SKKN Một số biện pháp chỉ đạo GV nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại trường MN Thới Xuân NH 2022-2023 (Nguyễn Thị Thúy Liễu)

doc 16 trang Đình Bắc 11/08/2025 230
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp chỉ đạo GV nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại trường MN Thới Xuân NH 2022-2023 (Nguyễn Thị Thúy Liễu)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_chi_dao_gv_nang_cao_chat_luong_giao_du.doc

Nội dung text: SKKN Một số biện pháp chỉ đạo GV nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại trường MN Thới Xuân NH 2022-2023 (Nguyễn Thị Thúy Liễu)

  1. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO GIÁO VIÊN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ TẠI TRƯỜNG MẦM NON THỚI XUÂN A.PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. - Cơ sở lý luận. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ kĩ năng sống là một bước đột phá và cũng là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện nay. Các công trình nghiên cứu về giáo dục sớm cho trẻ mầm non trên thế giới đều cho rằng: Một thời thơ ấu an toàn và hạnh phúc không chỉ là quyền của trẻ em, mà nó còn cung cấp các cơ hội cho trẻ để khai mở và phát triển hết các khả năng và tài năng của trẻ khi các em lớn lên. Để có được những kỹ năng xã hội tốt cần trải qua một quá trình rèn luyện lâu dài và những kỹ năng đó phải được bắt đầu từ bậc học mầm non - ở bậc học mà những đứa trẻ được xem như tờ giấy trắng. Là một CBQL bản thân tôi cần hiểu sâu sắc về vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại trường MN Thới Xuân. Có kế hoạch cụ thể bồi dưỡng cho đội ngũ GV nhận thức sâu sắc về việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Mỗi giáo viên cần xác định được vai trò, trách nhiệm của mình trong việc rèn kỹ năng sống cho trẻ. Giáo dục cho trẻ những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằm giúp trẻ có thể vận dụng và chuyển kiến thức, thái độ thành những khả năng thực thụ của bản thân, trẻ có thể xử lý hành vi của mình trong các tình huống gặp phải. Mỗi đứa trẻ là một cá thể riêng biệt, chúng có cách nhìn nhận tiếp thu vấn đề một cách khác nhau. Từ những nét riêng đó nên chúng ta cần quan tâm đến từng cá thể trẻ, tôn trọng trẻ, giúp trẻ chủ động trong cuộc sống, và đặc biệt giúp trẻ bước đi trên chính đôi chân của mình mà không phụ thuộc vào người lớn. - Cơ sở thực tiễn. Có lẽ câu nói: "80% sự thành công trong cuộc sống chính bạn là trang bị cho bản thân mình những kỹ năng sống cần thiết" đã in đậm trong mỗi chúng ta. Cũng chính câu nói đó đã làm tôi nảy sinh ra rất nhiều suy nghĩ, cần phải làm gì để con mình và học sinh của trường mình có thể tự lập khi ra khỏi sự bao bọc của bố mẹ và gia đình. Như chúng ta đã biết, đất nước ta đang trên đà chuyển mình và phát triển mạnh mẽ. Nhà nhà, người người tiếp cận với công nghệ 4.0. Mọi thứ đều được giải quyết trên máy tính và chiếc điện thoại thông minh, không ngoại trừ việc những bậc làm cha, làm mẹ trong thời đại hiện nay cho con cái tiếp cận với máy tính và điện thoại quá sớm chỉ với mục đích dỗ dành con khi con khóc, cho con ăn hay để có thời gian làm các việc khác. Những thói quen đó dường như đã làm cho CMTE quên đi việc chơi với các con và cung cấp cho các con những kỹ năng cần thiết nhất.
  2. 2 Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non là phương pháp giáo dục tích cực trong xã hội hiện đại. Trong trường mầm non hiện nay giáo viên đã quan tâm và chú trọng đến việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ song việc giáo dục đó lại chưa mang lại kết quả cao trên từng trẻ. Nhiều giáo viên chưa nắm rõ những kỹ năng cần thiết để cung cấp cho trẻ, dạy trẻ nhưng chưa thực sự là tấm gương để trẻ học tập, chưa thể hiện rõ trách nhiệm trong việc cung cấp và giáo dục kỹ năng sống cho trẻ và cũng chưa xây dựng kế hoạch cụ thể để dạy trẻ. Một số CMTE còn quá nuông chiều con, luôn sẵn tâm lý bao bọc, bù đắp nên chưa quan tâm tới việc phối kết hợp giáo viên giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Chính vì sự buông lỏng trong việc giáo dục kỹ năng cho trẻ mà trong xã hội hiện nay chúng ta luôn gặp những tình trạng những đứa trẻ ra ngoài không xử lý được những tình huống khi gặp phải như: đi theo người lạ, không biết xử lý khi lạc đường, không có kỹ năng xử lý tình huống khi bị bắt cóc, bị xâm hại tình dục, thiếu tự tin khi giao tiếp, luôn thu mình trước đám đông, không biết tuân thủ theo những quy tắc nơi công cộng... Đó là điều đáng lo ngại khi chúng ta thả con ra khỏi vòng tay bao bọc của gia đình. Vậy trách nhiệm của gia đình và nhà trường và xã hội cần phải làm gì? Làm như thế nào để trẻ có sức đề kháng trong mọi hoàn cảnh? Là một CBQL, tôi luôn quan tâm đến lĩnh vực giáo dục kỹ năng sống cho trẻ trong trường MN thới Xuân. Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp chỉ đạo GV nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại trường MN Thới xuân”. 2. Giới hạn đề tài: Sáng kiến đã được áp dụng trong trường Mầm mon Thới Xuân. Căn cứ vào thực trạng chất lượng và các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ của nhà trường, về một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại trường mầm non Thới xuân”. cho đội ngũ CB-GV-NV được nhân rộng trong đơn vị và ngoài huyện. B- PHẦN NỘI DUNG. 1.Thực trạng vấn đề. Thực tế cho thấy những bậc làm cha, làm mẹ luôn quan tâm đến việc làm sao để con mình thông minh, học giỏi và cố gắng tạo điều kiện tốt nhất để con phát triển. Nhưng vấn đề làm thế nào để con có những kỹ năng sống tốt thì bố mẹ dường như chưa quan tâm nhiều. Đối với giáo viên MN thường lo lắng rèn cho trẻ làm thế nào để tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất, đặc biệt là những trẻ hiếu động, khả năng tập chung kém. GV chưa hiểu được nguyên nhân mà khiến trẻ tập chung kém chính là do trẻ không biết chú ý lắng nghe, không có khả năng chờ đến lượt. Điều này khiến cho trẻ không thể tập chung lĩnh hội những kiến thức cô giáo truyền đạt. Chính vì vậy mà đối với nhóm trẻ, những trẻ 3 tuổi mới đến trường MN vào đầu năm học, giáo viên rất vất vả trong việc giúp trẻ hòa nhập với môi trường mầm non.
  3. 3 1.1.Thuận lợi. - Trường luôn nhận được sự quan tâm sâu sát của Sở GD&ĐT thành phố Cần Thơ, UBND huyện Cờ Đỏ, Phòng GD&ĐT huyện Cờ Đỏ, đã hỗ trợ kinh phí đầu tư sữa chữa CSVC. Sự quan tâm giúp đỡ của Đảng ủy, UBND xã Thới Xuân. Ban đại diện CMTE luôn quan tâm phối hợp tốt với nhà trường trong việc vận động học sinh ra lớp nhất trẻ 5 tuổi và hoàn thành công tác kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận lại trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 1. - Ban giám hiệu luôn có kế hoạch bồi dưỡng giáo viên cũng như đưa ra các phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ ngày càng đạt kết quả cao, Bên cạnh đó nhà trường rất chú trọng đầu tư CSVC, mua sắm trang thiết bị các đồ dùng đồ chơi cho trẻ. - Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên từng bước nâng cao về năng lực, trình độ đào tạo, đội ngũ giáo viên trẻ nhiệt tình trong công tác, yêu nghề mến trẻ, trình độ vượt chuẩn chuyên môn của giáo viên từng bước được hoàn thiện, tích cực tham gia các hoạt động, luôn luôn sáng tạo trong các lĩnh vực. - Có sự phối hợp tốt giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Đây là một lợi thế tạo điều kiện thuận lợi trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ và công tác bảo vệ môi trường sáng, xanh - sạch - đẹp và an toàn tại đơn vị. 1.2. Khó khăn. - Về phía Cha mẹ trẻ em: Vì quá quan tâm tới con nên các bậc làm cha làm mẹ luôn làm hết mọi việc cho con, không để con mình tự lập, chưa ý thức được rằng cần phải dạy con những kỹ năng sống đầu đời như: biết tự phục vụ bản thân. Trời nóng thì biết cởi áo, lạnh biết lấy áo mặc. Trẻ đến lớp đã mạnh dạn giao tiếp cùng cô và các bạn chưa. Khi gặp nguy hiểm thì làm gì...Điều đặc biệt phụ huynh quan tâm là con mình đã biết đọc, biết viết chưa? - Đối với giáo viên mầm non: Giáo viên đã quan tâm tới việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ song thiếu chiều sâu, mới dừng ở dạy lý thuyết, chưa chú ý tới rèn từng cá nhân hay nhóm nhỏ. Trẻ chưa được trải nghiệm nhiều dẫn đến kết quả đạt trên trẻ chưa cao. Đặc biệt là chưa đánh giá được những kỹ năng dạy trẻ đạt hiệu quả đến đâu, những trẻ nào đạt và những trẻ nào chưa đạt. - Về phía trẻ: Mọi kỹ năng cơ bản ở trường mầm non của trẻ còn rất hạn chế: Trẻ chưa mạnh dạn tự tin khi giao tiếp xung quanh; chưa có kỹ năng hợp tác, chia sẻ với các bạn trong nhóm chơi; trẻ còn e dè, chưa mạnh dạn bày tỏ ý kiến của mình; Khi đến lớp chưa biết tự cất đồ dùng cá nhân đúng nơi quy định, khi cởi quần áo vẫn cần sự hỗ trợ của người lớn... -Từ những khó khăn trên mặc dù đã hoàn thành công tác kiểm định chất lượng và tái công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 song cho đến nay đội ngủ CB-GV-NV Trường MN Thới Xuân hiện nay còn nhiều vấn đề cần khắc phục như hai điểm trường cách quá xa điểm trung tâm, môi trường bên ngoài thiếu sự quan tâm của một số giáo viên, chưa nhiệt tình trong thực hiện
  4. 4 nhiệm vụ, chưa kiên trì trong chăm sóc giáo dục trẻ nhất là rèn kỹ năng sống cho trẻ. Vì vậy cần có: “Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại trường mầm non Thới xuân”. 2. Những biện pháp thực hiện 2.1. Biện pháp giúp giáo viên hiểu rõ và xác định những kỹ năng cần thiết để dạy trẻ. Để có được kết quả tốt trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thì việc trang bị kiến thức về kỹ năng sống cho GV là hết sức cần thiết, bởi giáo viên là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng giáo dục của trẻ. Giáo viên phải hiểu được giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là trang bị cho trẻ năng lực cá nhân, giúp trẻ vận dụng được trong các tình huống hàng ngày để tương tác có hiệu quả với người khác và giải quyết tốt các tình huống trong cuộc sống hàng ngày. Giáo dục kỹ năng sống thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội, hạn chế được các vấn đề tiêu cực nảy sinh trong xã hội. Với những cá nhân thiếu kỹ năng sống sẽ nhìn nhận vấn đề một cách lệch chuẩn. Người có kỹ năng sống tốt họ biết bảo vệ bản thân trước những yếu tố bất lợi của cuộc sống, họ biết tạo nên những mối quan hệ tốt đẹp mang tính nhân văn, điều đó sẽ làm giảm đi các tệ nạn xã hội. Chính vì vậy, ngay từ những năm đầu đời đứa trẻ cần phải được hình thành và phát triển những kỹ năng cần thiết. Những kỹ năng đó được hình thành từ môi trường GD. Ở đây trẻ được học, được chơi và được trải nghiệm. Giáo viên MN là người đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển kỹ năng sống cho trẻ. Hiểu được điều đó, ngay từ đầu năm học tôi đã giúp GV của tôi xác định được những kỹ năng cần thiết để dạy trẻ cụ thể như sau: Tổ chức mở chuyên đề cho giáo viên về nội dung dạy các kỹ năng cho trẻ mầm non: Giáo viên tự do trao đổi, thảo luận đưa ra các ý kiến bản thân về các nội dung giáo dục... cuối cùng các nội dung rèn kỹ năng cho trẻ được thống nhất khi dạy trẻ ở trường mầm non Thới Xuân đó là: - Kỹ năng tự phục vụ bản thân: Trẻ tự dùng thìa xúc ăn, tự lấy và cất ghế ngồi, gối ngủ của mình. Trẻ tự giác ăn, ăn hết suất, tự lau bàn ăn, sắp xếp bàn ghế gọn gàng.Trẻ tự mặc, cởi quần áo, đi giày dép. Trẻ tự gấp quần áo gọn gàng. Trẻ tự đánh răng, rửa mặt, rửa tay, chải đầu, buộc tóc Trẻ tự sắp xếp đồ vào ba lô đi học, tự cất ba lô, giày dép của mình.Trẻ tự thu dọn đồ chơi, sắp xếp đồ chơi gọn gàng, vệ sinh đồ chơi sạch sẽ - Kỹ năng tự tin trong giao tiếp: Trẻ giao tiếp lễ phép, sử dụng từ “ạ”, “vâng”, biết thưa gửi khi giao tiếp với người lớn. Biết chào hỏi khi gặp người lớn, khi có khách vào nhà hay đến lớp. Dạy trẻ biết mỉm cười và biết nói cảm ơn khi được nhận quà hay khi nhận được sự giúp đỡ từ người khác. Biết nói lời xin lỗi khi mắc lỗi. - Kỹ năng phối hợp làm việc theo nhóm: Dạy trẻ biết phối hợp làm việc theo nhóm. như: Cùng nhau tô màu một bức tranh to hay phối hợp cùng nhau
  5. 5 chơi trò chơi “Đội nào nhanh trí”. Ngoài sự phối hợp để chơi các trò chơi, giải quyết một vấn đề, giáo viên cần dạy trẻ phải đoàn kết giúp đỡ nhau trong khi làm việc. Khi tham gia chơi ở góc xây dựng, cùng nhau xây dựng một công trình, trẻ phải chơi đoàn kết, không tranh giành đồ chơi của nhau, cùng nhau hợp tác để có được công trình đẹp. - Kỹ năng bảo vệ bản thân: Kết hợp với gia đình dạy trẻ học thuộc số điện thoại của bố hoặc của mẹ, địa chỉ gia đình; Khi bị lạc đường nên nhờ sự giúp đỡ của ai?; không nhận quà, không gần gũi và đi theo người lạ; không cho người khác chạm vào vùng đồ bơi,... - Kỹ năng tuân thủ các quy tắc xã hội: Trẻ tự đi vệ sinh đúng nơi quy định, xả nước sau khi đi vệ sinh. Biết vệ tự vệ sinh sạch sẽ sau khi đi vệ sinh. Bỏ rác đúng nơi quy định. Giữ gìn vệ sinh nơi công cộng. Biết xếp hàng chờ đến lượt, không chen lấn, xô đẩy. - Kỹ năng giải quyết vấn đề: Đây là một kỹ năng tương đối khó đối với trẻ mầm non song cần phải hình thành cho trẻ ngay từ nhỏ để tránh tình trạng trẻ lớn lên sống phụ thuộc vào người khác. Giáo vên cần dạy trẻ tự tìm cách giải quyết vấn đề. Như trẻ muốn cất cập lên tủ mà tủ lại cao so với trẻ, cô để hộ trẻ mà hướng cho trẻ có thể lấy ghế trèo lên ghế để cất cập. Hay trẻ khi đi chơi bị lạc bố mẹ, trẻ biết nhờ người lớn gọi điện cho bố mẹ,... - Kỹ năng giúp đỡ người khác: Giáo viên cần dạy trẻ biết giúp đỡ ông bà, bố mẹ, cô giáo những công việc vừa sức, xa hơn nữa là biết giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn, biết chia sẻ tình cảm của mình với người khác như giúp cô kê bàn ghế, giặt khăn, phơi khăn...; giúp ông bà bố mẹ những việc: gập quần áo, nhặt rau, lau bàn ghế,... - Bảo vệ môi trường và chăm sóc động vật: Giáo viên dạy cho trẻ biết con người có một hành tinh để sống. Nhiệm vụ của chúng ta là bảo vệ và chăm sóc nó. Dạy trẻ biết chăm sóc cây, lau lá cây, nhổ cỏ, tưới cây; không bẻ cành, ngắt lá. Dạy trẻ biết cùng cô gieo hạt, trồng cây; biết yêu quý động vật và môi trường tự nhiên xung quanh chúng ta. - Tính kiên trì và nhẫn nại: Một trong những yếu tố quan trọng làm lên thành công trong cuộc sống của con người là có tính kiên trì và nhẫn nại. Giáo viên dạy trẻ hiểu được trong cuộc sống sẽ gặp rất nhiều khó khăn mà chúng ta cần phải vượt qua. như dạy trẻ 3 tuổi tự mang cặp da của mình tới lớp, phải tự đi bộ lên cầu thang và trên vai là một chiếc cặp bên trong có đồ dùng cá nhân. Có thể một vài buổi đầu trẻ sẽ thấy khó khăn song trẻ sẽ cảm thấy dễ dàng hơn khi ngày nào cũng thực hiện công việc đó. Hay dạy trẻ tô màu những họa tiết rất nhỏ khiến trẻ nhanh chán. Bằng nhiều cách khác nhau mà giáo viên có thể tạo ra những tình huống rèn sự kiên trì, nhẫn nại cho trẻ mà không bỏ dở công việc, luôn hoàn thành công việc tới cùng.
  6. 6 Khi hiểu và nắm được các kỹ năng dạy trẻ giáo viên sẽ có những biện pháp cụ thể để dạy cho trẻ của mình. Thêm vào đó, giáo viên cũng cần nắm bắt tâm lý của từng trẻ để có phương pháp giáo dục phù hợp cho từng cá nhân và nhóm trẻ. 2.2. Biện pháp chỉ đạo GV xây dựng kế hoạch rèn kĩ năng sống cho trẻ. Xây dựng kế hoạch là một công việc hết sức quan trọng đối với mỗi GV. Căn cứ vào tình hình thực tế của nhóm lớp, mỗi GV có những kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cụ thể cho lớp mình. Tôi họp ban lãnh đạo nhà trường để định hướng cho GV xây dựng kế hoạch theo hình tháp đứng, nghĩa là xây dựng những kỹ năng dễ trước, những kỹ năng tự phục vụ bản thân sẽ dạy trẻ trước. Khi trẻ có những kỹ năng tốt phục vụ bản thân thì các kỹ năng sau trẻ thực hiện sẽ dễ dàng hơn. Để việc xây dựng kế hoạch có tính đồng bộ và mang tính kế thừa tại đơn vị, sau khi GV xây dựng kế hoạch của lớp xong tôi sắp xếp một buổi họp HĐSP, họp chuyên môn để tổng hợp các kế hoạch theo từng độ tuổi. Ở cùng một kỹ năng nhưng ở 3 độ tuổi sẽ đưa ra 3 mức độ dạy khác nhau: * Kỹ năng tự phục vụ bản thân: - Trẻ 3 tuổi: Dạy trẻ tự dùng thìa xúc ăn, tự lấy và cất ghế ngồi, gối ngủ của mình. Trẻ mặc, cởi quần áo, đi giày dép, đánh răng, rửa mặt, chải đầu, rửa tay có sự hỗ trợ của người lớn. Tự sắp xếp đồ vào cặp đi học. Cất cặp, giày dép của mình. Trẻ thu dọn đồ chơi, sắp xếp đồ chơi gọn gàng theo sự hướng dẫn của người lớn. - Trẻ 4 tuổi: Trẻ lấy và cất ghế ngồi, gối ngủ của mình.Trẻ tự giác ăn, ăn hết suất, sắp xếp bàn ghế gọn gàng. Trẻ tự mặc, cởi quần áo, đi giày dép. Trẻ tự đánh răng, rửa mặt, rửa tay, chải đầu, buộc tóc Trẻ tự sắp xếp đồ vào ba lô đi học, tự cất ba lô, giày dép vào tủ đồ cá nhân của mình. Trẻ tự thu dọn đồ chơi, sắp xếp đồ chơi gọn gàng. - Trẻ 5 tuổi: Ngoài những kỹ năng dạy ở 3, 4 tuổi, giáo viên còn dạy trẻ biết vệ sinh đồ dùng đồ chơi sạch sẽ. Tự vệ sinh sạch sẽ sau khi đi vệ sinh. * Kỹ năng tự tin trong giao tiếp: -Trẻ 3 tuổi: Dạy trẻ giới thiệu được tên, tuổi, giới tính của bản thân khi được hỏi. Trẻ mạnh dạn khi giao tiếp với bạn bè và cô giáo. -Trẻ 4 tuổi: Dạy trẻ giới thiệu được họ tên đầy đủ, tuổi, giới tính, nói được sở thích, ước mơ của bản thân.Tự tin khi giao tiếp trước đám đông, nói đủ câu,... -Trẻ 5 tuổi: Dạy trẻ tự tin giao tiếp trước nơi đông người. Biết thể hiện các trạng thái, cảm xúc phù hợp với hoàn cảnh. * Kỹ năng phối hợp làm việc theo nhóm: - Trẻ 3 tuổi: GV dạy trẻ biết phối hợp với các bạn trong nhóm nhỏ (3 - 4 bạn) để hoàn thành công việc được giao hay cùng tham gia một trò chơi.
  7. 7 - Trẻ 4 tuổi: GV dạy trẻ biết phối hợp với các bạn trong nhóm nhỏ (4 -7 bạn) để hoàn thành công việc được giao hay cùng tham gia một trò chơi. - Trẻ 5 tuổi: Dạy trẻ kỹ năng biết phối hợp với các bạn trong nhóm lớn (5 - 10 bạn), cùng đưa ra các ý tưởng để hoàn thành công việc được giao hay cùng tham gia một trò chơi. Tương tự với các kỹ năng khác tôi hướng dẫn giáo viên tập hợp như vậy. Nhìn vào bảng tổng hợp chúng ta sẽ dễ nhận thấy các kỹ năng được xây dựng đồng bộ và có tính kế thừa. Trước khi chỉ đạo xây dựng KH, tôi đã lưu ý tới GV những vấn đề sau: + Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của từng cá nhân trẻ để có cơ sở lựa chọn các nội dung giáo dục kỹ năng sống phù hợp. + Thông qua các hoạt động hàng ngày, giáo viên phải quan sát, theo dõi, đánh giá sự phát triển và những hạn chế các kỹ năng của từng trẻ. + Những trẻ hạn chế về kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự phục vụ bản thân còn kém, trẻ chưa có kỹ năng phối hợp trong hoạt động nhóm, trẻ chưa kiên trì tham gia các hoạt động tới cùng Căn cứ vào kết quả đánh giá sẽ áp dụng phương pháp phân loại, chia trẻ thành từng nhóm.Từ đó xác định nội dung giáo dục kỹ năng sống cho từng nhóm vào những hoạt động cụ thể. Nhóm trẻ hạn chế về kỹ năng giao tiếp. Giáo viên có kế hoạch rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ thông qua hoạt động ở góc phân vai. Giáo viên định hướng cho nhóm trẻ này chơi luân phiên trong góc phân vai để các bạn có kỹ năng giao tiếp tốt hỗ trợ những trẻ chưa tốt. Tùy thuộc vào tình hình thực tế để giáo viên có kế hoạch cụ thể và đưa ra những phương pháp giáo dục kỹ năng sống phù với trẻ lớp mình. 2.3. Biện pháp chỉ đạo giáo viên hình thành kỹ năng cho trẻ qua hoạt động học: Hoạt động học là hoạt động mà GV cung cấp kiến thức cho trẻ bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau nhằm giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách linh hoạt và nhẹ nhàng, không gò bó, không áp đặt. Thông qua hoạt động học, trẻ có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm với nhau khi tham hoạt động theo nhóm. Mặt khác, trẻ cũng có cơ hội để thể hiện khả năng của mình trước bạn bè và cô giáo. Hoạt động khám phá xã hội “Bé tự giới thiệu về mình”. Giáo viên yêu cầu cá nhân trẻ lên giới thiệu về bản thân (tên, tuổi, giới tính, sở thích, ước mơ tương lai,...). Ở hoạt động này, giáo viên rèn cho trẻ kỹ năng tự tin trong giao tiếp, khả năng thuyết trình trước tập thể. Hoạt động thể dục, giáo viên chức tổ cho trẻ “Bật liên tục vào vòng”. Trong suốt quá trình hoạt động của tiết học, giáo viên rèn tính kỷ luật: Trẻ phải chờ đến lượt, không chen lấn, xô đẩy, không được chốn tránh. Cô rèn tình kiên
  8. 8 trì, nhẫn nại như: chờ đến lượt hoặc khi trẻ thực hiện được bài tập thì cần phải tập tập đi, tập lại nhiều lần. Ngoài ra giáo viên còn rèn cho trẻ biết động viên các bạn khi bạn chưa thực hiện được bài tập. Ở hoạt động học, giáo viên còn rèn cho trẻ kĩ năng giúp đỡ người khác và kĩ năng tự phục vụ trong việc học tập. Khi tham gia hoạt động học trẻ tự lấy đồ dùng cho mình và khi học xong tự thu gom đồ dùng, dụng cụ cất gọn gàng đúng nơi quy định. Với trẻ 4, 5 tuổi trẻ có thể giúp cô kê bàn, chuẩn bị đồ dùng học, trẻ tự lấy đồ dùng cho mình và cho bạn như đất nặn, bút màu, giấy màu; giúp cô chuẩn bị đồ dùng học toán, chữ cái Ở mỗi các hoạt động khác nhau, giáo viên sẽ đưa ra các hình thức lồng ghép, tích hợp kỹ năng sống phù hợp và hiệu quả. Để kiểm soát, nắm bắt việc giáo viên lồng ghép tích hợp giáo dục kỹ năng sống trong các hoạt động học như thế nào, tôi thường xuyên kiểm tra, thăm lớp, dự giờ với mục đích góp ý kiến để giáo viên thực hiện một cách đồng bộ và đạt kết quả tốt. Kết quả được đánh giá qua việc quan sát trên trẻ: Khi người lớn vào lớp trẻ biết chào hỏi lễ phép; biết lấy đồ chơi và cất đồ chơi đúng nơi quy định; biết nói cảm ơn khi nhận được sự giúp đỡ từ người khác; giúp đỡ cô giáo kê bàn ghế ăn, học bài, kê nệm ngủ, phơi khăn, chia thìa, chia cơm cho các bạn, chơi cùng bạn đoàn kết. 2.4. Chỉ đạo giáo viên dạy kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động chiều. Hoạt động chiều là hoạt động mà GV có thể ôn lại kiến thức cũ hoặc cung cấp kiến thức mới cho trẻ. Nếu như ở các hoạt động khác tôi chỉ đạo GV lồng ghép các kỹ năng để dạy trẻ thì ở hoạt động chiều tôi chỉ đạo GV xây dựng các tiết học “Dạy kỹ năng sống cho trẻ”, xây dựng những hoạt động cụ thể để tạo nhiều cơ hội cho trẻ được tham gia, được thực hành một cách hiệu quả nhất. Như Kỹ năng giao tiếp, GV xây dựng hoạt động “ Dạy trẻ chào hỏi lễ phép với người lớn” - Yêu cầu của hoạt động: + Đối với trẻ 3, 4 tuổi: Trẻ biết chào hỏi lễ phép ông, bà, bố, mẹ khi đi học về, chào cô khi đến lớp, chào các bạn khi ra về. + Đối với trẻ 5 tuổi: Biết chào hỏi lễ phép khi ở nhà, ở trường, biết nói lời cảm ơn, xin lỗi.. - Tiến hành hoạt động: GV cho trẻ quan sát các tình huống giao tiếp “Bé lễ phép khi ở nhà”, “Bé lễ phép khi ở trường” của 2 bạn nhỏ A, B. Sau khi quan sát xong cô cho trẻ nhận xét bạn nào có cách chào hỏi đúng. Con sẽ học tập bạn nào? Giáo viên tạo tình huống để trẻ thực hành kỹ năng chào hỏi lễ phép. (Tùy theo độ tuổi để giáo viên đưa ra các tình huống với mức độ khác nhau). Kỹ năng bảo vệ bản thân: * Đề tài “Những đồ dùng có thể gây nguy hiểm”. - Yêu cầu của hoạt động: + Trẻ 3 tuổi: Trẻ nhận biết được một số đồ dùng có thể gây nguy hiểm. Biết cách phòng tránh. Biết sử dụng đúng cách những đồ dùng có thể gây nguy hiểm (Kéo, bút chì)
  9. 9 + Trẻ 4 tuổi: Trẻ nhận biết được một số đồ dùng có thể gây nguy hiểm. Biết cách phòng tránh. Biết sử dụng đúng cách những đồ dùng có thể gây nguy hiểm (Kéo; bút chì; tắt, bật quạt, điện, tivi) + Trẻ 5 tuổi: Trẻ nhận biết được một số đồ dùng có thể gây nguy hiểm. Biết cách phòng tránh. Biết sử dụng đúng cách những đồ dùng có thể gây nguy hiểm (Kéo; bút chì; tắt, bật quạt, điện, tivi; cắm ổ điện đúng cách và an toàn). Nhận biết được hành vi đúng sai. - Tiến hành: + Trẻ 3 tuổi: Giáo viên tạo tình huống tặng cho mỗi trẻ 1 món quà trong đó có kéo và bút chì. Cô hỏi trẻ kéo và bút chì dùng để làm gì? Sử dụng trong trường hợp nào? Sử dụng như thế nào? Không nên sử dụng kéo, bút làm những việc gì? (cắt tóc mình và cắt tóc bạn, dùng bút đùa chọc vào mặt bạn). Dạy trẻ cách sử dụng bút và kéo đúng cách. Cô mở rộng các tình huống có thể gây nguy hiểm cho trẻ mà trẻ cần tránh như: không nghịch phích nước nóng, bàn là nóng, bếp ga,...) + Trẻ 4 tuổi: Cho trẻ xem các hình ảnh “Bé dùng kéo cắt tóc bạn”, “Dùng bút đùa nghịch với bạn”, “Bé nghịch ổ điện”. Cô hỏi trẻ: Các bạn sử dụng đồ dùng như vậy đã đúng chưa? Con dùng những đồ dùng đó như thế nào? Cho trẻ đưa ra cách sử dụng kéo và bút đúng cách. Cô hướng dẫn trẻ cách tắt, bật quat, tivi... Đưa ra các tình huống gây nguy hiểm mà trẻ cần tránh: Không gần chỗ có lửa, không tự ý dùng dao khi không có người lớn hướng dẫn, không nghịch ổ điện,... + Trẻ 5 tuổi: Giáo viên có thể tổ chức dưới hình thức trò chơi “ Hành động đúng, sai”. Cô đưa ra các tình huống đúng, sai về những đồ có thể gây nguy hiểm để trẻ phân biệt. Hướng dẫn và cho trẻ thực hành bật điện đúng cách, cắm ổ điện an toàn, dùng dao đúng cách... Tùy theo từng độ tuổi giáo viên sẽ lựa chọn các nội dung rèn kĩ năng cho phù hợp với khả năng, nhận thức của trẻ. Khi rèn kĩ năng tự lập cho trẻ giáo viên cần kiên trì, cố gắng tập luyện cho trẻ nhiều lần để giúp trẻ hình thành và phát triển tốt các kĩ năng. 2.5. biện pháp tích hợp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mọi lúc mọi nơi. Đặc điểm của trẻ mầm non là nhanh nhớ nhưng cũng nhanh quên, chính vì vậy mà giáo viên cần giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thường xuyên, liên tục, dạy trẻ ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi thời điểm, để hình thành và phát triển được tốt các kỹ năng cho trẻ. * Giờ đón và trả trẻ: Giáo viên rèn cho trẻ các kĩ năng tự phục vụ bản thân: Trẻ tự sắp xếp đồ vào cặp đi học, tự cất cặp, giày dép của mình. Hướng dẫn và cho trẻ tự cất mũ, khẩu trang gọn gàng vào cặp và để vào ngăn tủ có kí hiệu của mình, tự tháo giày, dép và để vào nơi quy định. Trẻ tự chào ông bà, bố mẹ và chào cô giáo vào lớp. Tự lấy và cất đồ chơi ở giờ chơi tự chọn.Trước khi ra về cho trẻ kiểm tra lại đồ của mình.
  10. 10 * Hoạt động ngoài trời: Giáo viên đã chú ý rèn cho trẻ kĩ năng giữ gìn vệ sinh chung, ý thức bảo vệ, giữ gìn môi trường luôn sạch đẹp. Khi thấy rác biết tự nhặt rác bỏ vào nơi quy định, không vứt rác bừa bãi...Giáo viên khuyến khích trẻ tích cực tham gia các hoạt động như chăm sóc cây, con vật, quét dọn, nhặt lá cây rụng, vệ sinh sân trường * Hoạt động góc: Là hoạt động mà trẻ được phát huy hết khả năng tự lập của mình nên tôi đã trực tiếp trao đổi và góp ý với đồng nghiệp của mình qua các buổi thăm lớp, dự giờ. Với hoạt động này giáo viên phải khuyến khích, động viên trẻ tự lựa chọn vai chơi, góc chơi, tự lấy đồ dùng và sử dụng đồ dùng, đồ chơi phù hợp với vai chơi và trò chơi của mình. Trẻ tự giao tiếp, giao lưu với bạn bè, được thể hiện vai chơi, được bắt chước những công việc của người lớn, tự mình tạo ra các sản phẩm theo ý thích được quan tâm , giúp đỡ bạn bè, chơi cùng bạn, đoàn kết với bạn. Trong khi trẻ chơi giáo viên tuyệt đối không can thiệp sâu, hay áp đặt vào quá trình chơi của trẻ. Giáo viên tạo tình huống để trẻ tự giải quyết vấn đề, trẻ tự chơi, tự khám phá, tự tìm hiểu và giáo viên chỉ giúp đỡ trẻ khi thật cần thiết. * Hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân: Đây là hoạt động nhằm hình thành cho trẻ về nề nếp, ý thức tự phục vụ bản thân. GV cho trẻ tự làm, tự trải nghiệm công việc. Giờ ăn trẻ tự dùng thìa xúc ăn, tự giác ăn hết suất, khi trẻ ăn xong tự để bát vào nơi quy định, biết tự cất ghế ngồi, đặc biệt mỗi cá nhân trẻ sau khi ăn xong biết tự lau miệng, xúc miệng, uống nước và lau sạch sẽ chỗ của mình ngồi. Ngoài việc rèn kĩ năng tự phục vụ bản thân trẻ, GV còn chú ý rèn cho trẻ kĩ năng giúp đỡ người khác. Trước giờ ăn GV hướng dẫn trẻ giúp cô kê bàn ghế, chuẩn bị khăn ăn, khăn lau miệng, cho trẻ chia bát, chia thìa cho các bạn. Giờ ngủ cho trẻ 4-5 tuổi giúp cô trải niệm, trải chiếu ngủ, tự lấy và cất gối đúng nơi quy định. Giúp cô gấp chăn, cất chiếu, niệm sau khi ngủ dậy. Ngoài ra, giáo viên còn dạy trẻ đi vệ sinh đúng nơi quy định, đây là nội dung mà mỗi giáo viên cần rèn trẻ ngay từ khi còn rất nhỏ, hình thành cho trẻ thói quen đi vệ sinh đúng nơi, đúng chỗ. Rèn trẻ biết tự xả nước sau khi đi vệ sinh và vệ sinh sạch sẽ bản thân như: kĩ năng rửa tay trước và sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn; hay kĩ năng đánh răng, rửa mặt, chải đầu, buộc tóc gọn gàng... 2.6. Biện pháp dạy trẻ kỹ năng sống qua các hoạt động trải nghiệm. Hoạt động trải nghiệm là cách kết nối kiến thức, kỹ năng với thực tiễn cuộc sống phong phú, sinh động mà trẻ em đã và sẽ trải qua trong cuộc sống. Hoạt động trải nghiệm không chỉ giúp hình thành kiến thức mới mà quan trong hơn tạo cho trẻ niềm tin say mê tìm hiểu, kích thích trẻ khám phá và biết cách lĩnh hội dụng như một phương pháp giáo dục theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm. Khi trẻ tham gia các hoạt động trải nghiệm trẻ phải sử dụng tổng hợp các giác quan để có thể tăng khả năng lưu trữ những điều tiếp cận được lâu hơn. Trẻ được trải qua quá trình khám phá kiến thức và tìm giải pháp, từ đó giúp trẻ phát triển năng lực cá nhân, tăng cường sự tự tin. Qua các hoạt động trải nghiệm, trẻ có thể học được các kỹ
  11. 11 năng sống bằng việc lặp đi lặp lại các hành vi qua bài tập tình huống, từ đó tăng cường khả năng ứng dụng các kỹ năng đó vào thực tế hàng ngày của trẻ. Giáo viên tổ chức cho trẻ thăm quan vườn rau của trường. Trong quá trình đi đến vườn rau, cô giáo dục trẻ phải thực hiện những quy định khi đi bộ trên đường. Đến thăm vườn rau, cô có thể cung cấp cho trẻ cách trồng rau, cách chăm sóc, bảo vệ. (Tùy theo độ tuổi và nhận thức của trẻ để giáo viên cung cấp các kiến thức và kỹ năng cho trẻ). Cho trẻ tham gia vào các buổi lao động, thực hành gieo hạt, trồng rau, tưới cây, lau lá cây, khám phá sự nẩy mầm và phát triển của cây con. Khi tổ chức hoạt động trải nghiệm cho trẻ, giáo viên cần phải chú ý đến các yếu tố: Môi trường cho trẻ hoạt động phải an toàn cả về thể chất và tinh thần. Môi trường hoạt động phong phú, đa dạng, phù hợp với các mục đích, mục tiêu của hoạt động trải nghiệm bởi môi trường chính là cuộc sống của trẻ. Hình ảnh trẻ chăm sóc cây và lau lá cây Thông qua hoạt động trải nghiệm giúp trẻ năng động, sáng tạo, tạo được niềm vui và hứng thú cho trẻ trong quá trình học tập. Qua đó trẻ còn được cung cấp kiến thức, kỹ năng từ đó hình thành những năng lực, phẩm chất và kinh nghiệm. 2.7. Biện pháp chỉ đạo GV phối kết hợp với CMTE rèn kĩ năng sống cho trẻ. Giáo viên chính là cầu nối giữa gia đình và nhà trường để cùng phối kết hợp cách chăm sóc, giáo dục trẻ. Chính vì vậy tôi đã chỉ đạo giáo viên, khi họp CMTE đầu năm, phải đưa nội dung giáo dục và nội dung rèn kỹ năng sống cho
  12. 12 trẻ để thống nhất với CMTE cách dạy trẻ tự lập, cũng trong buổi họp này giáo viên phải nêu rõ được tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng sống cho trẻ, CMTE phải hiểu rõ được trẻ có tính tự lập sẽ giúp trẻ bảo vệ được bản thân cũng như trẻ sẽ độc lập cuộc sống sau này mà không phụ thuộc vào người khác. Việc trao đổi với CMTE hàng ngày cũng rất cần thiết, thiết thực đến từng nội dung để rèn trẻ. Biện pháp này tôi phải thường xuyên nhắc nhở các bạn đồng nghiệp trò chuyện, trao đổi với CMTE qua giờ đón, trả trẻ giúp cho CMTE biết cần rèn cho trẻ những kỹ năng gì? Mỗi trẻ là một cá thể khác biệt nên sự khác biệt về nhận thức cũng như kỹ năng khác nhau, buộc giáo viên phải trao đổi trực tiếp với từng CMTR để CMTE đó phối hợp với cô giáo để rèn trẻ mới đem lại hiệu quả. Với những CMTE chưa thực sự vào cuộc cùng cô giáo rèn cho trẻ kỹ năng sống chúng tôi cũng có biện pháp mời CMTE đó tham dự buổi dạy chuyên đề về “Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ” do chuyên môn tổ chức để giúp CMTE hiểu rõ hơn về lợi ích của việc rèn kỹ năng sống cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ. Ngoài ra việc tuyên truyền qua các biểu bảng cũng được các nhóm lớp tuyên truyền thường xuyên qua góc tuyên truyền của lớp, các nội dung rèn kỹ năng sống cho trẻ được thay đổi thường xuyên theo cấp độ từ dễ đến khó 2.8. Biện pháp tổ chức các phong trào thi đua. Tổ chức và di trì các phong trào thi đua theo hướng dẫn của ngành và quy định của nhà nước, phát động các phong trào thi đua đạt hiệu quả cao, 100% CB,GV,NV nhà trường đã hưởng ứng tham gia các phong trào thi đua, có sơ, tổng kết, động viên khen thưởng kịp thời CB,GV,NV đạt thành tích cao trong hoạt động chuyên môn và các phong trào thi đua trong nhà trường. Hội thi Cô sáng tạo, bé khéo tay cấp trường Nhà trường tạo ra phong trào thi đua trong CB-GV-NV để tạo sự phấn đấu nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng để giáo viên phấn đấu để đạt được mục tiêu mà nhà trường đề ra, khi đó có những khen thưởng, động viên cụ thể. CB-GV-NV sẽ so sánh khả năng, năng lực của mình với đồng nghiệp chính vì thế tạo sự ganh đua trong công tác giảng dạy, kích thích trí tuệ của họ.
  13. 13 Từng hội thi được nhà trường tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm sâu sát, kết hợp tổ chức cho giáo viên chia sẽ kinh nghiệm cho nhau qua các hình thức như: Tổ chức dạy lại các tiết dạy hay qua hội thi “giáo viên giỏi” trình chiếu lại những giáo án hoặc sản phẩm UDCNTTdự thi có chất lượng, giới thiệu đồ dùng đồ chơi được đánh giá cao trong hội thi. Người quản lý cần tạo được những phong trào thi đua đúng đắn phù hợp tạo tinh thần trách nhiệm, sự hứng thú, đòi hởi sự phấn đấu, cạnh tranh trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Đi đôi với những điều đó là những khen thưởng cụ thể động viên CB-GV-NV, tạo cho họ cảm giác được cấp trên quan tâm, hoàn thành tốt công việc và có được cơ hội thăng tiến, ngoài ra nhà trường tổ chức cho CB-GV-NV tham quan học tập, nghỉ dưỡng sau khi kết thúc năm học để họ có thể nghỉ ngơi giải trí cùng nhau. Các quan hệ cá nhân tốt được hình thành và cũng cố thông qua những hoạt động tập thể này. Các hội thi của trẻ cũng có tác dụng thúc đẩy việc nâng cao chất lượng phổ cập trẻ 5 tuổi tại các nhóm, lớp. Một số nội dung chương trình được nhà trường đưa vào hội thi như: các kĩ năng thuộc lĩnh vực phát triển thể chất, phát triển nhận thức qua hội thi “Bé thông minh nhanh trí”, “Gia đình và sức khỏe trẻ thơ”, các kĩ năng tạo hình qua hội thi “ Cô sáng tạo,bé khéo tay”, các nội dung giáo dục kĩ năng sống, an toàn giao thông, bảo vệ môi trường sáng, xanh-sạch- đẹp và an toàn. 2.9. Phương pháp tổ chức đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cho cán bộ, giáo viên, nhân viên. Ngày nay công nghệ phát triển con người ngày càng phải được tiếp xúc với những công việc đòi hỏi trình độ cao. Do đó họ có nhu cầu học tập để không ngừng nâng cao trình độ CM nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu trong CSGD trẻ. Cán bộ quản lý cần phải chú trọng công tác đào tạo phát triển để duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tuy nhiên công tác đào tạo phải được thực hiện theo chiến lược phát triển của nhà trường và kế hoạch phát triển theo từng giai đoạn mới có thể đạt hiệu quả tốt nhất. Công tác đào tạo thể hiện được sự quan tâm của cán bộ quản lý tới giáo viên, nhân viên, từ đó mới gắn kết và tạo cho họ động lực để phát huy hết khả năng của mình để phục vụ tốt cho nhà trường trong CSGD trẻ và nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại trường mầm non Thới xuân”. 2.10. Biện pháp kiểm tra, đánh giá các hoạt động trong nhà trường để có sự điều chỉnh. Công tác kiểm tra đánh giá là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình tổ chức thực hiện. Đây là một biện pháp giúp các nhà quản lý nắm bắt được thực trạng của nhà trường để từ đó đưa ra các phương pháp, biện pháp khắc phục những yếu kém, tìm ra những hạn chế còn tồn tại và có kế hoạch chỉ
  14. 14 đạo tiếp theo nhằm nâng cao chất lượng CSGD và công tác BVMT trong trường mầm non. Để công tác này thực hiện có hiệu quả tôi áp dụng các biện pháp sau: - Đánh giá xếp loại theo tiêu chí hàng tháng, học kì, xây dựng qui ước thi đua, khen thưởng kịp thời để động viên khích lệ nhằm nâng cao phong trào thi đua giữa giáo viên trong nhà trường. - Phân công trách nhiệm, nhiệm vụ cụ thể cho từng tổ trưởng chuyên môn dưới sự giám sát của Ban giám hiệu nhà trường. Bồi dưỡng về mặt chuyên môn, nghiệp vụ, thanh kiểm tra cho những người cốt cán, hướng dẫn kiểm tra theo qui định của nhà trường và của ngành giáo dục. 3. Tính hiệu quả. Với những Biện pháp trên, sau gần một năm thực hiện “Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại trường mầm non Thới xuân”. tuy kết quả có thể đạt được nhưng chưa cao theo mục tiêu đề ra, nhưng đối với nhà trường có những thay đổi đáng kể trong hoạt động giáo dục trẻ tại trường cũng như thực hiện đạt kết quả cụ thể như sau: a. Đối với giáo viên. Qua gần một năm thực hiện các biện pháp của sáng kiến tôi nhận thấy đã có được các kết quả đáng kể: * Về giáo viên: Đã nhận thức và hiểu sâu sắc hơn tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho trẻ MN. Nắm chắc được các kỹ năng cần thiết để dạy trẻ. Có trách nhiệm hơn trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ trong các hoạt động hàng ngày và đặt biệt có 5/5 GV tham gia hội thi giáo viên giỏi cấp huyện. * Đối với CMTE: Các bậc phụ huynh đã thấy được tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho con mình. Nhiều CMTE tích cực trong việc phối kết hợp với giáo viên để rèn kỹ năng sống cho trẻ. Hạn chế được tình trạng phụ huynh bế con, cầm đồ cho con lên tận lớp. Phụ huynh hài lòng với thành công của trẻ, tin tưởng vào kết quả giáo dục của nhà trường. * Đối với trẻ: Trẻ nhanh nhẹn, mạnh dạn, tự tin, năng động, tự lập, giải quyết công việc một cách dễ dàng, hứng thú kết quả đạt các hội thi cấp huyện như “ Bé kể chuyện đọc thơ dạt giải khuyến khích”, hội thi “ Cô sáng tạo bé khéo tay đat...” C. KẾT LUẬN Để có một tương lai tươi sáng, có một cuộc sống độc lập thì việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ngay từ tuổi mầm non là vô cùng cần thiết. Nó là nền tảng vững chắc cho việc hình thành và phát triển nhân cách sau này của trẻ. Mang lại cho trẻ những nền tảng vững chắc đó chính là giáo viên mầm non - người vẽ lên những nét bút đầu tiên cho trẻ. Chính vì vậy mà đòi hỏi mỗi giáo viên cần nắm bắt tốt tâm sinh lý của trẻ và hiểu rõ về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ
  15. 15 năng sống của trẻ trong trường mầm non. Nhà trường cần quan tâm tới việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, tạo điều kiện cho giáo viên tham gia đầy đủ các lớp tập huấn của Phòng và của Sở. Qua các buổi họp chuyên môn, tích cực trao đổi thảo luận, chia sẻ cho giáo viên chia sẻ những kinh nghiệm, giúp giáo viên nắm chắc các nội dung, các phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Mỗi giáo viên cũng cần xác định được vai trò của mình trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Luôn là tấm gương sáng cho trẻ học tập. Việc rèn kỹ năng sống cho trẻ không phải là việc làm một sớm, một chiều mà có sự lặp đi, lặp lại một cách thường xuyên. Vì vậy mà, giáo viên còn là cầu nối giữa gia đình và nhà trường trong việc phối kết hợp rèn kỹ năng sống cho trẻ. Việc chỉ đạo giáo viên áp dụng các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đã mang lại được kết quả đáng kể: Trẻ mạnh dạn, tự tin, biết lắng nghe, chia sẻ và hợp tác với cô trong mọi hoạt động trên lớp. Đặc biệt trẻ đã hình thành được tính tự lập mà không phụ thuộc vào bố mẹ và cô giáo. 1. Phạm vi áp dụng của sáng kiến. - Phạm vi áp dụng: Sáng kiến được áp dụng tại Trường mầm non Thới Xuân, có thể áp dụng cho tất cả các trường trong và ngoài huyện. - Đối tượng áp dụng: Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, CMTE và các, trẻ mầm non từ 36 tháng đến 72 tháng tuổi. 2. Điều kiện áp dụng và triển khai, nhân rộng. + Đầu tư các thiết bị, đồ dùng đồ chơi phục vụ cho hoạt động học tập và vui chơi của trẻ. + Đội ngũ giáo viên yêu nghề, mến trẻ, tâm huyết với nghề, nhiệt tình trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ. Đặc biệt nắm bắt được đặc điểm tâm sinh lý trẻ, hiểu sâu sắc về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ trong trường mầm non. + Cha mẹ trẻ em quan tâm tới các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ trong nhà trường, luôn ủng hộ các phong trào và hoạt động của nhà trường. Trên đây là một số Biện pháp mà trong quá trình chỉ đạo bản thân tôi đã và đang thực hiện và chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại trường mầm non Thới xuân đạt kết quả tốt nhất. Rất mong được sự góp ý của Hội đồng khoa học để bản thân hoàn thiện hơn. Thới Xuân, ngày 03 tháng 04 năm 2023 DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG Người thực hiện CHẤM SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
  16. 16 Huỳnh Thị Út Nguyễn Thị Thúy Liễu