Dự án Dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho giáo viên THCS - Dự án: Lịch Sử 8 - Chiến tranh Thế giới thứ hai (1939-1945) - NH 2015-2016 (Trần Hoàng Em)

doc 27 trang Đình Bắc 11/08/2025 170
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Dự án Dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho giáo viên THCS - Dự án: Lịch Sử 8 - Chiến tranh Thế giới thứ hai (1939-1945) - NH 2015-2016 (Trần Hoàng Em)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docdu_an_day_hoc_theo_chu_de_tich_hop_danh_cho_giao_vien_thcs_d.doc

Nội dung text: Dự án Dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho giáo viên THCS - Dự án: Lịch Sử 8 - Chiến tranh Thế giới thứ hai (1939-1945) - NH 2015-2016 (Trần Hoàng Em)

  1. SỞ GD&ĐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ PHÒNG GD&ĐT QUẬN CÁI RĂNG TRƯỜNG THCS THƯỜNG THẠNH - - -  -  - - BÀI DỰ THI DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP DÀNH CHO GIÁO VIÊN THCS Tên dự án dạy học: Giáo viên thực hiện: Trần Hoàng Em NĂM HỌC: 2015 – 2016
  2. PHIẾU THÔNG TIN VỀ GIÁO VIÊN DỰ THI. - Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Cần Thơ. - Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận Cái Răng. - Trường: THCS Thường Thạnh. - Địa chỉ: Khu vực Phú Qưới, phường Thường Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ - Điện thoại: 07103846884; Email: [email protected] - Họ và tên giáo viên thực hiện: Trần Hoàng Em; Điện thoại: 0985958894; Email: [email protected] PHỤ LỤC III
  3. PHIẾU MÔ TẢ HỒ SƠ DẠY HỌC DỰ THI CỦA GIÁO VIÊN 1. Tên hồ sơ dạy học “Vận dụng kiến thức liên môn giữa môn: Địa lí, Vật lí, Hóa học, Sinh học, GDCD, Ngữ văn và ứng dụng công nghệ thông tin để dạy học tốt bài học môn Lịch sử”. Bài học số 21 Lịch sử lớp 8: CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI (1939-1945) 2. Mục tiêu dạy học Kiến thức vốn không đơn lẻ mà luôn luôn có sự gắn kết, bổ sung cho nhau, khi kiến thức các môn học được tích hợp sử dụng trong một bài thì hiệu quả đạt được là rất lớn. Việc vận dụng kiến thức liên môn địa lí, vật lí, hóa học, sinh học, giáo dục công dân, ngữ văn và ứng dụng công nghệ thông tin, làm cho hiệu quả của bài học môn Lịch sử được nâng cao. Giúp cho học sinh học bài với niềm say mê, hứng thú. Đồng thời làm cho các em thấy được muốn học tốt môn học mình yêu thích thì không chỉ biết học môn đó mà cần phải học đều giữa các môn và ngược lại các môn học này giúp mình nâng cao thêm sự hiểu biết mình yêu thích. Kết quả là, các em sẽ được giỏi toàn diện về mọi mặt làm cho cuộc sống sau này của bản thân được hạnh phúc, ấm no và làm cho xã hội ngày càng giàu đẹp hơn. 3. Đối tượng dạy học của dự án - Đối tượng dạy học của dự án là học sinh. + Số lượng: 189 em. + Số lớp thực hiện: 4 lớp. + Khối lớp: 8. Thực tế kết quả thu được từ phương pháp giảng liên môn là: Trong tiến trình dạy học người học sinh phát huy được tính năng động tạo sự hứng thú đối với môn học, giúp học sinh nắm vững kiến thức bài học nhanh chống và ghi nhớ lâu dài. 4. Ý nghĩa của dự án Nâng cao chất lượng giờ dạy của giáo viên, giúp học sinh tích cực chủ động trong giờ học. Thông qua đó làm phong phú phương pháp giảng dạy, kết hợp được nhiều phương pháp đặc trưng bộ môn cũng như kết hợp với các bộ môn khác. Qua thực tế quá trình dạy học tôi thấy rằng việc tích hợp các kiến thức ở các bộ môn khác nhau: Vật lí, Hóa, Sinh, Địa,....để giải quyết một vấn đề nào đó trong bộ môn Lịch sử là việc làm hết sức cần thiết và mang một ý nghĩa quan trọng trong việc truyền đạt kiến thức cho học sinh trong thực tiễn. Điều đó đòi hỏi người giáo viên bộ môn nắm chắc kiến thức chuyên môn của mình mà còn phải không ngừng trao dồi kiến thức, học hỏi, tìm hiểu ở các môn học khác để từ đó có thể tổ chức, hướng dẫn các em giải quyết các tình huống, các vấn đề đặt ra trong môn học một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Học sinh phát hiện sử dụng kiến thức vào tình huống cụ thể, biết vận dụng kiến thức đã học của các môn để áp dụng vào quá trình tìm hiểu nội dung bài học và liên hệ với thực tiễn đời sống. Qua đó nâng cao chất lượng học tập của học sinh, học sinh có phương pháp học tập tốt phù hợp với yêu cầu hiện nay.
  4. Trong thực tế chúng tôi nhận thấy khi soạn bài có sự tích hợp kiến thức của các môn học khác sẽ giúp giáo viên tiếp cận tốt hơn, hiểu rõ hơn, sâu hơn những vấn đề đặt ra. Từ đó tổ chức hướng dẫn học sinh sẽ linh hoạt hơn, sinh động hơn. Học sinh có hứng thú, tìm tòi, khám phá nhiều kiến thức và được suy nghĩ, sáng tạo nhiều hơn. Từ đó vận dụng kiến thức vào thực tế tốt hơn. 5. Thiết bị dạy học, học liệu - Đối với giáo viên: - Kiến thức liên quan. - Máy tính, máy chiếu: Được sử dụng vào việc hỗ trợ giảng dạy bài học nhằm góp phần giải quyết nhanh, gọn các câu hỏi đặt ra và hỗ trợ hình ảnh, phim tư liệu làm bài giảng sinh động, hấp dẫn với người học. - Lược đồ Chiến tranh thế giới thứ hai: dùng để giúp học sinh xác định được vị trí địa lí các chiến trường trên thế giới. - Ứng dụng công nghệ thông tin để thấy được sức mạnh hủy diệt của bom nguyên tử. - Đối với học sinh: + Chuẩn bị bài, giấy, bút. + Phiếu bài tập, bảng nhóm + Sưu tầm tranh ảnh về chiến tranh thế giới thứ hai. 6. Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học 6.1. Mục tiêu dạy học. * Kiến thức: - Môn Lịch sử: + Nguyên nhân chính dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai. + Diễn biến của chiến tranh. + Trình bày sơ lược về mặt trận ở châu Âu và mặt trận Thái Bình Dương: chiến tranh bùng nổ ở châu Âu, lan nhanh khắp thế giới. + Kết cục và hậu quả của chiến tranh thế giới thứ hai. + Liên Xô tham gia mặt trận chống phát xít, làm cho tính chất chiến tranh thay đổi; những trận chiến lớn, chiến tranh kết thúc. - Môn Địa lí: Vận dụng kiến thức xác định các chiến trường trong chiến tranh và sự tham chiến của các nước trên thế giới. - Môn Vật lí: Giới thiệu cho học sinh đơn vị đo đương lượng nổ và sự giải phóng năng của bom nguyên tử. - Môn Sinh học: Học sinh hiểu được sự hủy diệt của sinh vật trong chiến tranhh, đặc biệt là nơi nổ bom nguyên tử. - Môn Hóa học: Giới thiệu cho học sinh biết được sự khác nhau giữa quy trình sản xuất bom nguyên tử và quy trành sản xuất điện nguyên tử. - Môn Ngữ văn: Giới thiệu bài thơ "Mưa phóng xạ Mỹ" của tác giả Xuân Diệu để nói lên tác hại to lớn của vũ khí hạt nhân. - Môn GDCD: Giáo dục cho học sinh về một thế giới hòa bình, không chiến tranh, không sử dụng vũ khí hạt nhân. * Kỹ năng:
  5. - Phân tích, nhận xét một sự kiện lịch sử và tác động của nó đối với thế giới. - Sử dụng bản đồ. - Thu thập thông tin, xử lí thông tin, quan sát bản đồ, tranh ảnh, video - Biết kết nối kiến thức môn địa lí, vật lí, hóa học và sinh học để hiểu được mức độ tàn phá của chiến tranh. * Thái độ : - Hậu quả của chiến tranh đối với nhân loại, chống chiến tranh bảo vệ hòa bình. - Chiến đấu kiên cường chống phát xít. - Tích cực, hứng thú và hợp tác trong học tập. 6.2. Nội dung: Thời gian: Bài học được tiến hành trong hai tiết học (90 phút) Nội dung bài học: Tóm tắt nội dung chính của phần nội dung bài học 1. Ổn định lớp: Kiểm tra sĩ số, vệ sinh, phần chuẩn bị của học sinh 2. Kiểm tra bài cũ: Trong nhứng năm 1918 – 1939 phong trào độc lập dân tộc của nhân dân các nước Đông Nam Á diễn ra như thế nào? 3. Bài mới: CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI (1939-1945) - Giới thiệu bài: Sau chiến tranh thế giới thứ nhất sự phát triển không đều giữa các nước đế quốc đã nảy sinh mâu thuẩn, cuộc khủng hoảng kinh tế (1929-1933) đã làm kinh tế các nước lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Trong khi các nước có thị trường, có thuộc địa tiến hành cải cách kinh tế - xã hội để thoát khỏi khủng hoảng; các nước khác như Đức, Italia, Nhật Bản để thoát khỏi khủng hoảng các nước đã tiến hành phát xít hóa chế độ thống trị và phát động chiến tranh để phân chia lại thế giới. Để hiểu rõ hơn chúng ta cùng tìm hiểu bài học 21: "Chiến tranh thế giới thứ hai (1929-1933)" * Phần tích hợp kiến thức lịch sử: - Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai là mâu thuẩn về quyền lợi giữa các nước đế quốc sau chiến tranh thế giới thứ nhất, cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 làm mâu thuẩn thêm sâu sắc; chính sách thỏa hiệp của các nước Anh - Pháp - Mĩ đối với khối phát xít để phát xít chĩa mũi nhọn chiến tranh vào Liên Xô; Phát xít Đức tấn công các nước châu âu trước để chuẩn bị lực lượng đủ mạnh mới quyết định tấn công Liên Xô. - Những diễn biễn chính của chiến tranh: Ngay sau khi Đức tấn công Ba Lan (1/9/1939), chiến tranh bùng nổ. Bằng chiến thuật "chiến tranh chớp nhoáng" chỉ trong một thời gia ngắn, phát xít Đức đã chiếm hầu hết các nước châu âu (trừ Anh và một vài nước trung lập như Thụy Sĩ, Thụy Điển, Ai Len); phát xít Đức tấn công và tiến sâu vào lãnh thổ Liên Xô (cuối 10/1941, quân Đức chỉ còn cách thủ đô Mátxcơva 20km); ở mặt trận châu Á - Thái Bình Dương khi phát xít Nhật bất ngờ tấn công hạm đội Mĩ ở Trân Châu Cảng (HaOai) (7/12/1941), rồi chiếm toàn bộ vùng Đông Nam Á và một số đảo ở Thái Bình Dương; ở mặt trận Bắc Phi phát xít Italia tấn công Ai Cập (9/1940); mặt trận đồng minh chống phát xít được thành lập (1/1942); bước sang năm 1943 với chiến thắng mang tính bước ngoặt (Xtalingrat ngày 2/2/1943) đã làm thay
  6. đổi cục diện trên mặt trận Xô - Đức và cục diện chiến tranh nói chung dẫn đến phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện (9/5/1945); ở mặt trận châu Á - Thái Bình Dương Liên Xô tham chiến, phong trào kháng chiến chống Nhật của nhân dân các nước châu á, việc Mĩ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hirôsima và Nagaxaki (ngày 6 và 9//1945) và việc Nhật tuyên bố đầu hàng vô điều kiện (15/8/1945). Trong chiến tranh Liên Xô đóng vai trò lực lượng đi đầu và là lực lượng chủ chốt góp phần quyết định trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít. - Kết cục của chiến tranh thế giới thứ hai đã tàn phá khủng khiếp với số người chết và bị thương tăng gấp 5 lần chiến tranh thế giới thứ nhất, tổng thiệt hại vật chất tăng gấp 10 lần chiến tranh thế giới thứ nhất (850 tỉ đôla). Toàn nhân loại phải hứng chịu hậu quả của chiến tranh, cả các nước thắng trận và những nước bại trận ở tất cả các châu lục trên thế giới; làm biến đổi căn bản tình hình thế giới. + Sức mạnh hủy diệt của bom nguyên tử: Ngày 6/8/1945, máy bay B-29 “Enola Gay” của quân đội Mỹ thả quả bom nguyên tử "Little Boy" xuống trung tâm thành phố Hiroshima của Nhật Bản trong giai đoạn Thế chiến II diễn ra. Quả bom có chiều dài 3 m, đường kính 71 cm, khối lượng 4.000 kg, sức công phá tương đương 13.000 đến 16.000 tấn thuốc nổ TNT. Ngay sau khi phát nổ cách mặt đất khoảng 600 m, nó giết chết ít nhất 90.000 người. 90% nhà cửa ở Hiroshima bị hủy diệt hoặc hư hại. Đây là lần đầu tiên con người sử dụng vũ khí hạt nhân trong chiến tranh.
  7. Chỉ 3 ngày sau vụ dội bom Hiroshima, sĩ quan Mỹ trên phi cơ B-29 “Bockscar” tiếp tục thả bom “Fat Man” xuống thung lũng công nghiệp của thành phố Nagasaki của Nhật. 43 giây sau, quả bom chứa 6,4 kg Plutonium 239 và đương lượng 21 kiloton đã phát nổ ở khoảng cách 469 m so với mặt đất. Bom thả vội vàng đã nổ ở đoạn giữa hai mục tiêu chính là xưởng thép ở phía bắc và xưởng thủy lôi ở phía nam, những khu vực ít dân cư. Vì vậy, mặc dù quả bom thứ hai với đương lượng nổ lớn hơn "Little Boy" ở Hiroshima nhưng gây thiệt hại ít hơn so với ở Hiroshima. 75.000 người trong tổng số 286.000 cư dân của thành phố đã thiệt mạng ngay thời điểm đó. Hai vụ nổ ghi dấu trong lịch sử thảm họa nhân tạo lớn nhất và khủng khiếp nhất mà con người từng biết đến. * Phần tích hợp môn Địa lí: Xác định vị trí địa lí chiến sự ở các mặt trận Tây Âu, mặt trận Xô - Đức, mặt trận châu Á - Thái Bình Dương, mặt trận Bắc Phi, trận Trân Châu Cảng, trận Xtalingrat, xác định 2 thành phố Hiroshima và Nagasaki
  8. Mặt trận Tây Âu Lược đồ mặt trận Châu Á – Thái Bình Dương
  9. * Phần tích hợp môn Vật lí: Đương lượng nổ (TNT) là phương pháp đo năng lượng giải phóng từ vụ nổ. Tấn (ton) TNT được dùng là đơn vị năng lượng, tương đương với năng lượng giải phóng khi kích nổ một tấn thuốc nổ TNT. Kiloton hoặc megaton là cách gọi ngắn gọn của đương lượng nổ 1.000 tấn TNT hoặc 1 triệu kg TNT, thường được dùng để chỉ đương lượng nổ của vũ khí hạt nhân khi so sánh với sức tàn phá của thuốc nổ thông thường. Gần đây, đơn vị năng lượng này còn được dùng để thể hiện mức năng lượng giải phóng từ các sự kiện có tính phá hủy khác như va chạm thiên thạch, động đất, v.v.. Theo tính toán của các nhà khoa học, vụ nổ bật tung hai triệu tấn nước và cát lên không khí, tạo ra cột nước cao gần 1,8km, rộng hơn 600m; đẩy vào không khí một lượng chất ô nhiễm phóng xạ vô cùng lớn. Vũ khí hạt nhân là loại vũ khí hủy diệt hàng loạt mà năng lượng của nó do các phản ứng phân hạch (phân rã hạt nhân) hoặc phản ứng hợp hạch (tổng hợp hạt nhân) gây ra.
  10. Vũ khí hạt nhân sức công phá tương đương với 10 triệu tấn thuốc nổ, có thể phá hủy hoàn toàn một thành phố trong vài phút. Hình ảnh cho thấy vụ nổ thử nghiệm hạt nhân này đã đẩy 2 triệu tấn nước và cát lên không trung, tạo ra cột nước cao 1,8km, rộng hơn 600m. Tại tâm vụ nổ, nhiệt độ có thể lên đến 300 triệu độ C và làm mọi thứ bốc hơi ngay lập tức.
  11. Áp lực từ vụ nổ thổi bay các mảnh vỡ từ các tòa nhà cũng gây ra thiệt hại lớn cho các khu vực xung quanh bán kính trên 10km. * Phần tích hợp môn Hóa học: Năng lượng phóng thích từ phản ứng phân hạch tạo ra hai nguyên tố nhẹ hơn và một số trung hòa tử (neutron) phân ly khối lượng so với nguyên tử U-235 nguyên thủy sẽ ít hơn. Khối lượng bị biến mất này vì nó đã chuyển biến thành năng lượng với phưong trình EINSTEIN: E= năng lượng (JOULES) m= khối lượng nguyên liệu đã mất (KG) c= tốc độ ánh sáng (299,792,458 M/SEC) [hay gần bằng 300,000,000 mét/giây] Muốn nhà máy điện hạt nhân hoạt động phải tinh luyện hay làm giàu tới trên 3% U-235 mới hoạt động. Còn so với vũ khí hạt nhân thì lượng U-235 phải làm giàu (enriched) ít nhất 90% mới thực hiện được.
  12. Đồng vị U-235 được lựa chọn là do khả năng tiếp nhận neutron tự do rất cao. Quá trình tiếp nhận và phân rã xảy ra vô cùng nhanh chóng. Để có thể hoạt động, nguyên liệu uranium cần phải được "làm giàu", nghĩa là làm tăng tỉ lệ của đồng vị U-235. Ở cấp độ vũ khí hạt nhân, đồng vị U-235 phải chiếm trên 90% nguyên liệu chính. Chỉ có chất đồng vị U-235 trong uranium mới có khả năng phân hạch (để chế tạo bom). Uranium tự nhiên chủ yếu gồm chất đồng vị U-238 và chỉ có 0,7% chất đồng vị U-235. Cấu tạo của một quả bom phân hạch đơn giản bao gồm một đầu đạn nhỏ U-235 và một khối nguyên liệu U235 hình cầu, khi đầu đạn gặp khối nguyên liệu nó sẽ tạo nên khối lượng tới hạn và kích hoạt quá trình phản ứng phân hạch dây chuyền. Quy trình sản xuất bom hạt nhân: Quy trình sản xuất điện hạt nhân:
  13. Vì sao phải sản xuất điện bằng phương pháp hạt nhân? Đầu tiên là về yếu tố "khổng lồ". Một nhà máy điện hạt nhân cỡ lớn như nhà máy điện Fukushima I (vừa bị nổ ở Nhật) có công suất 4,7 GW trong khi thủy điện lớn nhất của Việt Nam chỉ có công suất khoảng 2 GW. Fukushima I chỉ là 1 trong 6 nhà máy điện ở khu vực này của Nhật, diện tích sử dụng của cả 6 nhà máy hạt nhân này vẫn nhỏ hơn thủy điện Hòa Bình của Việt Nam. Công trình thủy điện lớn nhất thế giới, đập Tam Điệp của Trung Quốc cũng chỉ có công suất khoảng 18 GW. Diện tích của đập Tam Điệp này là khoảng 1045 km2, trong khi Fukushima 1 có diện tích chưa đến 1km2. Uranium 235 không phải là nguyên liệu duy nhất cho nhà máy điện hạt nhân. Có một nguyên tố khác cho phản ứng phân hạch nữa đó là plutonium 239. Plutonium 239 tạo thành từ sự bắn phá U-238 bằng các trung hòa tử, phản ứng năng gặp trong các lò phản ứng hạt nhân. * Phần tích hợp môn sinh học : Tác hại lớn nhất từ một vụ nổ hạt nhân là do bụi phóng xạ gây ra. Bụi phóng xạ và các bức xạ từ vụ nổ làm tăng nguy cơ bị ung thư máu, vô sinh và các dị tật bẩm sinh. Sự ảnh hưởng của bụi phóng xạ có thể kéo dài hàng chục năm.
  14. Vụ nổ hạt nhân sẽ làm tăng một lượng lớn các đám mây phóng xạ, chúng sẽ ngăn chặn ánh sáng Mặt trời, làm giảm nhiệt độ bề mặt Trái đất và giảm sự quang hợp cây cối, dẫn đến sự tuyệt chủng nhiều loài động vật. Với sức công phá lên tới 10,4 megaton TNT, vụ thử bom nhiệt hạch đầu tiên do Mỹ tiến hành đã xóa sổ gần như hoàn toàn một đảo san hô tại Thái Bình Dương. * Phần tích hợp môn Ngữ văn: Nói đến mây mưa phóng xạ do vũ khí nguyên tử và tác hại của nó, nhà thơ nổi tiếng quá cố Xuân Diệu đã từng viết bài thơ “Mưa phóng xạ Mỹ” với những câu thơ sau: “ Bà mẹ ở miền Nam Việt Nam Thương con thai nghén giữa hờn căm;
  15. Đợi ngày thấy mặt trên tay bế, Con bỗng trong thai chết giữa mầm!...” Bài thơ lấy cảm hứng từ mẩu tin trên báo chí: "Ngày 25/4/1962, Mỹ lại thử bom hạt nhân trên Thái Bình Dương. Mưa phóng xạ sẽ tràn về phương Nam đến Nam Dương, Ấn Độ, Việt Nam, châu Phi, Nam Mỹ... rồi nó sẽ quay lại các vùng phía Bắc địa cầu. Nhà khoa học Pôlinh nói: ngay sau đợt phóng xạ này, sẽ có 286.000 trẻ con mắc bệnh nguy hiểm và độ ba triệu trẻ con trong thai mẹ và mới đẻ - sẽ chết!”. Ảnh chụp qua vệ tinh ngày 14/3 cho thấy, lò phản ứng số 3 tại nhà máy hạt nhân Fukushima Daiichi đang bốc cháy sau thảm họa động đất và sóng thần hồi cuối tuần trước * Phần tích hợp Môn Giáo dục công dân: Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki- moon nói "Chúng ta không cho phép có bất cứ việc sử dụng vũ khí hạt nhân nào nữa trong tương lai. Những hậu quả về nhân đạo quá lớn. Không có thêm Nagasakis, Hiroshima nào nữa", Buổi lễ tưởng niệm 70 năm Mĩ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasakis
  16. Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cam kết không sở hữu vũ khí hạt nhân. Buổi lễ trọng thể với sự tham dự của đại biểu đến từ 75 nước, trong đó có Đại sứ Mỹ tại Nhật Bản Caroline Kennedy Phát biểu tại buổi lễ, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cam kết Tokyo "vẫn quyết tâm thực hiện các chính sách của mình mà không sử dụng các vũ khí hạt nhân". Những nhân chứng còn sống của vụ ném bom phần lớn đã nhiều tuổi 7. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập - Giáo viên kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua phiếu học tập. - Học sinh tự đánh giá lẫn nhau. - Đánh giá học sinh qua các hoạt động nhóm, trò chơi. Giáo viên giúp học sinh hệ thống lại toàn bộ kiến thức bài học bằng cách đặt ra đặt ra từng câu hỏi và yêu cầu các em trả lời. Nội dung câu hỏi: Chiến tranh thế giới thứ hai đã để lại hậu quả gì cho nhân loại? . 8. Các sản phẩm của học sinh - Kết quả hoạt động nhóm. - Kết quả học tập trong phiếu học tập của học sinh: - Các kết luận rút ra. - Các câu trả lời. Từ bài học này các em sẽ thấy được đâu là những việc làm đúng đắng. Các em sẽ thấy được vận dụng kiến thức liên môn giữa môn : Địa lí, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Ngữ văn, GDCD và ứng dụng công nghệ thông tin giúp cho các hiểu vấn đề một cách tường tận. Từ đó cho thấy, nếu muốn học tốt môn Lịch sử thì không phải chỉ biết học những kiến thức Lịch sử mà phải giỏi tất cả các môn khác để nắm kiến thức được sâu hon, vững chắc hơn.
  17. Tuần: Ngày soạn: Tiết: 31 Ngày dạy: Bài 21 CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI (1939 – 1945) I. MỤC TIÊU BÀI HỌC: 1. Kiến thức: Giúp HS hiểu được: - Nguyên nhân chính dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai. - Diễn biến của chiến tranh. - Trình bày sơ lược về mặt trận ở châu Âu và mặt trận Thái Bình Dương: chiến tranh bùng nổ ở châu Âu, lan nhanh khắp thế giới. - Kết cục và hậu quả của chiến tranh thế giới thứ hai. - Liên Xô tham gia mặt trận chống phát xít, làm cho tính chất chiến tranh thay đổi; những trận chiến lớn, chiến tranh kết thúc. 2. Kĩ năng: - Phân tích, nhận xét một sự kiện lịch sử và tác động của nó đối với thế giới. - Sử dụng bản đồ. - Thu thập thông tin, xử lí thông tin, quan sát bản đồ, tranh ảnh, video - Biết kết nối kiến thức môn địa lí, vật lí, hóa học và sinh học để hiểu được mức độ tàn phá của chiến tranh. 3. Thái độ: - Hậu quả của chiến tranh đối với nhân loại, chống chiến tranh bảo vệ hòa bình. - Chiến đấu kiên cường chống phát xít. - Tích cực, hứng thú và hợp tác trong học tập. II. CHUẨN BỊ * Giáo viên: - Kiến thức liên quan. - Máy tính, máy chiếu: Được sử dụng vào việc hỗ trợ giảng dạy bài học nhằm góp phần giải quyết nhanh, gọn các câu hỏi đặt ra và hỗ trợ hình ảnh, phim tư liệu làm bài giảng sinh động, hấp dẫn với người học. - Lược đồ Chiến tranh thế giới thứ hai: dùng để giúp học sinh xác định được vị trí địa lí các chiến trường trên thế giới. - Ứng dụng công nghệ thông tin để thấy được sức mạnh hủy diệt của bom nguyên tử. * Học sinh: + Chuẩn bị bài, giấy, bút, SGK. + Phiếu bài tập, bảng nhóm + Sưu tầm tranh ảnh, tư liệu về chiến tranh thế giới thứ hai. III. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP 1. Ổn định lớp:(1 phút)
  18. Kiểm tra sĩ số, vệ sinh, phần chuẩn bị của học sinh 2. Kiểm tra bài cũ (4 phút) Trong nhứng năm 1918 – 1939 phong trào độc lập dân tộc của nhân dân các nước Đông Nam Á diễn ra như thế nào? 3. Bài mới: - Giới thiệu bài: Sau chiến tranh thế giới thứ nhất sự phát triển không đều giữa các nước đế quốc đã nảy sinh mâu thuẩn, cuộc khủng hoảng kinh tế (1929-1933) đã làm kinh tế các nước lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Trong khi các nước có thị trường, có thuộc địa tiến hành cải cách kinh tế - xã hội để thoát khỏi khủng hoảng; các nước khác như Đức, Italia, Nhật Bản để thoát khỏi khủng hoảng các nước đã tiến hành phát xít hóa chế độ thống trị và phát động chiến tranh để phân chia lại thế giới. Để hiểu rõ hơn chúng ta cùng tìm hiểu bài học 21: "Chiến tranh thế giới thứ hai (1929-1933)" Hoạt động của thầy và trò Nội dung. * Hoạt động 1: Tìm hiểu nguyên I. Nguyên nhân: nhân (17 phút) - Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc tiếp tục nãy sinh. * Phương pháp: nêu vấn đề, phân -Khủng hoảng kinh tế TG 1929-1933 làm gay gắt tích, đàm thoại gợi mở, thuyết giảng * Hình thức hoạt động: nhóm và cá thêm các mâu thuẫn đó. nhân -Chính sách thù địch chống Liên Xô càng thúc đẩy GV: Nguyên nhân chính dẫn đến các nước đế quốc phát động chiến tranh nhằm xóa chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ bỏ nhà nước XHCN đầu tiên trên TG. chính là để giải quyết những khó khăn mà các nước tư bản đã gặp phải. - Hình thành 2 khối đối địch nhau. - Nguyên nhân dẫn đến chiến - Các nước Anh, Pháp, Mĩ lại thực hiện đường lối tranh thế giới thứ hai? nhân nhượng, thỏa hiệp với các nước phát xít. Để - Mâu thuẫn đó được phản ánh như thế nào trong quan hệ giữa các chúng chĩa mũi nhọn chiến tranh về phía L.Xô. nước đế quốc? => Khối phát xít >< tư bản dân Sau những thôn tính nước Áo (T3/1938), Tiệp Khắc chủ => Liên Xô. (t3/1939) như những khúc dạo đầu. Ngày 01/9/1939, - Chính sách của các khối này như thế nào? phát xít Đức tấn công Ba Lan, dẫn tới bùng nổ cuộc * Tích hợp giáo dục BVMT: mâu CTTG II. thuẫn giữa các nước đế quốc về thị trường và thuộc địa là một nguyên nhân chủ yếu đưa tới Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945) bên cạnh các nguyên nhân khác, chủ yếu là mâu thuẫn giữa các nước tư bản và Liên Xô. II. Những diễn biến chính:
  19. HS đọc tư liệu SGK. 1. Chiến tranh bùng nổ và lan rộng trên toàn Xem hình 75/105, nói lên sức thế giới (01/ 9/ 1939 – đầu năm 1943) mạnh của Hít – le và sự nhượng bộ của các nước châu Âu. THỜI GIAN SỰ KIỆN * Thảo luận nhóm (2 phút) - Vì sao Hít – le lại tấn công các Đức tấn công Ba Lan, chiến tranh thế nước châu Âu trước khi tấn công giới thứ hai bùng nổ Liên Xô? 1-9-1939 - Đại diện nhóm báo cáo, nhóm khác bổ sung - Gv chuẩn xác kiến thức. 22-6-1941 Đức tấn công Liên Xô. => Vì châu Âu đã nhượng bộ và không đủ sức tấn công Liên Xô. Nhật Bản tập kích hạm đội Mĩ ở Trân - Vì sao Đức lại tấn công Ba Lan Châu Cảng, sau đó tấn công chiếm Đông Nam Á và một số đảo ở Thái Bình Tháng 12-1941 Dương. * Hoạt động 2: Tìm hiểu chiến tranh bùng nổ và lan rộng trên toàn thế giới (01/ 9/ 1939 – đầu Quân I-ta-li-a tấn công Ai Cập. năm 1943) (18 phút) Tháng 9-1940 * Phương pháp: đàm thoại, gợi mở, thuyết giảng tích cực. Mặt trận Đồng minh chống phát xít hình thành. * Hình thức hoạt động: cả lớp Tháng 1-1942 - Dựa vào lược đồ hình 76. + Tích hợp Địa lí: Xác định vị trí địa lí các chiến trường và hướng tấn công của phát xít và sự phản công của khối đồng minh - Các em có nhận xét gì về tình hình châu Âu trong những năm 1939 – 1941? => Hầu hết bị phát xít Đức chiếm. - Đức đã có kế hoạch gì sau khi thôn tính châu Âu? => Tấn công Liên Xô.
  20. - Ở khu vực châu Á Thái Bình Dương tình hình chiến sự diễn ra như thế nào? Lược đồ mặt trận Châu Á – Thái Bình Dương 2. Quân đồng minh phản công, chiến tranh kết thúc (từ đầu năm 1943 – 8/ 1945). THỜI GIAN SỰ KIỆN 2-2-1943 Chiến thắng Xtalingrat * GV: nói sâu hơn về trận Trân Quân Anh-Mĩ tấn công quân Đức, Italia ở Châu cảng. 5-1943 Bắc Phi - Ở Bắc Phi chiến sự diễn ra như thế nào? Quân Anh-Mĩ đổ bộ vào miền Bắc nước 6-6-1944 Pháp - 1/1942 tổ chức nào được thành lập? Nhằm mục đích gì? Toàn bộ lãnh thổ Liên Xô được giải Cuối 1944 phóng - Qua các diễn biến trên các em có nhận xét gì về tình hình thế giới? GV chiến sự diễn ra trên khắp các 9-5-1945 Phát xít Đức kí đầu hàng vô điều kiện mặt trận HS xem hình 77, 78, nói lên Mĩ ném bom nguyên tử xuống Hirôsima 6 và 9-8-1945 những tai họa do chiến tranh gây ra và Nagaxaki - Nêu tính chất của cuộc chiến tranh trong giai đoạn này? Phát xít Nhật đầu hàng. Chiến tranh kết 15-8-1945 => Đế quốc, phi nghĩa diễn ra thúc giữa hai tập đoàn quân phiệt. * Hoạt động 3: Tìm hiểu quân đồng minh phản công, chiến tranh kết thúc (từ đầu năm 1943 – 8/ 1945) (20 phút) * Phương pháp: trực quan, đàm thoại, gợi mở, thuyết giảng, phân tích * Hình thức hoạt động: cá nhân - Đầu tháng 2/ 1943 tình hình thế giới có gì thay đổi? Chiến thắng Xtaligrat làm thay đổi cục diện chiến tranh Đọc tư liệu SGK. Nêu nhận xét