SKKN Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị Luận văn học cho học sinh lớp 9
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị Luận văn học cho học sinh lớp 9", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
skkn_ren_ki_nang_viet_doan_van_nghi_luan_van_hoc_cho_hoc_sin.doc
Nội dung text: SKKN Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị Luận văn học cho học sinh lớp 9
- 1 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" PHẦN I: MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Như chúng ta đã biết, môn ngữ Văn trong nhà trường nói chung, trong trường THCS nói riêng là môn học trang bị cho học sinh những tri thức để đánh giá đúng các vấn đề văn học (bao gồm: tác giả, tác phẩm, các quá trình văn học, ), có nghĩa là góp phần tạo cho học sinh khả năng khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn học trong việc tiếp nhận cũng như khả năng biết đánh giá đúng đắn, khoa học các hiện tượng. Song song với nhiệm vụ trên là quá trình giúp học sinh hình thành và phát triển khả năng sản sinh văn bản mới (nói và viết). Làm văn là phân môn hướng tới nhiệm vụ thứ hai này. Nó giúp học sinh hình thành những kĩ năng cần thiết để làm được bài văn nói chung và bài văn nghị luận văn học nói riêng. Dạng bài nghị luận các em đã được làm quen từ lớp 7. Lên lớp 8, các em tiếp tục được học và rèn luyện các kĩ năng về văn nghị luận, về cách nói và viết bài văn nghị luận có sử dụng yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả. Chương trình Ngữ văn 9, kiến thức về văn nghị luận đã có sự kế thừa và nâng cao. Các em được học dạng bài nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích; nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. Đây là hai dạng bài cơ bản và quan trọng trong chương trình Ngữ văn lớp 9. Trong đề kiểm tra giữa kì, cuối kì, cuối năm và đặc biệt là kì thi tuyển sinh vào THPT, dạng bài này không thể thiếu trong đề thi và chiếm số điểm cao. Có thể nói một cách khách quan, kiểu bài nghị luận nói chung và kiểu bài nghị luận văn học nói riêng là khó đối với học sinh THCS. Tuy trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn 9, giáo viên đã giúp học sinh nắm vững các yêu cầu, cách làm bài nghị luận văn học ở từng dạng bài cụ thể nhưng về kĩ năng viết bài nghị luận văn học của học sinh chưa thật thành thạo, còn lúng túng, hành văn chưa mạch lạc, bố cục chưa rõ ràng, nhất là với đối tượng học sinh từ trung bình trở xuống. Có rất nhiều lý do, có thể là vì những năm học Tiểu học và học lớp 6, 7, 8 các em đang quen với kiểu văn sáng tác như: kể chuyện, miêu tả, biểu cảm nên thỏa sức viết; Một phần do các em không yêu thích môn học nên có tâm lý ngại khó, ngại khổ; phần khác là do cách dạy của giáo viên chỉ đơn thuần bắt học sinh học hàng đống khái niệm, yêu cầu, chú ý, ghi nhớ, mà quên mất việc dạy thao tác để học sinh thấm và nhớ dần, điều đó làm cho các em thấy kiểu bài này thật là khó và rắc rối. Như vậy, có thể nói, những hạn chế trong bài làm văn nghị luận của học sinh một phần là do bản thân các em, một phần do giáo viên chưa có biện pháp giúp đỡ phù hợp. Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy học sinh còn mắc nhiều lỗi mà nếu giáo viên có thể giúp các em khắc phục được thì kết quả sẽ tốt hơn. Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 2 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" Vậy, làm thế nào để học sinh có thể viết được một bài văn nghị luận văn học đúng và hay? Làm thế nào để giúp các em có được những kĩ năng cơ bản làm bài văn nghị luận nói chung và bài văn nghị luận văn học nói riêng ở lớp 9 cũng như các lớp cao hơn nữa. Là giáo viên được trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn lớp 9 nhiều năm, tôi luôn trăn trở trước thực trạng chất lượng bài viết văn nghị luận văn học nói riêng và bài nghị luận nói chung của học sinh. Từ những suy nghĩ trăn trở đó, tôi mạnh dạn trình bày một số kinh nghiệm nhỏ của mình khi dạy kiểu bài nghị luận văn học với đề tài: "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”, với mục đích phân tích thực trạng chất lượng bài viết của học sinh hiện nay, đối chiếu với phương pháp giảng dạy của giáo viên, đưa ra kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy, cách thức cụ thể rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học tiến đến viết hoàn thành bài văn cho học sinh, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học bộ môn trong tình hình hiện nay. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU - Giúp các em nắm chắc hơn những kiến thức và kỹ năng viết đoạn văn, bài văn nghị luận văn học ở lớp 9. - Nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo trong quá trình học văn và viết bài văn nghị luận văn học của học sinh lớp 9. - Nhằm tìm ra những giải pháp giúp các em học sinh lớp 9 viết tốt đoạn văn, tiến tới viết hoàn thành bài văn nghị luận văn học(đạt mức đúng, hay) và ngày càng yêu thích môn học hơn. - Đây là tài liệu, là vấn đề quan trọng, cần thiết đối với mọi giáo viên dạy môn Văn nói chung và giáo viên đang trực tiếp dạy Ngữ văn lớp 9 nói riêng. III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU - Tìm ra những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong nhận thức, vốn sống, tư tưởng, tình cảm của các em đối với môn học cũng như những nguyên nhân dẫn đến kết quả bài viết văn nghị luận văn học không đạt điểm cao. - Tìm ra được giải pháp thiết thực giúp học sinh biết viết đoạn văn, bài văn nghị luận văn học. - Là bộ môn khó, đặc biệt yêu cầu kĩ năng lại càng khó hơn, đòi hỏi người giáo viên dạy Văn phải dày công, kiên trì dạy các em. Qua đó, hình thành thói quen và kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý, dùng từ, đặt câu, dựng đoạn, trình bày, diễn đạt,... Nhiệm vụ của giáo viên Ngữ Văn là phát huy năng lực tư duy, năng lực sử dụng ngôn ngữ, giúp các em biết tích luỹ vốn kiên thức, biết huy động vốn kiến thức, biết đặt ra các vấn đề và giải quyết các vấn đề ấy. Qua đó, biết trình Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 3 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" bày kết quả tư duy của mình một cách rõ ràng, chặt chẽ, có sức thuyết phục. Là phân môn có tính thực hành cao, nên giáo viên cần cho học sinh đọc nhiều đoạn văn mẫu, viết nhiều đoạn văn để tạo lập văn bản được dễ dàng hơn. IV. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU - Học sinh lớp 9 trường THCS Mỹ Độ năm học: 2020-2021 - Một số tiết dạy bài Nghị luận văn học của giáo viên lớp 9 trong thành phố mà tôi được dự giờ, trao đổi, rút kinh nghiệm. - Bài viết của học sinh lớp 9 được giảng dạy năm học: 2020 - 2021 - Những giải pháp chủ yếu để rèn luyện kĩ năng, nâng cao chất lượng bài viết văn nghị luận văn học. V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để thực hiện giải pháp, tôi đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau: 1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu Nghiên cứu tài liệu nghiệp vụ dạy học môn Ngữ văn lớp 9, sách giáo khoa, sách giáo viên, ý kiến của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lí giáo dục, quản lý chuyên môn, các giáo viên giỏi trên toàn quốc,... 2. Phương pháp phân tích đối chiếu Phân tích đối chiếu yêu cầu giữa chuẩn kiến thức, chuẩn kĩ năng đối với học sinh lớp 9 bậc THCS với những bài viết thực tế của học sinh, tìm ra những hạn chế chủ yếu của học sinh khi viết bài nghị luận văn học. 3. Phương pháp giả thuyết khoa học Đưa ra những giải pháp, những đề xuất có tính khoa học để giáo viên vận dụng vào việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh nhằm phát huy khả năng tư duy, khám phá, sáng tạo. 4. Phương pháp chuyên gia Lấy ý kiến của một số bạn bè đồng nghiệp giàu kinh nghiệm và của một số thầy cô giáo đang trực tiếp giảng dạy tại trường ĐHSP Thái Nguyên. 5. Phương pháp thống kê tổng kết kinh nghiệm Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, phân tích đối chiếu với thực trạng, đưa ra những đề xuất có tính khoa học để giáo viên vận dụng VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Làm thế nào để nâng cao chất lượng bài viết văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 là vấn đề tôi đặc biệt quan tâm và có sự tìm tòi, nghiên cứu kĩ qua kinh nghiệm giảng dạy của bản thân và các bạn đồng nghiệp, qua bài viết của nhiều đối tượng học sinh trong các lần kiểm tra định kì, giữa kì và cuối học kì, có sự đối chiếu giữa lý luận đổi mới phương pháp với thực tiễn. Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 4 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" Đề tài có tác dụng giúp giáo viên Ngữ văn 9 đối chiếu giữa lý luận với thực tế chất lượng bộ môn mình giảng dạy, đặc biệt là chất lượng làm văn nghị luận văn học của học sinh lớp mình phụ trách, vận dụng những giải pháp tối ưu để nâng cao chất lượng, giải quyết một phần tình hình thức tế trong việc học tập bộ môn Ngữ văn 9 như hiện nay đồng thời cũng là góp phần quan trọng vào việc rèn luyện kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp cho học sinh. Vì vậy, đề tài không chỉ có ích cho tôi mà cũng rất cần thiết cho giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn nói chung và môn ngữ Văn 9 nói riêng đang quan tâm đến vấn đề này. Trong thời gian tới, nếu được phổ biến và mở rộng phạm vi nghiên cứu, tổng hợp kinh nghiệm của nhiều người thì sáng kiến sẽ hoàn chỉnh và có giá trị khoa học cao hơn. Có thể nhân rộng trong phạm vi toàn thành phố, toàn tỉnh, áp dụng cho tất cả các đối tượng học sinh lớp 9 ở trường THCS. PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI Trong các phân môn của bộ môn Ngữ văn, Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong quá trình học tập và thi cử. Dạy Văn và tiếng Việt đã khó, dạy Tập làm văn lại có những cái khó riêng. Bởi vì, hơn bất cứ phân môn nào, ở đây giáo viên phải đặc biệt coi trọng chủ thể của trò, giữ đúng vai trò người hướng dẫn, điều chỉnh để hoạt động tư duy và kỹ năng thực hành của học sinh đi đúng hướng nhằm tiến tới viết (hoặc nói) được văn bản quy định trong chương trình. Và như chúng ta đã biết, từ năm 1998, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai dự án phát triển giáo dục THCS nhằm đổi mới một cách toàn diện bậc học này. Thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH khóa 10 ngày 9/12/2000 của Quốc hội, tháng 9 năm 2002, cả nước bắt đầu dạy học theo chương trình và SGK THCS mới, bắt đầu từ lớp 6. Nhiều vấn đề được đặt ra khi phải tiếp cận một chương trình mới, trong đó vấn đề đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng học tập của học sinh, làm thế nào để học sinh yêu thích môn học là vấn đề được đặt lên hàng đầu. Nội dung đổi mới chương trình, việc đổi mới phương pháp giảng dạy, chất lượng học tập của học sinh đã được phản ánh sôi nổi trên báo chí, trong hội thảo khoa học và các phương tiện thông tin đại chúng. Song bài toán chất lượng là điều làm cho các nhà quản lý giáo dục, quản lý chuyên môn phải tính toán. Quan điểm đổi mới phương pháp dạy học chương trình Ngữ văn THCS là phải kết hợp nhiều phương pháp trong dạy học, nghĩa là phải “tích hợp nhiều Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 5 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" phương pháp trong bài học, tiết học và trong cả quá trình tổ chức hoạt động dạy học trên cơ sở xác định phương pháp chính gắn với đặc trưng của môn học. Tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tích cực, phát huy năng lực chủ động, sáng tạo ở cả người dạy lẫn người học, chú trọng khái quát nội dung kiến thức tạo thuận lợi để học sinh lĩnh hội và phát triển các thao tác tư duy khoa học. Tăng cường và sử dụng hợp lý các phương tiện trong dạy học, “nâng cao chất lượng hoạt động thực hành hướng tới đảm bảo sự phát triển năng lực cho mỗi cá nhân” (Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy SGK lớp 9 - Vụ giáo dục trung học trang 6,7). Năm 2008, Bộ Giáo dục tiếp tục triển khai cho giáo viên trên toàn quốc Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn, trong đó phương pháp giảng dạy phát huy tính tích cực, chủ động học tập của cả giáo viên và học sinh được chú trọng nhiều nhất cũng đã mở ra nhiều hướng suy nghĩ mới, giúp cho giáo viên giảng dạy tốt hơn nếu biết tự nghiên cứu và vận dụng sáng tạo hơn. Đất nước ta đang trên đà đổi mới, ngành giáo dục đang có những bước chuyển mình theo nhịp bước của thời đại. Do đó, việc đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề cần thiết và quan trọng trong tình hình hiện nay. Mà một trong những biện pháp tối ưu trong quá trình dạy học là phương pháp dạy học tích cực và dạy học theo chuẩn kiến tức và kĩ năng. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả giáo dục ở bộ môn Ngữ văn trong nhà trường hiện nay, giáo viên cần đặc biệt chú trọng hơn nữa trong việc rèn luyện kĩ năng nói và viết cho học sinh, nhất là rèn luyện kĩ năng viết văn nghị luận về tác phẩm văn học ở bậc Trung học cơ sở theo chuẩn kiến thức và kĩ năng mà ngành yêu cầu. II. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói chung, phân môn Tập làm văn nói riêng đã được quan tâm rất nhiều. Với sự chỉ đạo của các cấp quản lí chuyên môn, về cơ bản đại đa số giáo viên đã nắm được phương pháp, vận dụng sáng tạo theo tình hình địa phương và theo đối tượng học sinh. Tuy nhiên thực tế vẫn còn nhiều giáo viên thực hiện chưa đúng chức năng, chưa tích cực nghiên cứu, tìm ra phương pháp giảng dạy đạt hiệu quả cao, dẫn đến chất lượng học tập của học sinh chưa được nâng lên, trong đó chất lượng bài viết văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học ở lớp 9 nói riêng rất đáng quan tâm. Kết quả các bài kiểm tra còn rất thấp, chất lượng bài làm của học sinh giỏi chưa thật xuất sắc. Trong quá trình làm bài kiểm tra định kì ở lớp cũng như kiểm tra giữa kì, cuối học kì, thi tuyển vào lớp 10 ở môn Ngữ văn nhiều năm qua, học sinh làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, nghị luận về nhân vật; nghị luận về đoạn thơ, bài thơ còn rất nhiều hạn chế. Bài làm của học sinh thường sơ sài, chung chung, lan man, vừa thừa, vừa thiếu, có khi xa đề, lạc đề. Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 6 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" Có bài chỉ viết được vài dòng là hết, có nhiều em không biết mở bài, không biết xây dựng và triển khai luận điểm, Thực trạng ấy thường là do một số nguyên nhân cụ thể sau: 1. Về phía giáo viên: Thứ nhất, giáo viên chưa đảm bảo kết hợp và tích hợp giữa dạy Văn - Tiếng Việt và Tập làm văn. - Giờ học văn bản, sự gợi mở giúp học sinh cảm thụ tác phẩm chưa đạt kết quả cao. Học sinh thụ động buộc giáo viên giảng nhiều, làm việc nhiều, làm thay cho trò, làm tê liệt sự hào hứng học văn bản của học sinh, do đó không kích thích được niềm say mê của các em. - Giờ tiếng Việt, đòi hỏi giáo viên dạy cho học sinh dùng tiếng Việt một cách chính xác để giao tiếp, có cách diễn đạt tốt trong quá trình tạo lập văn bản. Nhưng thực tế, giáo viên chưa vận dụng tối đa các tình huống giao tiếp, cho học sinh thực hành ít nên nhiều em viết sai chính tả, nghèo vốn từ, dùng từ chưa chính xác, đặt câu chưa đúng ngữ nghĩa, ngữ pháp,... Đây là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng bài văn. - Giờ Tập làm văn, học sinh chưa được học đến nơi đến chốn. Giáo viên chưa có cách giúp học sinh có được những kiến thức và kĩ năng theo chuẩn bằng những ví dụ mẫu linh hoạt, sáng tạo, gắn với thực tế đời sống hàng ngày, có tác dụng khắc sâu kiến thức (ngoài SGK). Giáo viên chưa chú ý đúng mức đến việc phát huy tinh thần tích cực chủ động của học sinh khi học lý thuyết làm văn nghị luận văn học theo yêu cầu. Khi xây dựng dàn ý cho bài làm văn nghị luận văn học, giáo viên dễ thiên về cảm nhận chủ quan khi đưa ra những gợi ý, uốn nắn học sinh, khiến các em trở nên rụt rè, thiếu tự tin, vì vậy mà khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh không được phát huy. Thứ hai, việc xác định các phương pháp dạy Tập làm văn cũng chưa thật sự phù hợp, tối ưu. Có giáo viên chọn phương pháp bình giảng trong tiết cung cấp kiến thức về kiểu bài, chưa chú trọng các phương pháp thực hành trong giờ luyện tập, ra bài tập về nhà Thứ ba, giáo viên chưa nghiên cứu kĩ chuẩn kiến thức - kĩ năng nên chưa xác định đầy đủ mục đích yêu cầu cần đạt, kĩ năng cần rèn luyện trong từng bài. Việc bố trí thời lượng cho tiết dạy chưa hợp lý, chưa dành nhiều thời gian cho thực hành, giáo viên khó có thể rèn luyện kĩ năng cho học sinh. Thứ tư, việc chấm bài của giáo viên cũng còn nhiều thiếu sót. Đôi khi giáo viên chỉ cho học sinh biết điểm, có bài chấm không có lời phê nào hoặc phê bài còn qua loa, chưa cẩn thận, chưa cụ thể. Đa số giáo viên phê bài rất chung chung, nhận xét khái quát. Nhiều lời phê, nhận xét bên lề bài viết chưa Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 7 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" giúp học sinh thấy được cụ thể lỗi sai của mình mà sửa. Các em không biết phải làm như thế nào khi bị nhận xét là “ thiếu ý”, hoặc “lập luận chưa chặt chẽ”, “khô khan”,... ; các em cũng không rõ lý do tại sao, vì lẽ gì mà đoạn văn, câu văn của mình bị phê là “lủng củng”, “câu què”, “tối nghĩa”,... ; cũng không hiểu có khi chỗ này “dùng từ” là nghĩa làm sao (sai hay đúng ? Nếu sai thì sai thế nào?), chỗ kia “diễn đạt” là trục trặc hay trôi chảy, chỗ nọ một từ gạch chân là hay, hay dở,... Như thế rất khó giúp học sinh hiểu rõ mà tự sửa được, rút kinh nghiệm được. Thứ năm, những giờ trả bài tiến hành không thống nhất theo chuyên đề mà ngành chuyên môn đã triển khai. Đa số giáo viên thực hiện không mấy công phu. Giáo án trả bài của giáo viên thường soạn qua quýt, không ghi rõ những lỗi cần phải sửa trên lớp, hoặc có thì cũng không ghi rõ cách sửa; lỗi nhặt từ bài làm của học sinh không tiêu biểu khó có thể rèn luyện những kĩ năng cần thiết nhất định. Có giáo viên trả bài rồi mới nhận xét ưu khuyết điểm, hướng dẫn học sinh sửa chữa,... 2. Về phía học sinh: Chưa coi trọng bộ môn so với các môn khoa học tự nhiên nên chưa đầu tư, chưa có thái độ học tập đúng đắn, chưa có thói quen chuẩn bị bài trước khi đến lớp, chưa chịu khó đọc các tài liệu tham khảo thêm để mở rộng kiến thức. Trước một đề bài văn nghị luận văn học, các em ít chịu khó suy nghĩ, mà chỉ đọc loáng thoáng, phóng bút viết tràng giang đại hải, không cần xác định luận điểm, không đưa dẫn chứng hoặc nếu đưa thì cũng vụng về, bài viết kết thúc mà chẳng hiểu viết gì dẫn đến nhiều bài văn chưa đạt yêu cầu. Về ngữ pháp, kĩ năng dùng từ, viết câu của học sinh hiện nay còn bộc lộ nhiều yếu kém. Trong bài viết của các em có nhiều câu què, câu cụt, câu tối nghĩa. Tình trạng mắc lỗi chính tả, viết tắt, viết số, dùng từ sai cũng rất phổ biến. Có bài viết từ đầu đến cuối các em không sử dụng dấu câu nào hoặc sử dụng không đúng. 3. Những hạn chế chủ yếu khi học sinh viết bài văn nghị luận văn học ở lớp 9 Chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 9 đã thể hiện được yêu cầu tích hợp ba phân môn Văn - tiếng Việt - Tập làm văn, tuy nhiên vẫn phải luôn tạo điều kiện cho việc đảm bảo yêu cầu riêng có tính chất tương đối độc lập của mỗi phân môn. Kiểu bài nghị luận văn học trong chương trình Ngữ văn 9 mới nhất theo hướng dẫn của Sở giáo dục với thời lượng là 14 tiết: Tiết 67, 68 : Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) Tiết 69, 70: Cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) Tiết 71, 72: Luyện tập làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 8 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" Tiết 143,147: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ Tiết 148,149,150,151: Cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ Tiết 152,153: Luyện nói nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ Nhìn vào chương trình và quá trình thực dạy, tôi nhận thấy chương trình có hướng đổi mới, đó là chú ý đến kỹ năng thực hành, luyện kỹ năng cho học sinh để có thể viết được một bài văn nghị luận văn học. Nhưng thực tế, việc viết đoạn văn, bài văn của học sinh còn rất kém. Trong giờ dạy, giáo viên yêu cầu viết đoạn văn là các em rất ngại thậm chí ngại hơn viết cả bài. Vì viết cả bài không được ý nọ còn được ý kia, còn nếu viết đoạn mà không biết cách viết sẽ không thành một đoạn văn cụ thể là đoạn văn nghị luận văn học theo yêu cầu. Sở dĩ các em ngại và sợ như vậy là vì các em thiếu kĩ năng gọi tên luận điểm, không biết cách đưa và phân tích dẫn chứng, không biết triển khai luận điểm và xây dựng đoạn,... Là giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn, tôi luôn trăn trở trước thực trạng chất lượng bài viết văn nghị luận văn học của học sinh trong lớp, trong trường mình. Vì vậy, tôi đã nghiên cứu kỹ sách giáo khoa và đặt ra tiêu chí khi dạy bài nghị luận văn học: Coi từng tiết dạy mà sách giáo khoa đã chia và sắp xếp theo từng bài là yêu cầu cần đạt của học sinh; Bài tập nào của sách giáo khoa tốt thì tôi sử dụng khai thác, bài tập nào chưa hay thì không bắt buộc học sinh phải làm; Tôi quan niệm bài tập rèn kỹ năng viết đoạn tốt phải vừa sức với tâm lý và nhận thức của lứa tuổi học sinh, phải thể hiện được tính chất, yêu cầu tích hợp của bộ môn. 4. Những yêu cầu đối với học sinh và giáo viên Đi sâu vào tìm hiểu thực trạng, chúng ta có thể thấy được sự hạn chế trong phương pháp giảng dạy của giáo viên lẫn phương pháp tự học, tự nghiên cứu của học sinh. Do đó, chúng ta cần phải có cách dạy như thế nào, học sinh cần phải có cách học như thế nào để có hiệu quả giáo dục ngày một đi lên, đó là vấn đề mà chúng ta cần phải quan tâm. Dưới đây là một số yêu cầu cần thiết đối với học sinh và giáo viên để giúp các em làm tốt bài nghị luận văn học: 4.1. Đối với học sinh Do đặc điểm của môn Ngữ văn, học sinh phải tự học, tự tìm tòi là chính. Học sinh phải chuẩn bị bài trước ở nhà: đọc tác phẩm, xem chú thích, trả lời các câu hỏi ở sách giáo khoa, tham khảo sách, vận dụng kiến thức cũ,... Về nhà suy ngẫm, chiêm nghiệm, làm phong phú cho nhận thức của mình sau mỗi bài học. Đây cũng chỉ là cách đọc thích hợp cho học sinh khá, giỏi nhưng đối với học sinh trung bình trở xuống thì các em khó thực hiện được như thế. Vì vậy, giáo viên cần tập trung chỉ cho học sinh không những biết cách học mà Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 9 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" còn biết cách làm bài. Từ khâu tìm hiểu đề, tìm ý – lập dàn bài – viết bài (cách tổ chức triển khai luận điểm thành đoạn văn). Trong các khâu ấy, học sinh cần nắm được kĩ năng viết đoạn văn. Học sinh cần đọc kĩ văn bản, thuộc dẫn chứng, nắm chắc kiến thức lý thuyết, nắm cách làm bài, viết bài, biết viết câu hay, ý hay qua quá trình hướng dẫn rèn luyện kĩ năng thực hành của thầy cô giáo. Học sinh biết sáng tạo khi làm bài, biết xây dựng đoạn, liên kết đoạn, biết xây dụng bố cục mạch lạc, rõ ràng, chặt chẽ. 4.2. Đối với giáo viên Cần định hướng trong việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh trong việc viết đoạn văn ở từng phần khi làm bài nghị luận văn học. Trong các khâu tự tìm hiểu đề cho đến viết bài, học sinh yếu – kém thường bỏ qua khâu tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý. Cho nên đọc xong đề là các đối tượng học sinh này bắt tay vào việc làm bài ngay. Do đó, giáo viên cần cho học sinh hiểu cách trình bày khi đọc xong đề. Xem đề bài yêu cầu phân tích hay suy nghĩ, cảm nhận mà từ đó có định hướng khi làm bài. Giáo viên phải cho học sinh hiểu và nắm được yêu cầu của đề bài. Khi dạy học sinh về thể văn nghị luận văn học, giáo viên cần chú trọng cho học sinh khai thác cái đẹp, cái hay của tác phẩm về nội dung và nghệ thuật, thấy được chiều sâu tư tưởng của tác giả gửi gắm vào đấy để từ đó giúp học sinh có kĩ năng sống phù hợp với xã hội hiện đại, sống có trách nhiệm với mọi người, biết rung động cảm thụ để lĩnh hội kiến thức cơ bản. Người giáo viên cần giúp học sinh xác định được trọng tâm kiến thức để học sinh nắm được vấn đề đặt ra trong tác phẩm mà từ đó có cách viết, cách thể hiện cảm xúc của mình khi tạo lập văn bản. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh quy trình thực hành một bài viết về nghị luận tác phẩm văn học: từ khâu mở bài, thân bài đến kết bài; từ nghị luận được một câu thơ đến hai câu thơ rồi đến cả đoạn, các đoạn rồi viết thành bài, để từ đó giáo viên nâng dần kĩ năng viết văn cho các em. Để viết tốt, viết hay, giáo viên cần giúp học sinh có ý thức yêu thích học bộ môn Ngữ văn để từ đó các em có tâm thế, có thái độ tốt khi chiếm lĩnh tri thức của tác phẩm văn học. Như vậy, với đề tài “Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”, tôi mong muốn sẽ góp một phần nhỏ vào việc rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn học cho học sinh nói chung và cho học sinh lớp 9 nói riêng. Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 10 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" Chương II: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỤ THỂ RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 9 Để có được một bài văn nghị luận văn học hoàn chỉnh, học sinh được luyện từng kĩ năng với những thao tác cụ thể. Muốn vậy, cần có một hệ thống bài tập tốt vừa sức, từ đơn giản đến khó. Qua những bài cụ thể ấy, các em sẽ hiểu rõ hơn mình cần phải làm gì, làm như thế nào để đạt yêu cầu. Tất nhiên, cái đích của các em vẫn là viết một bài văn nghị luận nghị luận văn học hoàn chỉnh. Song thiết nghĩ nếu các em được luyện kỹ năng viết đoạn văn nghị luận văn học đủ, đúng và hay thì con đường đi đến cái đích ấy không mấy khó khăn. Để rèn luyện kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9, đầu tiên, giáo viên cần giúp các em nhớ lại kiến thức về đoạn văn, liên kết câu và liên kết đoạn văn trong văn bản mà các em đã được học: I. ĐOẠN VĂN 1. Đoạn văn là gì? Theo SGK Ngữ văn 8, tập 1, Tr.36: Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chữ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành. Ngoại trừ tục ngữ (văn bản ngắn nhất), còn tất cả các loại văn bản đều gồm có một số câu và đoạn văn. Câu văn, đoạn văn là những tế bào gắn bó hữu cơ trong cơ thể văn bản. Chưa biết đặt câu (đúng, hay) chưa biết dựng đoạn (hợp lí, đúng quy cách) thì khó mà hình thành được văn bản. Trong một đoạn văn, các câu có quan hệ chặt chẽ với nhau. Có thể bổ sung ý nghĩa cho nhau, có thể liên kết, phối hợp với nhau về ý nghĩa. Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm sáng tỏ chủ đề của đoạn bằng các phép diễn dịch, quy nạp, song hành, móc xích, 2. Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp lại nhiều lần (thường là chỉ từ, đại từ, các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng được biểu đạt. Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính C-V, nó có thể đứng đầu đoạn văn (đoạn diễn dịch) cũng có thể đứng cuối đoạn văn (đoạn quy nạp). 3. Cách trình bày nội dung đoạn văn Ngoài việc viết đúng (dùng từ đúng, viết đúng chính tả, đặt câu đúng), cách diễn đạt trôi chảy, có hình ảnh và cảm xúc, các em còn phải biết dựng đoạn, biết Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 11 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" cách trình bày nội dung đoạn văn cho đúng, hợp lí. Làm văn, viết văn là phải sáng tạo. Không thể đơn điệu, cứng nhắc, dễ gây nhàm chán. Do đó, các em phải biết sử dụng nhiều cách dựng đoạn trong một bài văn, từng bài văn, luyện thành kĩ năng, kĩ xảo. Trong quá trình viết văn, các em thường sử dụng những cách trình bày đoạn văn theo kiểu: diễn dịch, qui nạp, song hành. Đoạn văn diễn dịch là cách thức trình bày ý đi từ ý chung, ý khái quát đến ý cụ thể, chi tiết. Đoạn diễn dịch có câu chốt (câu chủ đề) đứng đầu đoạn, các câu đi kèm sau minh hoạ cho câu chốt. Đoạn văn quy nạp là cách trình bày nội dung đi từ các ý chi tiết, cụ thể đến ý chung, ý khái quát. Trong đoạn quy nạp, các câu mang ý chi tiết, cụ thể đứng trước, câu chủ đề (câu chốt) đứng cuối đoạn văn. Đoạn văn song hành là đoạn văn được sắp xếp các ý ngang nhau, bổ sung cho nhau, phối hợp nhau để diễn tả ý chung. Đoạn song hành không có câu chủ đề. 4. Bài tập nhận biết đoạn văn Bài tập 1: Những tập hợp sau đây có thể coi là đoạn văn không? a. Hồ Chí Minh là một trong những tên tuổi sáng ngời nhất của dân tộc Việt Nam. "Những trò lố hay là Va ren và Phan Bội Châu" là tác phẩm viết bằng tiếng Pháp của Người. b. Bài thơ "Qua đèo Ngang" là bức tranh đẹp về một vùng non nước. Cụm từ "Ta với ta" diễn tả nỗi buồn của một con người, cảm thấy lẻ loi, cô đơn giữa một không gian bao la trời mây nước. Đọc "Qua đèo Ngang" ta được thấy phong cách thơ trang nhã, điêu luyện rất tiêu biểu cho thơ Đường luật của Bà Huyện Thanh Quan. c. Gần trưa, chúng tôi mới đến trường học, tôi dắt em đến lớp 4B, cô giáo Tâm đang giảng bài. Chúng tôi đứng nép vào gốc cây trước cửa lớp, em cắn chặt môi im lặng, mắt lại đăm đăm nhìn khắp sân trường từ cột cờ đến tấm bảng tin và những vạch than vẽ ô ăn quan trên hè gạch. Rồi em bật khóc thút thít. (“ Cuộc chia tay của những con búp bê” - Khánh Hoài - Ngữ văn 7) Hướng dẫn: Học sinh sẽ nhận ra cả ba tập hợp trên xét về hình thức là đoạn văn. Xét về nội dung (a), (b) chưa đảm bảo. + Hai câu văn tập hợp (a) chưa có sự liên kết. + Tập hợp (b) có vẻ mang dáng dấp của một đoạn văn khá rõ với câu đầu tiên như là một câu có vai trò mở ra đề tài của đoạn. Nhưng những câu viết sau không gắn bó gì với đề tài ấy (mặc dù cả 3 câu đều viết về bài thơ “Qua đèo Ngang”). Chỉ có tập hợp (c) xét về cả nội dung và hình thức đảm bảo là một đoạn văn (nội dung: kể việc anh em Thuỷ, Thành đến trường chia tay cô giáo). Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 12 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" Một lần nữa giáo viên chốt và nhắc lại kiến thức đoạn văn: “Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành.” (Ngữ văn 8- tập I) Khi học sinh đã nhớ khái niệm về đoạn văn, các em cần phân biệt đoạn văn nghị luận khác với các đoạn văn khác như thế nào, nên tôi đưa ra bài tập 2 Bài tập 2: Chọn đáp án đúng nhất. a. "Đẹp quá đi, mùa xuân ơi - mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thân mến. Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng Giêng. Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai nhưng nhuỵ vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh như cuối đông đầu giêng nhưng trái lại, lại nức mùi hương man mác.” (Mùa xuân của tôi-Vũ Bằng) A. Đoạn văn tự sự. B. Đoạn văn miêu tả. C. Đoạn văn biểu cảm. D. Đoạn văn nghị luận. b. “Lịch sử ta có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta. Chúng ta có quyền tự hào về những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung... Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng.” (Tinh thần yêu nước củanhân dân ta-Hồ Chí Minh ) A. Đoạn văn tự sự. B. Đoạn văn miêu tả. C. Đoạn văn nghị luận. D. Cả A, B Hướng dẫn: Học sinh chọn đáp án C (cho cả 2 đoạn). - Với (a) giáo viên muốn nhắc lại cho học sinh về một đoạn văn biểu cảm. - Với (b) giáo viên giúp các em nhận rõ đây là đoạn văn nghị luận. Đoạn văn nghị luận thường nêu lên một ý kiến và có những dẫn chứng, lý lẽ làm rõ ý kiến đó. II. LIÊN KẾT CÂU VÀ LIÊN KẾT ĐOẠN VĂN 1. Liên kết các đoạn văn trong văn bản Trong bài văn, khi chuyển từ đoạn văn này sang đoạn văn khác, cần sử dụng các phương tiện liên kết để thể hiện quan hệ ý nghĩa của chúng. Ta có thể sử dụng các phương tiện liên kết chủ yếu sau đây để thể hiện quan hệ giữa các đoạn văn: Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 13 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" Dùng từ ngữ có tác dụng liên kết: quan hệ từ, đại từ, chỉ từ, các cụm từ thể ý liệt kê, so sánh; Trình tự, phương tiện, sự bổ sung như trước hết, đầu tiên; Ý tổng kết, khái quát sự việc: nói tóm lại, nhìn chung,...; Ý tương phản đối lập: nhưng, trái lại,...; Sự thay thế (các đại từ): này, đó,... Dùng câu nối để liên kết . 2. Liên kết câu và liên kết đoạn văn Các đoạn văn trong một văn bản cũng như các câu trong một đoạn văn phải liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung và hình thức. - Về nội dung: Các đoạn văn phải phục vụ chủ đề chung của văn bản, các câu phải phục vụ chủ đề của đoạn văn (liên kết chủ đề); Các đoạn văn và các câu phải được sắp xếp theo một trình tự hợp lí (liên kết lô- gic). - Về hình thức, các câu và các đoạn văn có thể được liên kết với nhau bằng một số biện pháp chính như sau: Lặp lại ở câu đứng sau từ ngữ đã có ở câu trước (phép lặp từ ngữ); Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa hoặc cùng trường liên tưởng với từ ngữ đã có ở câu trước (phép đồng nghĩa, trái nghĩa và liên tưởng); Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ có tác dụng thay thế từ ngữ đã có ở câu trước (phép thế); Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ biểu thị quan hệ với câu trước (phép nối) III. HƯỚNG DẪN CHUNG VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC 1. Sự khác biệt giữa phân tích, suy nghĩ và cảm nhận trong yêu cầu của đề bài nghị luận văn học. 1.1. Phân tích: Nói tới phân tích tức là nói tới việc mổ xẻ, chia tách đối tượng ra thành các phương diện, các bộ phận khác nhau để tìm hiểu, khám phá, cắt nghĩa. Cái đích cuối cùng là nhằm để tổng hợp, khái quát, chỉ ra được sự thống nhất. Như vậy, phân tích là yêu cầu phân tích tác phẩm để nêu ra nhận xét của người viết (người nói). 1.2. Suy nghĩ: Là nhận xét, nhận định, phân tích về tác phẩm của người viết ở góc nhìn nào đó về chủ đề, đề tài, hình tượng nhân vật, nghệ thuật, 1.3. Cảm nhận: Là cảm thụ của người viết về một hay nhiều ấn tượng mà tác phẩm để lại sâu sắc trong lòng người đọc về nội dung hay nghệ thuật hoặc cả nội dung và nghệ thuật. Như vậy, từ phân tích chỉ định về phương pháp, từ suy nghĩ nhấn mạnh tới nhận định, phân tích, từ cảm nhận lưu ý đến ấn tượng, cảm thụ của người viết. Nếu học sinh không hiểu, không phân biệt được sự khác nhau trên thì đề bài yêu cầu gì đi nữa học sinh đều phân tích hết. 2. Hướng dẫn học sinh cách viết đoạn văn nghị luận văn học. Trong chương trình Ngữ văn 9, học sinh học nghị luận văn học về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích); nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. Riêng nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) có thể đề cập đến nhiều vấn đề khác Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 14 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" nhau như: về chủ đề, sự kiện, nhân vật, cốt truyện, nghệ thuật,... Giáo viên cần tập trung vào nghị luận về nhân vật văn học theo yêu cầu của sách giáo khoa. Hướng dẫn học sinh viết bài văn phải có bố cục đầy đủ gồm ba phần: mở bài, thân bài, kết bài. Đối với bài thơ học sinh phải xác định được bố cục. Phân tích theo lối cắt ngang ở từng đoạn thơ, khổ thơ. Từ văn bản thơ, học sinh tiến hành chia đoạn và tìm những ý chính của mỗi đoạn. đối với từng khổ thơ, đoạn thơ, câu thơ vẫn có thể chia tách ra thành các ý nhỏ được. Sau khi tìm được ý chính của mỗi đoạn thì biến những ý chính ấy thành các luận điểm. Ban đầu tập cho học sinh phân tích một câu, rồi đến hai câu. Từ hai câu rồi đến một khổ thơ, từ khổ thơ (đoạn thơ) rồi đến bài thơ. Ví dụ: Khổ thơ đầu của bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận: Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồn cùng gió khơi. Giáo viên tâp cho học sinh phân tích câu thơ thứ nhất, rồi đến câu thơ thứ hai. Phân tích một lượt hai câu (một và hai). Trong khi hướng dẫn học sinh phân tích lưu ý cho học sinh không thể cắt ngang câu 3 vì câu thơ thứ 3 và câu thư 4 cùng nói về hoàn cảnh đoàn thuyền ra khơi, còn câu 1 và 2 là cảnh thiên nhiên khi đoàn thuyền ra khơi. Cho nên để tách thành các ý nhỏ chỉ cắt câu thơ 1 và 2 ở khổ thơ trên. Phân tích nghệ thuật cũng là nhằm biểu đạt nội dung, một ý tưởng nào đấy mà tác giả muốn gửi gắm. Lưu ý là tránh diễn nôm các câu thơ thành văn xuôi. Khi tiến hành diễn thành văn xuôi, thuật lại ý, tứ của câu chỉ trong trường hợp cái ý, tứ ấy rất mơ hồ, mỗi người hiểu một cách khác nhau. IV. LUYỆN VIẾT CÁC ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC Trước khi luyện viết đoạn văn, học sinh đã được rèn kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, cách viết các đoạn cho một bài văn nghị luận văn học cụ thể. Chính vì vậy, ở phần này, tôi chỉ đưa ra hệ thống kiến thức với mục đích rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích); nghị luận về đoạn thơ, bài thơ. 1. Luyện viết đoạn mở bài. Nhắc lại cho học sinh có nhiều cách mở bài mà các em đã được học: Mở bài trực tiếp: Đi thẳng vào vấn đề nghị luận, đề bài yêu cầu nghị luận vấn đề gì thì viết luôn vấn đề đó. Cách này ngắn gọn, đúng vấn đề nhưng dễ khô khan. Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 15 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" Mở bài gián tiếp: Không đi thẳng vào vấn đề nghị luận mà dẫn dắt vấn đề bằng nhiều cách: + Nêu xuất xứ của vấn đề nghị luận (đi từ đề tài). + Đưa ra một so sánh, một câu tục ngữ, ca dao, một câu nói hoặc trích dẫn thơ... (có nội dung tương đương). + Nêu lý do đưa đến bài viết - Sau phần dẫn dắt là phần: Nêu vấn đề nghị luận( trích dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp vấn đề nghị luận đã nêu ở đề bài. Đối với dạng bài nghị luận văn học ở lớp 9, giáo viên trình bày quy trình của đoạn văn phần mở bài về nhân vật văn học và về đoạn thơ, bài thơ để học sinh nhận biết qua đối chiếu sau: Về nhân vật văn học Về đoạn thơ, bài thơ (1) Giới thiệu tác giả -> (2) Tên (1) Giới thiệu tác giả -> (2) Tên tác phẩm -> (3) Thời điểm, hoàn cảnh tác phẩm -> (3) Thời điểm, hoàn cảnh sáng tác -> (4) Nhân vật chính -> (5) sáng tác -> (4) Trích ở đâu -> (5) Nêu Nêu ý kiến, đánh giá sơ bộ của mình nhận xét, đánh giá sơ bộ về nội dung, về nhân vật. nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ. Như vậy, nhìn vào phần mở bài của hai kiểu bài, học sinh sẽ thấy cả hai đề có (1), (2), (3) giống nhau nhưng bắt đầu khác nhau từ (4) và (5). Điều này giúp học sinh dễ nhớ. Giáo viên lưu ý cho học sinh có thể mở bài theo trình tự như thế nhưng cách trình bày trên là không bắt buộc. Điều bắt buộc về nội dung phải có là (2) và (5) ở mỗi phần. Về giới thiệu tác giả, mỗi tác giả học sinh phải thuộc ít nhất một câu. Ví dụ: - Kim Lân là nhà văn có sở trường về truyện ngắn. - Nguyễn Thành Long là một cây bút chuyên viết truyện ngắn và kí. - Chính Hữu là nhà thơ quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp. - Viễn Phương là một trong những cây bút có công xây dựng nền văn học cách mạng miền Nam từ những ngày đầu. - Lê Minh Khuê là cây bút nữ chuyên về truyện ngắn. - * Ví dụ minh họa phần mở bài: Đề 1: Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long. Viết đoạn: Nhắc đến Nguyễn Thành Long là nhắc đến một cây bút chuyên viết truyện ngắn và kí. Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” được sáng tác vào mùa hè Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 16 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" năm 1970, trong một chuyến đi lên Lào Cai của tác giả. Nhân vật chính trong truyện là anh thanh niên. Dù được miêu tả nhiều hay ít, trực tiếp hay gián tiếp, anh thanh niên vẫn hiện lên trong lòng người đọc với bao vẻ đẹp đáng yêu, đáng khâm phục.(hoặc câu cuối có thể viết: Anh thanh niên nổi bật với những phẩm chất tốt đẹp của con người trong giai đoạn xây dựng Chủ nghĩa xã hội và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ ở miền Bắc). Đề 2: Phân tích bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh. Viết đoạn: Hữu Thỉnh vốn rất gắn bó với cuộc sống nông thôn. Ông có nhiều bài thơ hay viết về mùa thu, về con người và cuộc sống ở làng quê. Tiêu biểu cho đề tài này là bài thơ “Sang thu”. Bài thơ được Hữu Thỉnh sáng tác gần cuối năm 1977, giới thiệu lần đầu tiên trên báo Văn nghệ. Bài thơ là những cảm nhận, suy tư của nhà thơ về sự biến chuyển của đất trời từ hạ sang thu. Từ hai đề trên, giáo viên cho học sinh đối chiếu với phần mở bài ở từng kiểu bài thì học sinh dễ dàng viết đoạn mở bài. Cách mở bài này dành cho đối tượng học sinh đại trà. 2. Luyện viết đoạn thân bài: 2.1. Nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc trích Giáo viên hướng cho học sinh viết đoạn văn trình bày theo lối diễn dịch hoặc quy nạp. Giáo viên cho học sinh nhắc lại cách trình bày nội dung đoạn văn theo cách diễn dịch hoặc quy nạp bằng sơ đồ để học sinh dễ nhớ hơn. + Diễn dịch: (1) (câu chủ đề nêu luận điểm) (2) (3) (4) Các câu (2), (3), (4), là các câu nêu ý chi tiết, cụ thể để làm sáng tỏ câu chủ đề. Như vậy, các câu (2), (3), (4) có thể là dẫn chứng, là nhận xét, đánh giá, của người viết. Đoạn văn thực hiện như sau: (1) Câu chủ đề mang luận điểm -> (2) Dẫn chứng lấy từ tác phẩm (chọn 1 hoặc 2 dẫn chứng) -> phân tích, nhận xét, đánh giá từ dẫn chứng để làm sáng tỏ ý đã nêu ở câu chủ đề. Các câu này phải viết thành đoạn văn. Ví dụ: (1) Anh thanh niên là người rất khiêm tốn. (2) Khi ông họa sĩ muốn vẽ chân dung của anh, anh hào hứng giới thiệu về những con người đáng để vẽ hơn mình. (3) Đó là ông kĩ sư vườn rau ở dưới Sa Pa, ông vượt qua bao khó khăn vất vả để tạo ra những củ su hào to hơn, ngon hơn cho nhân dân. (4)Đó còn là anh cán bộ khí tượng dưới trung tâm suốt mười một năm chuyên tâm Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 17 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" nghiên cứu và thiết lập bản đồ rét. (5) Anh thấy đóng góp của mình bình thường nhỏ bé so với những con người ấy. (6) Anh thấy thấm thía sự hi sinh thầm lặng của những con người ngày đêm làm việc lo nghĩ cho đất nước ở nơi mảnh đất nghĩa tình Sa Pa này. Như vậy: Câu (1) là câu chủ đề mang luận điểm Câu (2) là câu chuyển để đưa dẫn chứng Câu (3), (4) là dẫn chứng gián tiếp từ tác phẩm Câu (5) và (6) là những câu phân tích, nhận xét từ dẫn chứng của người viết. Cái khó là học sinh không biết phân tích, nhận xét nên giáo viên cho học sinh đặt câu hỏi để trả lời như: Vì sao anh lại giới thiệu những con người khác ở Sa Pa? Anh nghĩ điều gì mà giới thiệu như vậy? Học sinh trả lời đúng, nghĩa là học sinh đã biết nhận xét, đánh giá. Quy nạp là cách trình bày ngược với cách diễn dịch. Nhắc lại đoạn văn trình bày theo cách quy nạp để học sinh nhớ lại và viết đúng nhằm thay đổi thao tác lập luận trong khi làm bài. Học sinh xác định được đặc điểm, tính cách của nhân vật theo trình tự diễn biến của truyện thì học sinh lần lượt viết được đoạn văn ở phần thân bài. 2.2. Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ Đầu tiên, giáo viên phải hình thành cho học sinh quy trình xây dựng đoạn khi phân tích một đoạn thơ, khổ thơ như sau: (1) Nhận xét khái quát về nội dung của đoạn thơ, khổ thơ ấy (câu này gọi là câu dẫn) -> (2) Dẫn chứng đoạn thơ, khổ thơ -> (3) Giảng giải, cắt nghĩa (từ, ngữ, câu thơ) -> (4) Liên hệ, mở rộng, so sánh -> (5) Nhận xét cách sử dụng nghệ thuật và phân tích nghệ thuật ấy (chú ý vào các chi tiết nghệ thuật tiêu biểu, mà ở đó, các ý nghĩa độc đáo, tài năng nghệ thuật của tác giả được bộc lộ - lựa chọn chi tiết không dàn trải) -> (6) Nhận xét, đánh giá về nội dung của đoạn thơ, khổ thơ (phần này có thể về cảnh, về tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình trực tiếp hoặc nhân vật trữ tình nhập vai). Các câu (1), (2), (5), (6) thường bắt buộc phải có khi phân tích. Câu (3), (4) tùy theo đoạn thơ, khổ thơ mà thực hiện. Riêng câu (4) học sinh khá, giỏi thường dùng để mở rộng ý. Ví dụ 1: Phân tích khổ thơ: Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến (Thanh Hải – Mùa xuân nho nhỏ) Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 18 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" Viết đoạn: (1) Từ cảm nhận về mùa xuân của thiên nhiên, đất nước, nhà thơ đã có ước nguyện: (2) Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến (3) Nhà thơ muốn làm con chim hót để làm vui cho cuộc đời, muốn làm một cành hoa để khoe sắc và tỏa ngát hương thơm làm đẹp cuộc đời, muốn làm một nốt trầm trong bản hòa ca để làm tăng ý nghĩa cuộc đời. (4) Nhà thơ đã dùng những hình ảnh đẹp của tự nhiên như bông hoa, con chim để nói lên ước nguyện của mình. Những hình ảnh ấy được lặp lại, trở lại mang một ý nghĩa mới: niềm mong muốn được sống có ích, cống hiến có ích cho đời. Cũng trong thời gian này, nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài “Một khúc xuân” những suy ngẫm tưng tự: Nếu là con chim, chiếc lá Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh Lẽ nào vay mà không trả Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình. Nét riêng trong những câu thơ của Thanh Hải là ở chỗ nó đề cập đến một vấn đề lớn nhân sinh quan – vấn đề ý nghĩa của đời sống cá nhân trong mối quan hệ với cộng đồng – một cách thiết tha, nhỏ nhẹ, khiêm nhường được thể hiện qua những hình tượng đơn sơ mà chưa đựng nhiều xúc cảm. (4’) Nếu khi bắt đầu vào bài thơ, nhà thơ xưng tôi “Tôi đưa tay tôi hứng” thì giờ đây, tác giả đã chuyển sang ta. Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên. Với chữ ta vừa là số ít vừa là số nhiều, tác giả có thể nói được cái riêng biệt, cá thể, đồng thời lại nói được cái khái quát, cái chung. (5) Cách sử dụng điệp ngữ “ta làm” láy đi láy lại thật tha thiết, chân thành. (6) Nhà thơ có một ước nguyện nhỏ bé, một phương châm sống thật cao đẹp được hòa nhập và cống hiến cho đời. Từ đoạn văn trên, học sinh sẽ nhận thấy quy trình : Câu (1) nhận xét khái quát về nội dung của đoạn thơ, khổ thơ ấy. Câu (2) dẫn chứng đoạn thơ, khổ thơ. Câu (3) giảng giải, cắt nghĩa. Câu (4), (4’) là liên hệ, mở rộng, so sánh. Câu (5) là nhận xét cách sử dụng nghệ thuật. Câu (6) là nhận xét, đánh giá về nội dung. Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 19 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" Đối với học sinh trung bình, yếu thì không thể thực hiện những câu (4), (4’) mà dành cho học sinh khá, giỏi. Khi học sinh đã quen thì có thể hướng dẫn cho đối tượng trung bình, yếu thực hiện những câu (4), (4’). Ví dụ 2: Phân tích các câu thơ sau: Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười. (Y Phương – Nói với con) Viết đoạn: Những câu thơ mở đầu đã thể hiện tình yêu thương của cha mẹ đối với con : Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười. Lời thơ gợi hình ảnh cụ thể về một em bé đang tuổi tập đi, tập nói. Lúc thì bước tới níu lấy tay cha, lúc thì sà vào lòng mẹ. Điệp ngữ “bước tới” gợi bước chân chập chững của đứa con và sự mong chờ, vui mừng đón nhận của đôi vợ chồng trẻ. Nhà thơ đã tạo một không khí gia đình đầm ấm, quấn quýt, hạnh phúc. Ví dụ 3 : Phân tích khổ thơ : Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình. (Nguyễn Duy – Ánh trăng) Viết đoạn: Khổ thơ cuối bài mang tính hàm nghĩa độc đáo, đưa tới chiều sâu tư tưởng triết lí: Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình. “Tròn vành vạnh” là ánh trăng rằm, tròn đầy, một vẻ đẹp viên mãn. “Im phăng phắc” là im như tờ, không một tiếng động nhỏ. Vầng trăng cứ tròn đầy và lặng lẽ “kể chi người vô tình”. “Trăng cứ tròn vành vạnh” như tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ, cho sự bao dung độ lượng, của nghĩa tình thủy chung trọn vẹn. “Ánh trăng im phăng phắc” là hình ảnh Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ
- 20 Sáng kiến kinh nghiệm "Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9" nhân hóa, chính là người bạn – nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc đang nhắc nhở nhà thơ (và cả mỗi chúng ta). Con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn luôn tròn đầy, bất diệt. 3. Luyện viết đoạn kết bài Trong thực tế, tôi nhận thấy học sinh rất ít chú ý đến đoạn kết bài, chỉ tóm lược nội dung của bài hay liên hệ đôi câu công thức là xong. Đó là một thói quen xấu, làm ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng bài viết. Vì thế, giáo viên cũng cần dành thời gian thích đáng để giúp học sinh luyện kĩ năng viết đoạn văn kết bài. * Kết bài phải đảm bảo các nguyên tắc sau: - Phần kết bài phải thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở phần trên (thân bài). - Kết bài nêu ra ý kiến khái quát, tổng hợp, đánh giá vấn đề đã trình bày. *Có 4 cách kết bài: - Tóm tắt nội dung đã nêu ở thân bài. - Phát triển: Mở rộng thêm vấn đề đặt ra trong đề bài. - Vận dụng: Nêu phương hướng, bài học áp dụng hay phát huy, khắc phục vấn đề nêu trong bài. - Liên tưởng: Mượn ý kiến tương tự, những ý có giá trị để thay thế cho lời tóm tắt của người làm bài. Yêu cầu của kết bài cũng giống như mở bài, không chỉ đúng mà còn phải hay. Muốn làm được điều đó, giáo viên phải luyện cho các em viết, phải cho các em ý thức được rằng nếu chưa có một kết bài ưng ý thì chưa bằng lòng vì bài viết chưa hoàn chỉnh. Đối với phần kết bài của bài nghị luận văn học 9, theo sách giáo khoa phần kết bài ở mỗi kiểu bài như sau: Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích): Nhận định đánh giá chung của mình về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích). Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ: Khái quát giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ bài thơ. Phần này giáo viên cần cụ thể hơn để học sinh hiểu: 3.1. Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) - Nêu những nhận định, đánh giá chung về: bút pháp xây dụng nhân vật, ảnh hưởng của nhân vật đối với người đọc. - Có thể bày tỏ tình cảm, cảm xúc của mình đối với nhân vật. - Cần nói đến vai trò, vị trí của nhân vật trong tác phẩm, và tùy trường hợp, có thể nói rõ tác giả đã đóng góp được những gì về tư tưởng, về nghệ Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo - GV Trường THCS Mỹ Độ



