SKKN Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non Thới Xuân NH 2022-2023 (Lê Thị Duyên)

doc 16 trang Đình Bắc 11/08/2025 240
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non Thới Xuân NH 2022-2023 (Lê Thị Duyên)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_giao_duc_tinh_tu_lap_cho_tre_4_5_tuoi.doc

Nội dung text: SKKN Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non Thới Xuân NH 2022-2023 (Lê Thị Duyên)

  1. MỤC LỤC Trang phụ bìa Mục lục A- PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................1 1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................1 2. Giới hạn đề tài .......................................................................................2 B- PHẦN NỘI DUNG ...............................................................................3 1. Thực trạng vấn đề .................................................................................3 1.1. Thuận lợi: .............................................................................................3 1.2. Khó khăn, hạn chế:...............................................................................3 1.3. Những yêu cầu cần đặt ra:....................................................................4 2. Những giải pháp thực hiện ...................................................................4 Biện pháp 1: Lập kế hoạch đưa ra các kỹ năng cần thiết để giáo dục tính tự lập cho trẻ..........................................................................................................4 Biện pháp 2: Tạo môi trường gần gũi, an toàn để trẻ phát huy tính tự lập của bản thân trẻ......................................................................................................5 Biện pháp 3: Tổ chức lồng ghép giáo dục tính tự lập cho trẻ vào các hoạt động.......................................................................................................................6 Biện pháp 4: Giảm nhẹ yêu cầu, luôn kiên nhẫn động viên trẻ, nêu gương khen ngợi trẻ kịp thời. ...........................................................................................9 Biện pháp 5: Tuyên truyền với phụ huynh để giáo dục tính tự lập cho trẻ .............................................................................................................................10 3. Tính hiệu quả: .....................................................................................12 C- PHẦN KẾT LUẬN ............................................................................14 1. Phạm vi áp dụng của sáng kiến..........................................................14 2. Điều kiện áp dụng và được triển khai, nhân rộng............................14
  2. 1 A- PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trẻ em không chỉ là niềm hạnh phúc và tự hào của mỗi gia đình mà trẻ em còn là những công dân, là thế hệ tương lai của cả đất nước. Chính vì vậy giáo dục mầm non chính là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân có vai trò đặc biệt quan trọng, có nhiệm vụ xây dựng những cơ sở ban đầu, đặt nền móng và tạo nền tảng cho việc hình thành nhân cách con người. Mục tiêu chăm sóc, giáo dục trẻ mẫu giáo là cần phát triển một số nét tính cách, phẩm chất phù hợp với lứa tuổi như: Mạnh dạn, tự tin, tự lực, độc lập, sáng tạo, linh hoạt, tự giác, dễ hòa nhập, biết bảo vệ môi trường... Để quán triệt quan điểm chỉ đạo đổi mới mục tiêu giáo dục mầm non, việc đưa nội dung giáo dục tính tự lập cho trẻ là rất cần thiết. Tính tự lập là một phẩm chất vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách của con người nói chung và của trẻ mầm non nói riêng. Giai đoạn mầm non là độ tuổi phát triển tốt, là tiền đề cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm và quan hệ để chuẩn bị những điều kiện tốt nhất cho giai đoạn tiếp theo. Ở trẻ 4-5 tuổi: Trẻ xuất hiện nhu cầu tự khẳng định mình, thể hiện qua hành động tự lập không phụ thuộc vào người lớn như tự làm lấy một số công việc trong sinh hoạt hàng ngày (tự xúc cơm, mặc quần áo, xếp hình...) và trong giao tiếp ứng xử. Như vậy, đây là giai đoạn xuất hiện những tiền đề quan trọng đánh giá sự phát triển tính tự lập của trẻ. Năm học 2022 - 2023, tôi được nhà trường phân công phụ trách Chồi 2 với tổng số 20 trẻ. Bản thân xác định rõ vai trò, trách nhiệm của mình là chăm sóc giáo dục trẻ phát triển toàn diện, giúp trẻ có kỷ năng sống và hình thành cho trẻ cơ sở ban đầu về nhân cách con người, tiếp xúc với trẻ hằng ngày tôi phát hiện trẻ lớp tôi tính tự lập chưa cao, chưa tự tin tham gia vào các hoạt động, chưa thể hiện được khả năng tự lập của mình. Có nhiều trẻ chưa tự làm được những việc tự phục vụ bản thân như: tự xúc cơm, tự mặc, cất đồ dùng cá nhân, Đó là kết quả của việc cha mẹ đã tự làm thay trẻ mọi việc, những đứa trẻ thường được bao bọc quá kỹ sẽ luôn ỉ lại, dựa dẫm vào người khác, khả năng giao tiếp kém và không biết cách xử lí những vấn đề mình gặp phải. Phần lớn các gia đình đều chỉ có 1 đến 2 con nên trẻ được mọi người chiều chuộng, chỉ cần đòi cái gì thì đáp ứng ngay, cha mẹ thường làm thay cho trẻ mọi việc nên từ đó trẻ có tính phụ thuộc cao, nhiều cha mẹ cũng muốn để con tự lập, nhưng không đủ kiên nhẫn để theo đuổi trong quá trình rèn luyện cho con và cuối cùng bỏ cuộc. Do đó việc giáo dục tính tự lập cho trẻ cần được áp dụng càng sớm càng tốt, và là phương pháp rất quan trọng và cần thiết. Vậy làm thế nào để tìm ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục tính tự lập cho trẻ. Đây là một vấn đề cần thiết không chỉ đối với sự phát triển của trẻ mà còn ý nghĩa sâu sắc đối với gia đình. Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 4 – 5 tuổi ở trường mầm non Thới Xuân” để làm đề tài sáng kiến cho năm học 2022-2023.
  3. 2 2. Giới hạn đề tài Thời gian thực hiện: Đề tài được thực hiện trong năm học 2022 – 2023. Đối tượng nghiên cứu: Trẻ 4 – 5 tuổi tại trường mầm non Thới Xuân. Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi nghiên cứu và thực hiện “Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 4 – 5 tuổi ở trường mầm non Thới Xuân”.
  4. 3 B- PHẦN NỘI DUNG 1. Thực trạng vấn đề 1.1. Thuận lợi: Địa phương tôi là nơi có điều kiện tiềm năng phát triển về kinh tế. Sự nghiệp giáo dục luôn nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương. Trường Mầm non Thới Xuân tôi đang công tác là một trong những đơn vị xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm và tái công trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1. Ban Giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, đặt tiêu chí chất lượng giáo dục lên hàng đầu. Điều kiện cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, đáp ứng với yêu cầu chăm sóc giáo dục trẻ. Phần lớn giáo viên đã sử dụng đa dạng các hình thức giáo dục tính tự lập cho trẻ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển các kỹ năng tự lập của mình. Đa số trẻ có sức khỏe tốt, nhanh nhẹn tích cực tham gia các hoạt động lao động của lớp và của nhà trường. 1.2. Khó khăn: - Đối với trẻ: Đa số trẻ cha mẹ đều đi làm xa, trẻ ở nhà với ông bà được cưng chìu nên có thói quen ỷ lại, dựa dẫm vào người khác; Một số trẻ nói chưa rỏ nói ngọng, nên khó thể hiện được mong muốn và ý định của mình - Đối với phụ huynh: Nhận thức về sự cần thiết của việc giáo dục tính tự lập cho trẻ còn hạn chế; Phụ huynh chưa đánh giá hết được khả năng của trẻ, họ cho rằng trẻ còn nhỏ, người lớn cần giúp đỡ trẻ trong mọi công việc. - Đối với giáo viên: Phần lớn giáo viên chưa thường xuyên đánh giá sau mỗi việc làm của trẻ, dẫn đến một số giáo viên chưa kết hợp nội dung giáo dục tính tự lập cho trẻ vào các hoạt động chăm sóc, giáo dục hàng ngày; Giáo viên đã sử dụng các biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ chưa thường xuyên. Một bộ phận nhỏ giáo viên còn xem nhẹ việc giáo dục tính tự lập cho trẻ. Để tìm hiểu về thực trạng biểu hiện tính tự lập của trẻ, tôi đã tiến hành nghiên cứu, khảo sát 21 trẻ tại lớp và kết quả khảo sát như sau: * Bảng 1. Kết quả khảo sát vào đầu năm học: Nội dung khảo sát Tổng số trẻ Trẻ đạt Tỉ lệ % Kỹ năng tự phục vụ 21 10 47,6% Kỹ năng giữ gìn vệ sinh 21 10 42,8% Kỹ năng giúp đỡ người khác 21 9 42,8% Nhận thức của phụ huynh về giáo dục 21 5 23,8% tính tự lập cho trẻ Qua khảo sát tôi thấy trẻ lớp tôi đa số còn chưa biết cách tự phục vụ bản thân, chưa có ý thức giữ gìn vệ sinh thân thể, đặc biệt kỹ năng hỗ trợ người khác còn rất ít trẻ đạt yêu cầu. Trẻ lớp tôi còn luôn ỉ lại, dựa dẫm vào cô giáo trong lớp, nếu không có cô giúp hoặc nhắc nhở thì trẻ không biết phải làm gì. Từ kết quả trên tôi đã cố gắng định hướng cho trẻ cần phải làm những gì đầu tiên sau
  5. 4 đó dần dần đạt được kết quả mình muốn và nghiên cứu các biện pháp cụ thể để giáo dục tính tự lập cho trẻ. 1.3. Những yêu cầu cần đặt ra: Rèn luyện cho trẻ những kỹ năng cần thiết, đặc biệt là kỹ năng tự lập sẽ giúp trẻ sớm có ý thức làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho chính mình cũng như xã hội. Giúp trẻ phát huy khả năng tự lập, làm cơ sở cho sự hình thành nhân cách của trẻ sau này, trẻ biết được những điều nên làm và những điều không nên làm, giúp trẻ tự giác, tự tin thể hiện được khả năng, năng lực của mình. Góp phần cốt lõi cho việc giáo dục nhân cách con người, có tình yêu thương, biết quan tâm, nhường nhịn giúp đỡ người khác. Giáo viên năng động, luôn đổi mới phương pháp giảng dạy của mình, luôn có sự đầu tư, linh hoạt, sáng tạo trong công tác giảng dạy. Từ thực trạng thuận lợi và khó khăn trong nhà trường, với kết quả khảo sát trên tôi đưa ra một số biện pháp như sau: 2. Những giải pháp thực hiện Biện pháp 1: Lập kế hoạch đưa ra các kỹ năng cần thiết để giáo dục tính tự lập cho trẻ. Rèn luyện những kỹ năng cần thiết cho trẻ ngay từ ban đầu là điều vô cùng quan trọng, hình thành các kỹ năng cơ bản trong học tập và sinh hoạt là giữ vai trò quyết định đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này cho trẻ. Các nội dung giáo dục tính tự lập cho trẻ 4 - 5 tuổi có thể chia ra một số các kỹ năng trọng tâm như sau: + Kỹ năng tự phục vụ bản thân: Trẻ biết tự cất đồ dùng cá nhân vào cặp, tự để cặp vào đúng tủ của mình, tự măc quần áo, tự cởi quần áo ,tự cởi giày, đi giày, cất dép đúng nơi qui định, giờ ăn trẻ biết tự lấy ghế về chỗ ngồi, cầm và sử dụng thìa, tự xúc cơm ăn, khi khác biết tự lấy nước uống,tự rửa mặt, rửa tay, tự lấy và cất gối. + Kỹ năng giữ gìn vệ sinh: Tự thay áo quần khi thấy bẩn, tự lau miệng sau khi ăn,, tự đi vệ sinh khi đi xong biết tự xả nước và đi vệ sinh đúng nơi quy định,tự rửa tay, chân khi bị bẩn, nhặt rác và bỏ rác đúng nơi quy định. + Kỹ năng hỗ trợ người khác: Lấy cất đồ dùng học tập, chuẩn bị bàn ăn giường ngủ cùng cô, lấy đồ vật khi được nhờ Việc xác định những kỹ năng trên đã giúp tôi định hướng được nhiệm vụ của mình trong công tác chăm sóc trẻ nói chung và việc thực hiện đề tài nghiên cứu nói riêng. Và nhờ xác định được những kỹ năng đó mà tôi rèn luyện trẻ thông qua các hoạt động trong ngày. Tôi đã giúp trẻ hiểu được ý nghĩa của công việc đó như thế nào, biết được việc nào nên làm việc nào không nên làm, việc đó có ích lợi gì từ đó giúp trẻ dần dần trở thành ý thức cần có trong cuộc sống
  6. 5 hàng ngày. Biện pháp 2: Tạo môi trường gần gũi, an toàn để trẻ phát huy tính tự lập của bản thân trẻ. Vào đầu năm học tôi tiến hành thiết kế các khu vực của lớp học ngăn nắp, trật tự, phù hợp, thuận tiện để phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của trẻ, phù hợp với khả năng của trẻ theo độ tuổi, phù hợp với chủ đề trong năm. Một trong những bí quyết dạy trẻ tính tự lập chính là tạo môi trường gần gũi, an toàn giúp trẻ phát huy tính tự lập của bản thân. Bởi bất cứ đứa trẻ nào cũng có năng lực tự lập, chỉ cần cô giáo, người lớn chúng ta biết khuyến khích và cho trẻ có cơ hội được thực hiện những điều con có thể làm. Hình ảnh: Góc xây dựng Tôi đã tận dụng các đồ dùng đơn giản dễ kiếm, không gây nguy hiểm cho trẻ để tạo ra nhiều đồ dùng đồ chơi hấp dẫn. Dán các ký hiệu cho từng cá nhân trẻ đảm bảo ký hiệu đó phải được trẻ yêu thích, dễ nhớ, gần gũi với trẻ để trẻ dễ nhận ra. Muốn trẻ tự phục vụ nên tủ đựng đồ đùng cá nhân, giá treo, giá để giày dép phải có chiều cao phù hợp với trẻ, để trẻ tự cất, tự lấy Hình ảnh: Các ký hiệu của trẻ + Xây dựng môi trường tinh thần cho trẻ Quan tâm đến biểu hiện của trẻ để kịp thời phát hiện những biểu hiện vui, buồn, những biểu hiện khác lạ, kịp thời động viên, khích lệ trẻ trong khi trẻ hoạt
  7. 6 động. Cho trẻ tự chọn hoạt động để làm, tự chọn trò chơi để chơi. Cô làm cùng trẻ, chơi cùng trẻ, tạo cho trẻ cảm giác cô thực sự là một “người bạn nhỏ” của chúng. Khuyến khích trẻ nói lên những cảm xúc, suy nghĩ của mình trong các hoạt động. Chẳng hạn, “con tự làm việc giúp cô con thấy thế nào?”, “con được tự chơi theo ý mình con thấy có vui không?”, “con có khó khăn gì khi tự làm không?”... qua đó GV nắm được nhu cầu, nguyện vọng, khả năng của trẻ để có tác động phù hợp Cùng trẻ lưu lại những kết quả trong các hoạt động thông qua sản phẩm, những hình ảnh trong giờ học của trẻ. Cuối ngày cô cùng trẻ xem lại cho trẻ tự nói lên cảm xúc, nhận xét của mình về các sản phẩm của mình làm ra. Cô khen ngợi để tạo động lực, thúc đẩy nhu cầu hoạt động của trẻ. Biện pháp 3: Tổ chức lồng ghép giáo dục tính tự lập cho trẻ vào các hoạt động * Hoạt động đón trả trẻ: Như chúng ta đã biết đặc điểm tâm lí của trẻ 4 – 5 tuổi là “ Mau nhớ nhưng cũng chóng quên”.Vì vậy việc rèn luyện tính tự lập cho trẻ cần phải thường xuyên liên tục. Khi trẻ mới đến lớp tôi hướng dẫn trẻ cất đồ dung cá nhân vào cặp,gọn gàng, để khi cần tìm sẽ dễ dàng và nhanh hơn. Trước khi ra về tôi nhắc trẻ tự kiểm tra lại đồ dùng của mình, sau một, hai lần tôi nhắc nhở và ngày nào trẻ cũng được thực hành các thao tác đó nên trẻ trở thành một thối quen không cần đến sự giúp đỡ của người lớn nữa. Hình ảnh: Đón trẻ * Hoạt động học Để giáo dục tính tự lập cho trẻ nên trong giờ hoạt động học tôi thường cho trẻ tự lấy và cất đồ dùng học tập của mình, qua đó tôi thấy trẻ rất vui vẻ, hứng thú và luôn muốn học hỏi khám phá xem hôm nay được học những gì từ các đồ dùng mà cô giáo đã chuẩn bị cho mình. Ví dụ: Trong giờ hoạt động tạo hình sau khi hướng dẫn trẻ thực hiện xong tôi cho trẻ tự lại góc tạo hình lấy đồ dùng như: giấy vẽ, bút màu rồi về bàn thực
  8. 7 hiện. Hình ảnh: Hoạt động học của trẻ * Hoạt động chơi ngoài trời. Thông qua hoạt động ngoài trời, GV cho trẻ được trở thành những nhân vật mà bé rất thích được làm như “Nhà khoa học tí hon” để khám phá thông qua các trò chơi như “Vật chìm, vật nổi”, “Vật lăn được, vật không lăn được” hay tìm hiểu về sự thay đổi của sự vật xung quanh (cây nẩy mầm, lớn lên, nở hoa ) để trẻ được tự tìm hiểu, chủ động tham gia và tự khám phá trong hoạt động. Tổ chức các hoạt động cho trẻ được trải nghiệm với những công việc ngoài thực tiễn như “làm bác nông dân”; “làm bác chăm vườn” để tự nhổ cỏ, lau lá, tưới cây, nhặt lá rụng sân trường, nhặt rác bỏ vào thùng rác tôi chia trẻ ra thành các nhóm nhỏ cho trẻ tự chọn công việc mà mình thích mỗi nhóm 5- 6 trẻ, nếu trong quá trình trẻ thực hiện tôi sẽ hướng dẫn, cùng làm và trò chuyện với trẻ từ đó trẻ được tự tìm hiểu và yêu quý cây xanh, yêu thiên nhiên, biết giữ gìn bảo vệ môi trường xanh - sạch - đẹp hơn. Hình ảnh. Trẻ tham gia hoạt động ngoài trời * Hoạt động chơi ở các góc, hoạt động chiều Trẻ mầm non hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo qua đó“ trẻ học mà chơi, chơi mà học”. Vì vậy trong giờ hoạt động góc tôi gợi ý để trẻ tự chọn góc chơi vai mà trẻ thích, hướng dẫn trẻ cách sử dụng đồ chơi, tôi quan sát có lúc tôi tạo ra các tình huống để trẻ tự giải quyết, tôi chơi cùng trẻ giúp trẻ khám phá những điều mới lạ, hấp dẫn khi hết giờ chơi tôi cho trẻ tự cất đồ chơi ở các
  9. 8 góc mà trẻ chơi, ngăn nắp, gọn gàng động viên, khuyến khích trẻ để giờ sau trẻ chơi tốt hơn. Ở hoạt động rèn các kỹ năng buổi chiều tôi cho trẻ được thực hành các kỹ năng như: Tự đi dày dép, tự mặc, xếp quần áo, đội mũ, đi tất Đặc biệt là kỹ năng biết tự đi vệ sinh khi có nhu cầu Cho trẻ xem các, tranh ảnh, video về rèn kỹ năng tự phục vụ bản thân. Hình ảnh: Cháu tự phục vụ cá nhân * Hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân. + Giờ ăn: Hướng dẫn trẻ xếp, kê bàn ăn cùng cô, tự rửa tay trước khi ăn. + Tôi giới thiệu các món ăn (tên món ăn, thành phần chính, lợi ích dinh dưỡng, ) để trẻ nhận biết, đồng thời kích thích cho trẻ về sự hấp dẫn của món ăn để trẻ tự xúc cơm ăn. + Khuyến khích trẻ giúp cô bỏ thìa vào bát, bưng bát cơm cho bạn cùng với cô. Trong khi ăn không nói chuyện riêng, ngồi ngay ngắn, ngồi sát vào bàn để không làm đổ bát cơm. Khi ăn xong cho trẻ tự bỏ thìa, bát vào đúng chỗ quy định, lau bàn và xếp bàn cùng cô sau khi ăn xong. Hình ảnh: giờ ăn của trẻ + Giờ ngủ cho trẻ tự lấy chăn,gối của mình, và biết cất chăn gối sau khi thức dậy. + Vệ sinh: Trẻ tự đi vệ sinh đúng nơi quy định, biết tự xả nước khi đi vệ sinh xong.
  10. 9 - Để giúp trẻ thực hiện các thói quen tự phục vụ một cách phấn khởi và nhớ lâu tôi đã kết hợp sử dụng những bài thơ, bài hát như: bài thơ rửa tay, rửa mặt, không kén ăn Hình ảnh: Giờ ngủ Biện pháp 4: Giảm nhẹ yêu cầu, luôn kiên nhẫn động viên trẻ, nêu gương khen ngợi trẻ kịp thời. Trẻ 4 - 5 tuổi vốn là giai đoạn “cực kỳ” nhạy cảm ở trẻ. Những đứa trẻ non nớt và rất dễ tổn thương.Vì vậy, cô giáo nên hạn chế tối đa sự áp đặt và yêu cầu của bản thân đối với công việc trẻ làm.Thay vào đó, hãy khích lệ con bằng những lời động viên và ghi nhận thành quả chúng đạt được.Việc tạo động lực cho trẻ không chỉ giúp trẻ hình thành những thói quen tốt, biết cố gắng, nỗ lực để đạt được thành tựu và hạn chế tối đa những suy nghĩ tiêu cực, tổn thương ở trẻ. Hình ảnh: Giáo viên ân cần trẻ Đối với một số trẻ cá biệt việc giáo dục tính tự lập lại đòi hỏi tôi càng phải kiên trì, kiên nhẫn hơn. Ở lớp tôi có cháu Trí Thành, là một học sinh cá biệt. Trẻ nói không rõ ,không thể hiện được nhu cầu, mong muốn của mình, mọi việc tự phục vụ cho bản thân không hề làm được khi nào cũng dựa vào ông bà, cha, mẹ ,cô giáo Mặc dù rất khó khăn khi giáo dục cháu nhưng tôi đã kiên nhẫn chỉ bảo cho trẻ bằng hành động, bằng cách làm mẫu, động viên khuyến khích trẻ bước đầu cháu đã biết tự nhắc ghế ngồi, biết lấy gối và đi ngủ đúng chỗ của mình.Và khi ngủ dâỵ cháu biết cất gối vào nơi quy định và biết cùng các bạn giúp cô cất giường
  11. 10 Hình ảnh: Giờ ngủ * Tùy vào năng lực của từng trẻ, nhanh hay chậm không quan trọng mà quan trọng là cần cho trẻ làm thường xuyên liên tục từ đó trở thành kĩ năng của trẻ, đem đến cho trẻ sự tự lập, tự tin và luôn nghĩ rằng trẻ cũng giỏi như các bạn. Trong tiết “Tô màu bức tranh bạn gái” lúc đầu trẻ tô chưa đẹp, tôi chấp nhận trẻ tô nghuệc ngoạc, chờm ra ngoài tôi bình tĩnh quan sát, để biết trẻ yếu ở điểm nào rồi uốn nắn chỉnh sửa cho trẻ ở điểm đó và từ đó trẻ tự tin tiến bộ từng ngày. Trong giờ ăn cơm muốn trẻ ăn nhanh tôi thường hay khen trẻ, bạn Trí Thành hôm nay ăn rất giỏi, tự xúc cơm ăn, khi ăn không rơi đổ cơm, cuối tuần cô sẽ thưởng bé ngoan cho con nhé. Vậy là các bạn khác trong lớp cũng cố gắng tự xúc ăn nhanh hết xuất để được cô giáo khen giống bạn Tiết dạy trẻ kĩ năng tự mặc và cởi áo khoác bạn Khả Hân thực hiện rất tốt nên được cô giáo tuyên dương trước lớp cháu tỏ ra rất vui vẻ và ham học hỏi hơn nữa. Tôi rút ra được một bài học là có thể đôi khi trẻ trẻ chưa làm tốt nhiệm vụ được như mong đợi nhưng thay vì trách mắng trẻ tôi thường xuyên động viên khuyến khích trẻ để trẻ thêm tự tin, tự lập và làm tốt hơn vào lần sau. Biện pháp 5: Tuyên truyền với phụ huynh để giáo dục tính tự lập cho trẻ Trong giáo dục mầm non thì sự kết hợp giữa gia đình và nhà trường là vô cùng quan trọng, bởi không phải phụ huynh nào cũng hiểu được giáo dục tính tự lập cho trẻ là rất cần thiết, vì vậy tôi thường xuyên chia sẻ các nội dung về giáo dục tính tự lập cho trẻ với phụ huynh qua giờ đón, trả trẻ, qua các buổi họp phụ huynh, Ngoài ra, tôi còn tạo các trang liên kết giữa giáo viên với các bậc phụ huynh qua Zalo, Facebook để giáo viên thuận tiện hơn trong việc tuyên truyền nội dung giáo dục và để phụ huynh nắm bắt thông tin về giáo dục trẻ ở nhà trường ở lớp một cách dễ dàng.. Đối với những trẻ biểu hiện tự lập chưa tốt, tôi trao đổi trực tiếp với phụ huynh để họ nắm bắt về khả năng của trẻ cùng nhau tìm ra biện pháp và thống nhất về việc giáo dục tính tự lập cho trẻ. Nội dung tuyên truyền:
  12. 11 - Tôi luôn tuyên truyền với phụ huynh hiểu thế nào là cho trẻ tự lập, tự làm những việc trong khả năng của trẻ, bố mẹ chỉ là người làm mẫu và hướng dẫn trẻ làm không nên làm giúp trẻ, hay khi trẻ đã biết làm rồi thì người lớn nên khuyên khích động viên trẻ, cho trẻ rèn luyện tính tự lập đó nhiều lần để trở thành các kỹ năng cần thiết trong cuộc sống của trẻ. Ví dụ: Tôi thấy một số trẻ lớp tôi rất được bố mẹ nuông chiều không bao giờ tự làm một việc gì, đến lớp thì đợi cô và bạn làm giúp. Tôi đã trò chuyện với phụ huynh để họ nắm bắt được tình hình của con mình và tôi tuyên truyền cho họ các phương pháp về giáo dục tính tự lập cho trẻ ngay từ nhỏ để phụ huynh có thể áp dụng tại gia đình. Tôi có thể gợi ý cho họ về cách giáo dục trẻ tự lập “Anh chị cứ để trẻ tự đi lên cầu thang mỗi khi tới lớp vì mỗi ngày ở trường trẻ phải tự lên xuống cầu thang mấy lần mà, hay các bé tự đi dép được đấy chị ạ, chị cứ để bé tự lấy và tự đi thử xem ” - Tôi cũng tuyên truyền với phụ huynh quan sát ý thức của trẻ trong các điều kiện và tình huống hàng ngày như quan sát xem trẻ có biết tự đi rửa tay bằng xà phòng khi thấy tay bẩn chưa, hay sau khi đi vệ sinh đã biết xả nước chưa, sau khi chơi xong có biết tự đi cất đồ chơi gọn gàng hay cần bố mẹ nhắc nhở, giúp đỡ, khi người lớn nhờ trẻ lấy giúp ly nước, bật ti vi, hay tắt quạt thì biểu hiện của trẻ ra sao. Trẻ có thích tự xúc cơm, tự mặc chuẩn bị quần áo khoác, khẩu trang khi đi ra đường hay không .để từ đó có những biện pháp rèn luyện và giáo dục trẻ thêm. Ngoài ra ở góc tuyên truyền tôi còn dán một số bài báo về phương pháp dạy con của cha mẹ, dán một số hình ảnh chính con họ tự dọn đồ chơi, tự xách đồ, tự xúc ăn, tự gấp quần áo, tự rửa tay bằng xà phòng Hình ảnh: Trẻ tự phụ vụ bản thân Kết quả: Đa số phụ huynh đều đã nhận thấy vai trò và tính quan trọng của việc giáo dục tính tự lập cho trẻ. Số phụ huynh nhận thấy tầm quan trọng của việc giáo dục tính tự lập cho trẻ bởi phụ huynh đã thường xuyên rèn luyện tính tự lập cho con mình tại gia đình, họ thấy trẻ rất mạnh dạn, tự tin trong mọi công việc hàng ngày trong gia đình cũng như ở những nơi công cộng khác.
  13. 12 * Kết quả đạt được: Bảng 2. Bảng so sánh kết quả trước và sau khi áp dụng: Tổng Đầu năm Cuối năm Nội dung khảo sát số Trẻ Tỉ lệ Trẻ Tỉ lệ trẻ đạt % đạt % Kỹ năng tự phục vụ 21 10 47,6% 21 100% Kỹ năng giữ gìn vệ sinh 21 10 42,8% 21 100% Kỹ năng giúp đỡ người khác 21 9 42,8% 21 100% Nhận thức của phụ huynh 21 5 23,8% 21 100% Với kết quả khảo sát trước và sau khi áp dụng thì tôi nhận thấy kết quả đạt tỷ lệ cao so với khi chưa áp dụng sáng kiến như: 100% trẻ đạt các kỹ năng và 100% phụ huynh nhận thức được tầm quan trọng về giáo dục tính tự lập cho trẻ. 3. Tính hiệu quả: * Tính hiệu quả kinh tế: Khi thực hiện sáng kiến, áp dụng các giải pháp không tốn kém về kinh tế cũng như nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực chủ yếu là giáo viên và sự phối kết hợp của phụ huynh học sinh. * Lợi ích xã hội: - Đối với trẻ - Mức tự lập của trẻ cao hơn rất nhiều, tự giác trong mọi hoạt động . + Trẻ có kỹ năng, linh hoạt, chủ động. + Nhận thức của trẻ được phát triển do phạm vi tiếp xúc của trẻ được mở rộng. Trẻ khỏe mạnh và tự tin hơn trong mọi hoạt động. - 100% trẻ được tạo mọi điều kiện khuyến khích khơi dậy tính tò mò, phát triển trí tưởng tượng, năng động, mạnh dạn, tự tin. - 100% trẻ được rèn luyện kỹ năng xã hội; kỹ năng về cảm xúc, giao tiếp; biết chơi đoàn kết với bạn bè. - 100% trẻ lớp tôi biết tự sắp xếp đồ dùng cá nhân của mình đúng nơi quy định. Biết tự rửa tay, rửa mặt, đánh răng khi cần thiết, biết sử dụng bát, thìa, cốc đúng cách khi ăn, uống - Đối với giáo viên: + Giáo viên nẵm vững và hiểu nội dung giáo dục tính tự lập, biết tích hợp nội dung giáo dục tính tự lập cho trẻ vào các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ hàng ngày. + Hiểu nắm được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, phối hợp chia sẽ được kinh nghiệm của mình với giáo viên cùng lớp để có phương pháp thống nhất các nội dung chăm sóc giáo dục trẻ ngay từ đầu năm học. + Làm tốt công tác tuyên truyền, phối hợp tốt với phụ huynh trong chăm
  14. 13 sóc giáo dục trẻ tại gia đình. + Biết xây dựng môi trường hoạt động phù hợp giúp trẻ phát triển tính tự lập. - Đối với phụ huynh: + 100% phụ huynh phối hợp với giáo viên để rèn thêm cho trẻ những kỹ năng khi ở nhà, và cùng giáo viên xây dựng môi trường, hỗ trợ nguyên vật liệu giúp giáo viên thực hiện tốt trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ. + Nhận thức về sự cần thiết của việc giáo dục tính tự lập cho trẻ được nâng cao. Phụ huynh nắm rõ đặc điểm tâm sinh lý của con mình nói riêng và đặc điểm tâm sinh lý của trẻ lứa tuổi mẫu giáo 4 – 5 tuổi nói chung và ngày càng quan tâm nhiều đến con em của mình. + Tin tưởng vào giáo viên và tin tưởng vào con mình có thể làm được những kỷ năng tự phục vụ trong sinh hoạt hằng ngày. + Kết hợp với giáo viên cùng thực hiện tốt việc giáo dục tính tự lập cho trẻ, luôn tạo điều kiện để trẻ phát huy tính tự lập.
  15. 14 C- PHẦN KẾT LUẬN Tự lập là một phẩm chất quan trọng trong nhân cách của con người thời đại mới. Tính tự lập rất cần chú ý để được rèn luyện phát huy từ lứa tuổi mẫu giáo, bởi đây là những năm tháng đầu đời, là nền móng cho tương lai sau này. Tính tự lập được hình thành và phát triển ngay từ lứa tuổi mẫu giáo sẽ giúp cho Việc phát triển nhân cách sau này khi trẻ trưởng thành, công tác giáo dục cho trẻ nói chung và giáo dục tính tự lập nói riêng không phải trách nhiệm của riêng cá nhân nào, rất cần sự phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường. Vì vậy, phát huy tính tự lập cho trẻ mẫu giáo rất cần thiết và là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu, thực hiện có hiệu quả hơn nữa. Trẻ mầm non được coi là tự lập khi trẻ tỏ ra vui vẻ, không sợ người lạ, biết cách nói lên suy nghĩ của mình, biết hành động hợp lí trong mọi hoàn cảnh chứ không nhất thiết là cái gì cũng tự làm một mình mới là tự lập. Người lớn cần hiểu biết một cách khoa học về giáo dục tính tự lập cho trẻ. Sự cần thiết phải giáo dục tính tự lập cho trẻ ngay từ ba tuổi. Tin tưởng vào khả năng tự lập của trẻ, căn cứ vào đặc điểm riêng của từng trẻ để có bài tập rèn luyện tính tự lập phù hợp với trẻ. Có như vậy mới giúp trẻ trở thành người năng động, tự tin khi trưởng thành. 1. Phạm vi áp dụng của sáng kiến Sáng kiến “Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 4 – 5 tuổi ở trường mầm non Thới Xuân” tôi đã áp dụng tại trường Mầm non Thới xuân và được Ban giám hiệu và các chị em đồng nghiệp đánh giá rất cao vì các biện pháp dễ thực hiện và phù hợp với điều kiện thực tế của từng trường mầm non. 2. Điều kiện áp dụng và được triển khai, nhân rộng - Điều kiện áp dụng sáng kiến: + Trong công tác giảng dạy, người giáo viên phải yêu nghề mến trẻ, luôn tìm tòi các biện pháp áp dụng phù hợp, mới để tạo hứng thú cho trẻ thực hiện các kỹ năng. + Giáo viên phải nắm vững phương pháp, nội dung, hình thức tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ. Tổ chức hoạt động phải thoải mái không gò bó áp đặt trẻ. Luôn luôn động viên khuyến khích trẻ kịp thời khi trẻ tham gia mọi hoạt động. + Điều kiện về đầu tư về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng dạy học, tài liệu và bồi dưỡng chuyên môn, bồi dưỡng chuyên đề cho giáo viên về giáo dục tính tự lập ở trẻ. + Sự phối kết hợp về phía cha mẹ của trẻ về giáo dục tính tự lập cho trẻ ở lớp cũng như ở nhà. + Tuyên truyền rộng rãi đến các bậc phụ huynh bằng các hội thi, qua bảng tuyên truyền treo ngoài cửa lớp. Thường xuyên trao đổi thông báo tới các bậc phụ huynh về nội dung rèn kỹ năng tự lập theo kế hoạch.
  16. 15 - Sáng kiến được triển khai, nhân rộng: Đề tài này được dựa trên cơ sở thực tiễn mang tính khả thi, phù hợp với chức năng và nhiệm vụ được giao. Từ những biện pháp này các đồng nghiệp có thể cải tiến để phù hợp hơn khi áp dụng rộng rãi ở các đơn vị khác trong huyện Cờ Đỏ nhất là các đơn vị trường Mầm non và có thể cải tiến để áp dụng trong toàn thành phố. Trên đây là “ Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 4 – 5 tuổi ở trường mầm non Thới Xuân”. Bản thân tôi đã áp dụng mang lại hiệu quả. Nhưng sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự bổ sung, góp ý của hội đồng khoa học các cấp để tôi hoàn thiện hơn trong quá trình thực hiện chuyên môn của mình./. HỘI ĐỒNG CHẤM SKKN Thới Xuân, ngày 10 tháng 4 năm 2023 CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG Người viết Nguyễn Thị Thúy Liễu Lê Thị Duyên