được dư luận tốt đối với quần chúng nhân dân trong và ngoài nước. Cơ sở hạ tầng trên nhiều đảo ở Trường Sa được xây dựng ngày càng khang trang. Đời sống của nhân dân từng bước đi vào ổn định. Nhân dân Trường Sa hoàn toàn tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng. Cùng với quá trình dân sự hóa ở các vùng biển, đảo, việc bảo vệ chủ quyền biển đảo và duy trì lợi ích quốc gia trên biển giai đoạn hiện nay cần kết hợp chặt chẽ hơn nữa giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh. Việc quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở các khu vực ven biển, trên biển và các đảo phải tuân thủ các yêu cầu đặt ra trong kế hoạch tổng thể của khu vực phòng thủ địa phương, phải mang tính hệ thống, bảo đảm sự liên kết chặt chẽ giữa biển, đảo với đất liền; kết hợp chặt chẽ giữa thế trận “tĩnh” của đảo và bờ với thế “động” của lực lượng tác chiến cơ động trên biển tạo nên thế trận liên hoàn, vững chắc. Trang bị kỹ thuật phục vụ cho mục đích kinh tế-xã hội phải phù hợp với hệ Bài dự thị vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống Trang 13
  15. thống trang bị kỹ thuật quốc phòng - an ninh trong hệ thống các cụm lực lượng trên biển, thực hiện kiểm soát, giám sát, báo động, chi viện, hỗ trợ nhau trong đấu tranh phòng chống các hoạt động xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia. Các cơ sở hậu cần, kỹ thuật kinh tế - xã hội ven bờ, trên biển và trên các đảo phải sẵn sàng huy động cho nhiệm vụ quốc phòng, ưu tiên xây dựng các đảo tiền tiêu xa bờ có công sự kiên cố, trang bị hoả lực mạnh, có khả năng tác chiến dài ngày. Quá trình thiết kế, xây dựng hạ tầng cơ sở trên biển, đảo phải mang tính lưỡng dụng cao, không chỉ bền vững trước tác động của môi trường biển mà còn phải bền vững khi chuyển sang phục vụ mục đích quốc phòng - an ninh. Bên cạnh đó, cần xây dựng một lực lượng kiểm ngư đủ mạnh để bảo vệ việc khai thác, đánh bắt hải sản của ngư dân trên biển, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn trên biển; đồng thời kiểm tra, giám sát, phát hiện, ngăn chặn các hành động khai thác hải sản trái phép của nước ngoài trên vùng biển của Việt Nam. Các địa phương ven biển, huyện đảo phải có lực lượng dân quân tự vệ vừa tham gia sản xuất, khai thác hải sản, vừa làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự trên biển, kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành động xâm phạm lợi ích, chủ quyền quốc gia. -Củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở các huyện đảo đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc Hệ thống chính trị ở các huyện đảo, nhất là những huyện đảo xa bờ - vừa là “cầu nối” đưa chủ trương, chính sách của Đảng đến với quần chúng, vừa là chủ thể trực tiếp tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện các chủ trương của Đảng trên các địa bàn biển, đảo. Vì vậy, xây dựng hệ thống chính trị ở các huyện đảo vững mạnh là một giải pháp quan trọng để củng cố thế trận quốc phòng toàn dân trên biển đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc hiện nay. Quy trình thực hiện là phải hoàn thiện hệ thống chính trị với các thiết chế đầy đủ, cơ cấu hợp lý và cơ chế hoạt động hiệu quả, phù hợp với điều kiện hoạt động đặc thù trên các địa bàn biển, đảo. Trong đó phát huy vai trò và chức năng hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là tổ chức đảng; thực hiện tốt các chính sách xã hội đối với các huyện đảo xa bờ và các địa bàn trọng điểm, chiến lược; coi trọng giải quyết tốt mối quan hệ và sự phối hợp hoạt động giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ở mỗi huyện đảo và giữa các huyện đảo với nhau, tạo ra thế trận liên hoàn trên biển để có thể nhanh chóng tập hợp và sử dụng hiệu quả sức mạnh của các lực lượng tại chỗ phục vụ cho quốc phòng - an ninh trên biển. Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước hiện nay và mai sau. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ trọng yếu và là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng và cao cả đó, hơn lúc nào hết phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn vùng biển nói riêng và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc nói chung, Bài dự thị vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống Trang 14
  16. xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ngữ văn 8 2. Địa lí 8 và địa lí Việt Nam 3. Lịch sử Việt Nam 4. Giáo dục công dân 6, 7 5. Báo chí và các kênh truyền hình Việt Nam 6. Ý nghĩa của việc giải quyết tình huống: Việc kết hợp các kiến thức liên môn như Lịch sử, Địa lý vào môn Ngữ văn rất quan trọng, giúp cho bài làm văn bao quát, đầy đủ ý hơn. Từ đó bài làm có sức thuyết phục hơn nhất là đối với bài văn Thuyết minh. Ngoài các kiến thức về Lịch sử, Địa lý, còn có thể kết hơp kiến thức của các môn Sinh học, Vật lý, hóa học,.. ở các dạng đề thuyết minh về đồ vật, hiện tượng, Như vậy, kiến thức liên môn tạo điều kiện cho học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo; giáo dục thêm những hiểu biết về quê hương; giúp học sinh ý thức hơn việc học phải đi đôi với hành; rèn luyện các kĩ năng giải quyết tình huống trong cuộc sống. Thường Thạnh, ngày 05/12/2015 DUYỆT BGH Người thực hiện Trần Trương Huỳnh Ngân Bài dự thị vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống Trang 15