SKKN Một số biện pháp giúp trẻ 5-6 tuổi phát triển kỹ năng giao tiếp trong trường mầm non NH 2021-2022
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp trẻ 5-6 tuổi phát triển kỹ năng giao tiếp trong trường mầm non NH 2021-2022", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_giup_tre_5_6_tuoi_phat_trien_ky_nang_g.doc
Nội dung text: SKKN Một số biện pháp giúp trẻ 5-6 tuổi phát triển kỹ năng giao tiếp trong trường mầm non NH 2021-2022
- A- PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Những năm đầu đời của trẻ là những năm quan trọng nhất cho sự phát triển toàn diện của đứa trẻ và ngôn ngữ cũng là một quá trình tâm lý diễn ra rất mạnh ở trẻ, ở giai đoạn này trẻ học và nắm được tiếng mẹ đẻ của mình. Do vậy mà phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ là rất quan trọng vì nó sẽ ảnh hưởng đến tư duy và quá trình học sau này. Giao tiếp là một hoạt động không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày, nhờ có giao tiếp mà tâm lý con người được hình thành và phát triển. Đặc biệt kỹ năng giao tiếp được coi là chìa khóa để mở cửa cho sự thành công của mỗi con người. Để mang lại sự thành công lớn trong cuộc sống và trong các hoạt động học tập, mỗi người phải tự tìm hiểu, học hỏi và rèn luyện để hình thành kỹ năng giao tiếp. Đối với trẻ mầm non cũng vậy, giao tiếp có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ, đó là khâu đầu tiên hình thành cho trẻ những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới của chủ nghĩa xã hội. Trẻ khoẻ mạnh nhanh nhẹn phát triển hài hoà cân đối, giàu lòng yêu thương, quan tâm nhường nhịn giúp đỡ mọi người, biết yêu thích và giữ gìn cái đẹp, ham hiểu biết thích tìm tòi khám phá thế giới xung quanh, hình thành một số kỹ năng cơ bản như nhẹ nhàng, khéo léo. Khả năng giao tiếp được hiểu như là kỹ năng truyền tải thông tin từ người này sang người khác với những công cụ để hỗ trợ đắc lực như ngôn ngữ nói, ngôn ngữ dùng để viết, ngôn ngữ cơ thể và cử chỉ. Đối với trẻ mầm non, giao tiếp không chỉ đơn thuần là trao đổi thông tin mà còn để trẻ có được sự phát triển não bộ, tư duy. Trẻ trong độ tuổi này thường có cách cư xử dựa vào bản năng và thường chỉ hành động theo những gì bản thân muốn. Chính vì vậy, người giáo viên phải thông qua giao tiếp để hướng trẻ đến những suy nghĩ đúng đắn, dạy trẻ biết cách ứng xử cho phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực xã hội. Đạo đức con người không phải có sẵn, mà phải được nhen nhóm ngay từ lứa tuổi mầm non, hay nói cách khác trẻ mầm non phải được hình thành những bước đi đầu tiên về nhân cách. Ngày nay, chúng ta không chỉ đào tạo những con người có trí thức có khoa học có tình yêu thiên nhiên, yêu tổ quốc, yêu lao động mà còn tạo nên những con người biết yêu nghệ thuật, yêu cái đẹp, giàu mơ ước và thích sáng tạo . Những phẩm chất ấy, con người phải được hình thành từ
- 2 lứa tuổi mầm non, lứa tuổi hứa hẹn là tương lai của đất nước, là thế hệ kế thừa cho mai sau. Chính vì vậy, trẻ phải cần được rèn luyện các kỹ năng giao tiếp cơ bản ngay từ khi còn nhỏ. Từ đó trẻ học được kỹ năng giao tiếp với mọi người xung quanh qua phát triển ngôn ngữ, trí tưởng tượng, hình thành nhân cách, đạo đức, đáp ứng được nhu cầu tình cảm ham hiểu biết của trẻ, dần dần cháu biết sử dụng ngôn ngữ chính xác, biểu cảm rõ ràng những ngôn ngữ, cử chỉ điệu bộ, tất cả những điều đó đều phụ thuộc nhiều vào cô giáo. Đây cũng là vấn đề không nhỏ ảnh hưởng đến việc rèn nề nếp và kỹ năng giao tiếp cho trẻ. Là một giáo viên dạy lớp trực tiếp chăm sóc – giáo dục trẻ, tôi không thể không suy nghĩ và nhận thấy rằng hình kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo hiện nay là việc làm cần thiết có vai trò to lớn trong quá trình phát triển toàn diện cho trẻ mẫu giáo. Chính vì thế, tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp trẻ 5 – 6 tuổi phát triển kỹ năng giao tiếp trong trường mầm non” cho các cháu, tô điểm vào tâm hồn các cháu những cái hay, cái đẹp, để các cháu trở thành những bông hoa thơm ngát, là con ngoan, trò giỏi, có hành vi văn minh đúng đắn và giao tiếp một cách lịch sự. 2. Giới hạn đề tài Các biện pháp giúp trẻ 5 – 6 tuổi phát triển kỹ năng giao tiếp trong trường mầm non Đề tài được áp dụng tại lớp Lá 1 trường Mầm Non Thạnh Phú 1 nơi tôi đang công tác Đề tài thực hiện trong năm học: 2021 - 2022 B - PHẦN NỘI DUNG 1. Thực trạng của vấn đề: Qua tình hình dạy trẻ từ thực tiễn tại lớp tôi đang phụ trách tôi nhận thấy rằng cần dạy kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non vì trong lớp có một số trẻ chưa nắm được kỹ năng giao tiếp bày tỏ một cách mạch lạc lời nói của mình, mắc nhiều lỗi trong khi giao tiếp như: nói không tròn câu, nói lắp, nói ngọng, trẻ rụt rè trong giao tiếp, không thích giao tiếp, bày tỏ cảm xúc khi giao tiếp thiếu ngữ điệu, vốn từ của trẻ còn hạn chế trẻ kém tự tin trong giao tiếp do điều kiện môi trường ở gia đình, và sự hòa nhập đột ngột khi đến môi trường nhà trường đầu tiên, cũng có thể là do phát triển tâm sinh lý của trẻ hoặc khả năng phát âm của bộ máy âm thanh của trẻ chưa được hoàn thiện kịp thời. Từ đó ảnh hưởng đến việc giúp trẻ sử dụng lời nói trong giao tiếp. Trong quá trình thực hiện đề tài này của lớp tôi đã gặp những thuận lợi và khó khăn sau. 1.1. Thuận lợi:
- 3 Năm học 2021 – 2022 tôi được phân công đứng lớp 5 – 6 tuổi. Tổng số lớp là 30 cháu, trong đó có 17 bạn nữ và 13 bạn nam. Phòng giáo dục, nhà trường đã thường xuyên tổ chức các chuyên đề về phát triển kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp cho giáo viên học tập và rút kinh nghiệm. - Bản thân tôi luôn tìm tòi, học hỏi, trau dồi kiến thức, có khả năng sáng tạo về đổi mới phương pháp và làm đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho việc dạy học thêm sinh động, hấp dẫn trẻ phục vụ chương trình mầm non mới. Đó là một lợi thế để áp dụng những phương pháp dạy học có hiệu quả. Trẻ nhanh nhẹn hoạt bát, ham hiểu biết điều này rất thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động. Đa số phụ huynh nhiệt tình sẵn sàng trao đổi và phối hợp cùng giáo viên trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. 1.2. Khó khăn, hạn chế: Một số cháu không học qua lớp mẫu giáo mầm, chồi. Giáo viên chưa chú ý phát triển kĩ năng giao tiếp ở trẻ. Hầu hết vẫn là lồng ghép không chủ định. Trẻ mẫu giáo vốn hiếu động mà nhu cầu phát triển kĩ năng giao tiếp ở trẻ thường diễn ra tự phát, khiến trẻ khó khăn trong việc tiếp nhận các phương pháp mới mà cô đưa ra. Bên cạnh đó, nhận thức của một số phụ huynh còn hạn chế, chưa cho trẻ đi học đều hàng ngày, chưa quan tâm nhiều đến việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ. Từ thực trạng trên, để trẻ có kỹ năng giao tiếp tốt, tôi tiến hành khảo sát khả năng giao tiếp của trẻ từ đầu năm. Kết quả khảo sát lần 1: Nội dung khảo sát Số trẻ Tỉ lệ% Số trẻ Tỉ lệ% đạt chưa đạt Trẻ có kỹ năng trong giao tiếp ứng xử với 17/30 56,6% 13 43,4% cô giáo, bạn bè và mọi người xung quanh Kỹ năng giao tiếp mạnh dạn tự tin 17/30 56,6% 13 43,3%
- 4 Kỹ năng giao tiếp biểu cảm phù hợp với 15/30 50% 15 50% ngữ cảnh Trẻ có thói quen lịch sự trong giao tiếp 19/30 63,3% 11 36,7% hằng ngày Lễ phép trong giao tiếp 21/30 70% 9 30% 1.3. Những yêu cầu cần đặt ra, đạt được Thường xuyên lắng nghe và trò chuyện cùng trẻ nhằm giúp trẻ mạnh dạn tự tin trong giao tiếp, quan tâm đến các kỹ năng của từng trẻ, động viên khuyến khích trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động. Cho trẻ thực hành kỹ năng giao tiếp thường xuyên, mọi lúc mọi nơi, trong các hoạt động Dạy trẻ kỹ năng giao tiếp bằng cách tạo môi trường giao tiếp cho trẻ Tạo môi trường làm việc nhóm cho trẻ hoạt động Kích thích khả năng nói tư duy, bày tỏ cảm xúc và quan điểm của mình Trẻ mạnh dạ tự tin trong giao tiếp, vốn từ phát triển phong phú hơn, tích lũy được nhiều kinh nghiệm sống, phát triển khả năng tư duy và tính sáng tạo cho trẻ trong mọi tình huống. 2. Những giải pháp thực hiện 2. 1. Biện pháp 1: Trò chuyện với trẻ thường xuyên Cha mẹ, cô giáo là những người tiếp xúc nhiều với trẻ hàng ngày. Mọi cử chỉ, hành vi, cách giao tiếp của người lớn trẻ đều quan sát và bắt chước theo. Chính vì vậy trong khi dạy kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non cần dạy trẻ phải lễ phép, kính trọng người lớn tuổi. Trong cách giao tiếp với trẻ nên sử dụng những từ “dạ”, “vâng”, đặt những câu hỏi rõ ràng, tránh nói trống không với trẻ. Trẻ đang tuổi mải chơi và rất mau quên, nên thường xuyên nhắc nhở trẻ hàng ngày để hình thành thói quen đi hỏi về chào cho trẻ và giúp trẻ rèn luyện cách giao tiếp: Khi thấy trẻ hứng thú và bắt đầu kể chuyện về gia đình hay bạn bè ra sao. Hãy dừng việc đang làm và chú ý lắng nghe trẻ, nhìn vào mắt trẻ hoặc gật đầu hoặc vỗ tay cổ vũ. Như vậy trẻ sẽ
- 5 cảm thấy mình được quan tâm, tán thưởng. Các con sẽ tự tin hơn trong những lần giao tiếp sau. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng nên tán thưởng. Lúc nào trẻ nói sai, hay mắc lỗi cần nhắc nhở trẻ luôn lúc đó. Chỉnh sửa lại câu từ cho trẻ khi đúng. Nói cho con hiểu như thế là không được và lặp đi lặp lại câu nói vừa điều chỉnh như vậy trẻ mới nhớ lâu. Hãy bình luận, phân tích, thảo luận với trẻ để trẻ hiểu thì việc giao tiếp của trẻ sẽ vô cùng dễ dàng. 2.2. Biện pháp 2: Làm gương cho trẻ noi theo Ở trường cô giáo là người mẹ thứ 2 đối với trẻ. Trẻ rất thích được cô yêu thương, gần gũi. Mọi hành động cử chỉ của cô trẻ sẽ chú ý và bắt chước theo. Vì vậy cô phải luôn luôn chuẩn mực trong mọi lĩnh vực: như cách giao tiếp với mọi người xung quanh, với phụ huynh, với trẻ hay tác phong của cô, hành động cử chỉ của cô . Cô luôn ân cần dịu dàng thương yêu trẻ, luôn tạo mối thân thiện giữa cô và trẻ. Cô là tấm gương cho trẻ thực hiện và noi theo. Ví dụ: Khi chúng ta dạy trẻ nói lời cảm ơn khi nhận được sự giúp đỡ của người khác hoặc khi người khác làm một điều gì đó cho mình. Nhưng trong mối quan hệ giữa các cô giáo và giữa cô với trẻ, người lớn không nói cảm ơn thì trẻ sẽ không hình thành ý thức của việc mình nên cảm ơn người khác. Hoặc khi 2 trẻ va vào nhau làm bạn đau, cô vừa dỗ trẻ khóc và nịnh “ bạn ấy lỡ thôi mà” đồng thời nhắc trẻ kia xin lỗi là bạn tha thứ ngay thôi. Giải thích cho trẻ hiểu: việc làm này nên làm vì mình đã gây ra lỗi thì phải biết nhận lỗi mình sẽ được tha thứ và cũng không nên quát mắng để trẻ sợ. Lần sau trẻ sẽ tự giác xin lỗi khi mình mắc phải sai lầm. Cô phải là tấm gương chuẩn mực trong từng lời nói, cử chỉ và trong hành động để trẻ học tập. Với trẻ cô giáo luôn là hình tượng để trẻ bắt chước, thậm chí trẻ coi lời nói việc làm của cô luôn đúng hơn cả bố mẹ. Thời gian trẻ ở trường nhiều hơn ở nhà nên việc giao tiếp với cô có thể nhiều hơn với bố mẹ, vì vậy mọi ảnh hưởng của cô đến trẻ là rất lớn. Mối quan hệ giữa các cô giáo với nhau, cô với trẻ, cô với phụ huynh được trẻ phản ánh ngay trong trò chơi phân vai, đây là lúc trẻ ôn lại những ngôn ngữ giao tiếp của cô. Qua đây trẻ sẽ tự hình thành năng lực giao tiếp cho bản thân. 2.3. Biện pháp 3: Phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ thông qua hoạt động học
- 6 Chúng ta đã và đang thực hiện trương trình giáo dục mầm non mới, lấy trẻ làm trung tâm, trong đó giáo viên chỉ là người hướng dẫn gợi mở. Cách dạy trẻ kể lại được câu truyện cô dạy cũng là trong giờ học hàng ngày hay những buổi dạo chơi, tham quan, lễ hội của quê hương gợi cho trẻ những điều thú vị ấn tượng của mình vào hình thức kể truyện được sinh động cũng là cách thúc đẩy, phát triển khả năng giao tiếp của trẻ.. Trong hoạt động học mỗi câu hỏi gợi mở cô đặt ra là đòn bẩy thúc đẩy suy nghĩ của trẻ và tạo cho trẻ biết xử lý tình huống, nhân vật trong câu truyện từ đó phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ rất mạnh dạn trước lớp với bạn bè, người xung quanh. Là giáo viên thường xuyên tiếp xúc với trẻ, tôi luôn quan tâm đến từng lời nói cử chỉ của mình để làm mẫu cho trẻ trong mọi hoạt động Với trẻ mầm non việc nghiên cứu tìm kiếm những hình ảnh động được thiết kế trên các phần mềm là rất cần thiết. Trẻ rất hứng thú và tò mò khi được quan sát các hình ảnh động. Đối với trẻ lớp tôi mỗi khi được xem những hình ảnh ở trong các đoạn video hay các đoạn phim hoạt hình . trong các hoạt động học dường như lúc đó ngôn ngữ mới của trẻ lại được bộc bạch ra và ngôn ngữ cũ lại trở thành một dụng cụ để trẻ giao tiếp với các bạn. Ví dụ: Trong giờ âm nhạc “ Đêm Pháo hoa” để trẻ tri giác đầy đủ cảnh bắn pháo hoa cũng như mầu sắc hình dạng của pháo hoa tôi đã cho trẻ xem đoạn videoclip về cảnh bắn pháo hoa do tôi downloads trên youtube. Kết quả sau khi xem đoạn video trẻ rất hứng thú tham gia phát biểu nhận xét về nội dung trong đó. Chính vì vậy, tôi đã xây dựng một số giáo án điện tử để kích thích, phát triển ngôn ngữ của trẻ qua đánh giá của trẻ về các nhân vật trong các hoạt động học (giáo án điện tử: Truyện Gấu con chia quà, Gấu con bị đau răng, Thơ Em yêu nhà em,Âm nhạc Đêm pháo hoa). Qua đó hình thành và củng cố kỹ năng giao tiếp cho trẻ. Đối với trẻ mầm non trẻ rất thích chơi tự do và được nói ra những ngôn ngữ mà trẻ mới học. Nhưng khi được người lớn quan tâm trò chuyện hỏi đến thì trẻ tỏ ra nhút nhát sợ hãi vì không biết mình nói gì nói đúng hay sai, vì vậy tôi phải luôn là người bạn thân nhất của trẻ, hiểu tâm lí và suy nghĩ của trẻ để gợi mở giúp trẻ mạnh dạn tham gia vào các hoạt động học. Trong các giờ hoạt động học tôi luôn là người gợi hỏi tạo cơ hội quan tâm đến từng cá nhân, cho trẻ lên phát biểu bài, đặt ra nhiều câu hỏi tạo nhiều tình huống cho trẻ tự tin được giao tiếp cùng cô.
- 7 Ví dụ: trong giờ văn học hay âm nhạc (tôi tập chung rèn các cháu còn nhút nhát trong giao tiếp và sợ đám đông): Cô thấy các con đọc thơ rất là hay và thuộc bài thơ rồi, bạn Hà Trinh có giọng đọc thơ rất là hay nhẹ nhàng tình cảm. Bạn Hà Trinh đọc lại bài thơ cho cả lớp cùng nghe nhé! Các con thấy bạn Hà Trinh đọc thơ như thế nào? Bạn đọc thơ rất hay diễn cảm, bạn Cẩm Tiên hơi nhút nhát một chút nhưng hôm nay bạn đã mạnh dạn đọc thơ cho cả lớp cùng nghe các bạn khác ai dũng cảm, mạnh dạn như bạn Hà Trinh lên đọc thơ nào? Qua đó tôi vừa rèn khả năng trình bày trước lớp, trước đám đông cho trẻ mà còn tạo điều kiện cho trẻ học tập nhau và có tinh thần cố gắng thi đua trong học tập. Như vậy trong tất cả các hoạt động học rất cần sự mạnh dạn tự tin giao tiếp của trẻ từ đó mới giúp cho trẻ tư duy phát triển và tự tin học bài. Cho trẻ xem tranh, kể chuyện theo nội dung bức tranh cũng là hình thức phát triển ngôn ngữ mạch lạc và giao tiếp mạnh dạn. Hoạt động làm quen với văn học là hoạt động chủ đạo giúp trẻ phát huy ngôn ngữ của mình. Cô giáo thường xuyên tổ chức hình thức kể truyện, đọc thơ đóng kịch cho trẻ tham gia. Ví dụ : Trong bài thơ “Em yêu nhà em”, “Thương ông”, “Lấy tăm cho bà”, “Mẹ của em”, Câu chuyện “Ba cô gái”, “Gấu con chia quà”, “Gấu con bị đau răng” trẻ rất thích đọc bởi nội dung của các bài thơ đó rất gần gũi với trẻ, phản ánh thực tế cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của trẻ và trẻ thật sự hào hứng khi đọc, diễn tả lại bài thơ và kể truyện cùng bạn về gia đình mình. Không những vậy, qua nội dung truyện và bài thơ trẻ còn đóng làm ông, bà bố mẹ, làm anh, chị trẻ thể hiện cử chỉ của các nhân vật đó giúp cho các bạn trong nhóm có thể tự học tập cách giao tiếp của nhau và tự tin thể hiện vai nhân vật mà mình thể hiện. Phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ thật cần thiết, nhưng đòi hỏi tôi phải luôn gần gũi trẻ, hiểu trẻ tạo mọi cơ hội để trẻ được nói thật thoải mái ở mọi nơi, vì khi nào trẻ sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ lưu loát thì trẻ mới có cơ hội phát triển toàn diện. Để phát triển tư duy cho trẻ, phản xạ nhanh, sử dụng ngôn ngữ chính xác, yêu cầu trẻ phải tri giác một sự vật, 1 hiện tượng và nói nhanh những gì trẻ thấy. Ví dụ : Trong trò chơi: “Nhìn hình ảnh kể sự việc” Tôi cho trẻ xem một số hình ảnh như trẻ khoanh tay, bê cốc bằng hai tay ..Hỏi trẻ: Đố các con biết hình ảnh này được nói như thế nào? Có thể sẽ có cháu nói: Cháu mời ông uống nước, cháu lấy nước cho ông .Qua đó tôi vừa có thể rèn cho trẻ kỹ năng giao tiếp với người thân, người lớn trong nhà và kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử cho trẻ.
- 8 Có thể nói trong tất cả các hoạt động học cô giáo phải là người sáng tạo tìm ra mọi hình thức để thúc đẩy phát triển tư duy, ngôn ngữ phát triển kỹ năng giao tiếp ở trẻ. Tóm lại hoạt động học là một hoạt động cần đến sự giao tiếp giữa cô và trẻ, giữa trẻ và các bạn một cách chủ động tự nhiên, là hoạt động giúp cho ngôn ngữ của trẻ được phát triển qua đó giúp trẻ tự tin trong giao tiếp biết cách ứng xử với người thân, bạn bè, cô giáo và những người xung quanh, góp phần hình thành và phát triển giao tiếp ngôn ngữ mạch lạc và nhân cách cho trẻ. 2.4. Biện pháp 4: Phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ thông qua hoạt động vui chơi Đối với trẻ mẫu giáo vui chơi đóng vai trò chủ đạo. Trong các hoạt động của trẻ mẫu giáo trong trường mầm non, mà thông qua hoạt động vui chơi trẻ sẽ có nhiều cơ hội giao tiếp với nhau đặc biệt là hoạt động góc. Chính vì vậy tôi đã chọn hoạt động góc để thực hiện biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ Ở tuổi mẫu giáo việc chơi nhóm, bạn bè là một nhu cầu bức bách. Đối với trẻ ở lứa tuổi này không phải chỉ thiếu bánh kẹo hay đồ chơi mà là thiếu bạn bè để cùng chơi với nhau, điều đó thường làm trẻ buồn chán. Không phải ai cũng thay thế bạn bè của trẻ. Nếu người lớn không thấy được nhu cầu đó của trẻ để tạo điều kiện cho chúng chơi với nhau thì đó là một sai lầm lớn trong giáo dục. Thực tế, kỹ năng sống cho trẻ ở lứa tuổi mầm non chỉ đơn giản là giao tiếp tốt, biết vui chơi với bạn, biết xin lỗi hoặc cám ơn đúng lúc, dễ thích nghi với môi trường khác nhau. Trẻ mầm non vốn từ của trẻ còn ít, nhiều trẻ theo nếp sống gia đình còn nói trống không, nói chưa đủ câu, cũng có lúc trẻ nói sai cho lên trẻ chưa mạnh dạn, vì vậy tôi đã nhẹ nhàng phân tích cho trẻ chứ không mắng phạt trẻ, như vậy sẽ tạo cho trẻ cảm giác tự tin, không xấu hổ trước đám đông. Những buổi đầu trẻ có thể bỡ ngỡ và tỏ ra thiếu tự tin.Tôi chú ý đến những biểu hiện tâm lý của trẻ khi chơi với bạn. Trò chơi thứ nhất là trò chơi phân vai theo chủ đề (chơi bán hàng, đóng vai bác sĩ, chơi cô giáo ) góp phần vào sự phát triển hài hòa cho trẻ và qua trò chơi sẽ củng cố những tri thức mà trẻ có. Và quan hệ qua lại giữa con người với con người sẽ rất tốt nếu người lớn thể hiện sự hứng thú của mình với trò chơi của trẻ, tham gia chơi cùng trẻ, chỉ bảo hướng dẫn hành động của trẻ trong khi chơi. Đa phần giáo viên của chúng ta hay làm thay trẻ trong giờ vui chơi. Các loại đồ chơi thường làm sẵn cho trẻ – bé chỉ sắp xếp theo ý cô. Tôi thay đổi theo phương thức lấy trẻ làm trọng tâm, vì giờ vui chơi là của cháu, cháu rất tha thiết
- 9 được suy nghĩ chơi theo sự hứng thú của mình Cô chỉ nên là người quan sát giúp ý kiến dưới hình thức cùng hòa nhập chơi với cháu. Qua trò chơi cửa hàng ăn uống. Cô hướng dẫn gợi mở cho trẻ là người bán hàng con phải làm những công việc gì. Con phải giao tiếp với khách hàng như thế nào Trẻ được tiếp xúc với mọi người nhiều hơn, đi mua hàng, nấu món ăn mời khách, xếp bàn ăn, mời chào khách. Còn khách hàng thì phải làm những công việc gì, đến cửa hàng ăn uống con sẽ yêu cầu chủ cửa hàng làm món ăn gì? Khi ăn xong con phải làm gì? Trẻ được tiếp xúc giao tiếp nhiều cách khác nhau, ngôn ngữ phát triển, trẻ mạnh dạn hơn khi tham gia hoạt động hàng ngày cô uốn nắn cho trẻ từng câu nói như khi chơi nấu ăn cô sẽ gợi ý cho trẻ nói “ Mẹ ơi con giúp mẹ vo gạo nhé, con chuẩn bị chảo để mẹ rán cá nhé, hôm nay nhà mình làm cơm mời khách nấu những món gì. Cô hướng dẫn trẻ làm mẹ nói với con phải nấu đủ 4 nhóm thực phẩm, cứ như vậy cô dần dần phát triển giao tiếp giữa các trẻ với nhau, cho trẻ được hoá thân vào những người gần gũi quanh trẻ như ông bà, bố mẹ, cô giáo, công an, bộ đội, công nhân, bác sĩ, y tá, phi công Trẻ lớp tôi rất thích được cùng cô giáo đóng vai những người thân trong gia đình, cô giáo luôn tạo cho trẻ sự gần gũi cởi mở trẻ sẽ được sử dụng lời nói, ngôn ngữ mạch lạc, rõ ràng hơn và tự tin kể lại những gì mà trẻ biết, nhìn và nghe thấy. Khi tham gia góc văn học trẻ được hoá thân vào các nhân vật trong truyện, trẻ tự phân vai để diễn tả lại ngôn ngữ giọng điệu của các nhân vật. Điều quan trọng cô giáo phải luôn gợi mở, không áp đặt trẻ gợi ý cho những trẻ nhút nhát học tập các bạn mạnh dạn đóng vai . Ví dụ: Trẻ đóng kịch “ Tích Chu”: khi đó trẻ được tự mình làm các diễn viên hóa thân thành Tích Chu và Bà Trẻ sẽ hiểu được tình cảm bà cháu, các câu nói của người bà nói với người cháu và cách nói của Tích Chu với Bà và Cô tiên. Qua hoạt động đóng kịch trẻ không những được làm những nhân vật mà trẻ yêu thích còn học hỏi và tích lũy được những kỹ năng sống đặc biệt là kỹ năng giao tiếp. Cũng có khi trẻ dùng ngôn ngữ của mình để giao tiếp cùng các con vật như anh chị trò chuyện với các em, trao đổi với bạn để hoàn thành một nhiệm vụ được giao. Ví dụ: Qua góc chơi xây dựng và góc chơi bán hàng chủ đề “ Nước và hiện tượng thiên nhiên”. Cô giáo gợi ý cho trẻ xây dựng công viên nước, và các kỹ sư sẽ xây những gì trong công viên nước? Trẻ sẽ thảo luận trong nhóm và phân công nhau mỗi bạn một nhiệm vụ. Xây xong công viên rồi các kỹ sư có đói bụng không? Các kỹ sư hãy đến của hàng ăn uống ăn cơm đi, các bác sẽ gọi
- 10 mond như thế nào?, Trước khi ăn các bác phải làm những gì?.. Cứ như vậy cũng giúp cho ngôn ngữ của trẻ phong phú hơn, trẻ sẽ mạnh dạn hơn khi giao tiếp với mọi người xung quanh. Tuy nhiên, cô giáo cũng có thể trở thành một người bạn cùng chơi tuyệt vời của trẻ. Tôi luôn dành những khoảng thời gian để chơi đùa,hướng dẫn trẻ, và đây cũng là cơ hội để hiểu những thiên hướng cá nhân của trẻ và giúp cho định hướng những kỹ năng giao tiếp. Tôi không hề áp đặt hay yêu cầu quá cao so với khả năng của trẻ mà tôi luôn luôn tôn trọng quyền tự do trong khi chơi, tự do sáng tạo của trẻ.Tôi biết nếu đặt quá nhiều kỳ vọng hay yêu cầu đối với trẻ, thì trẻ sẽ cảm thấy áp lực và dễ trở nên tự ti. Thay vào đó tôi luôn lắng nghe, quan sát và cố gắng hiểu trẻ để trẻ có điều kiện tốt nhất phát triển. Qua thực tế tôi thấy việc tạo ra một không khí thoải mái, đầm ấm và việc đưa các trò chơi, tạo các tình huống, trong việc giao tiếp với trẻ là cách giúp trẻ giao tiếp tích cực nhất. Sau khi thực hiện biện pháp này tôi thấy lớp tôi không còn tình trạng đồ chơi của ai người đó chơi, góc nào chỉ chơi ở góc đó nữa, mà trẻ đã biết liên kết các vai chơi theo nhóm chơi, góc chơi với nhau thành thạo theo chủ đề chơi . 2.5. Biện pháp 5: Tạo môi trường giáo dục và giao tiếp Tạo môi trường cho trẻ phát triển ngôn ngữ giao tiếp rõ ràng, mạch lạc là rất cần thiết trong chương trình đổi mới. Phải tạo môi trường trong và ngoài lớp để trẻ có thể dễ dàng tiếp cận mọi lúc mọi nơi. Tôi đã định hướng rõ đâu là công việc thuộc nhà trường, môi trường thuộc trách nhiệm của giáo viên. Môi trường trong lớp, tôi xây dựng một góc thư viện cho trẻ hoạt động đọc, kể chuyện...Thư viện đồ chơi có nhiều góc chơi giúp trẻ học mà chơi, chơi mà học, đầu tư ở góc thư viện với đồ chơi, nhiều loại sách từ nhà trẻ đến lớp mẫu giáo theo chủ đề, chủ điểm phục vụ nội dung chương trình giáo dục của ngành mầm non. Bên cạnh đó tôi xây dựng góc văn học bằng cách tận dụng những bức tranh tường sử dụng những bức tranh đó bằng cách gợi mở cho trẻ cùng nhau kể chuyện về tranh, hoặc có các con vật trong sân trường tôi cũng gợi mở cho trẻ thi nhau kể chuyện về các con vật đó hình thức này đã giúp cho ngôn ngữ của trẻ được mở rộng về vốn từ và phát triển khả năng phát âm của trẻ. Đưa hình ảnh nhân vật của các câu chuyện, bài thơ,... nổi bật vào góc văn học và một số góc trong và ngoài lớp học thể hiện trên các mảng tường. Vẽ và sưu tầm một số bộ truyện tranh, thơ ngoài chương trình để đưa vào giảng dạy, vận động phụ huynh đóng góp truyện tranh,thơ đưa vào góc văn học cho trẻ hoạt động thường
- 11 ngày. Những câu chuyện,bài thơ được thể hiện trên các mảng tường trong không gian to đã giúp trẻ dễ tri giác, trẻ được thảo luận, bàn bạc về câu chuyện, bài thơ đó. Từ đó trẻ biết vận dụng những kiến thức đó vào kể chuyện sáng tạo,đọc thơ diễn cảm,... một cách dễ dàng. Ngoài ra, tôi còn đi sâu làm một số đồ dùng trực quan cho trẻ hoạt động như: một số con rối dẹt có bánh xe, có cử động tay chân và tận dụng những truyện tranh cũ, những sản phẩm vẽ của trẻ, cắt dán bồi bìa cứng cho trẻ ghép tranh kể truyện, đọc thơ, hoặc cắt dời các con vật cho trẻ tự chọn các con vật đó để kể chuyện theo ý tưởng của mình. Điều đặc biệt hơn nữa tôi đầu tư suy nghĩ và làm ra các loại rối tay cho trẻ hoạt động. Thực tế tôi nhận thấy đồ dùng làm bằng rối tay hầu như ở các lớp không có cho trẻ hoạt động, qua nghiên cứu tìm tòi tôi đã vận dụng làm từ các quả bóng, chổi rơm, đĩa nhựa đồ chơi để làm mặt con rối sau đó dùng vải hoặc len móc làm váy, thân tay để khi trẻ sử dụng không bị thô và cứng. Các khuôn mặt có thể thay đổi tuỳ theo nội dung, nhân vật của câu chuyện trẻ kể. Môi trường giao tiếp và sự tác động của người lớn rất quan trọng với sự phát triển khả năng giao tiếp của trẻ. Tạo môi trường dạy kỹ năng giao tiếp cho trẻ em và giúp cho trẻ có cảm giác thoải mái, có nhu cầu giao tiếp bằng lời. Có nghĩa là trong tất cả mọi hoạt động của trẻ, để rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non mỗi giáo viên luôn phải dùng nhiều trò chơi, câu đố để kích thích trẻ tham gia, qua đó giúp trẻ được tự nhiên hơn. Đối với những trẻ còn nhút nhát, ít nói, chưa mạnh dạn thì các cô cần phân cho các em vào nhóm trẻ mạnh dạn hơn. Nói chuyện với trẻ nhiều hơn đồng thời cũng để trẻ có thể chia sẻ những suy nghĩ của chính bản thân trẻ. Trong quá trình luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh các cô cần thay đổi ngữ điệu, giọng nói cho phù hợp với từng hoàn cảnh giao tiếp. Trên lớp các cô giáo nên gọi tên trẻ, khuyến khích trẻ xưng tên và gọi tên người khác khi giao tiếp. Môi trường giao tiếp và sự tác động của người lớn rất quan trọng với sự phát triển khả năng giao tiếp của trẻ. Trẻ cần một môi trường xã hội vừa khuyến khích vừa hỗ trợ trẻ chia sẻ Một số biện pháp đơn giản nhưng hiệu quả giáo viên có thể thực hiện để kích thích và hỗ trợ giao tiếp của trẻ bao gồm: luôn đáp lại các biểu hiện và nỗ lực giao tiếp của trẻ (dù bằng lời nói hay âm thanh, cử chỉ, ánh nhìn ) thường xuyên trò chuyện với trẻ và lắng nghe trẻ, khai thác tạo ra các tình huống hàng ngày để giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp, giúp trẻ nhận
- 12 biết tác dụng và cách sử dụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ, giáo viên nhận biết và tôn trọng tình cảm ở đứa trẻ đồng thời dạy trẻ cách thể hiện mong muốn và tình cảm của mình; diễn đạt thành lời các hoạt động thường ngày của giáo viên và trẻ ở trường mầm non, giáo viên cần là hình mẫu tốt cho trẻ (hình mẫu ở đây được hiểu cả về phát âm, sử dụng từ và câu cũng như thái độ, lịch sự và nhã nhặn trong giao tiếp). Giáo viên cần thực hiện tốt cách ứng xử và giao tiếp với trẻ trong các hoạt động hàng ngày: Nói chuyện với trẻ trong quá trình dạy dỗ. Cần thay đổi ngữ điệu và giọng nói sao cho phù hợp với nội dung và hoàn cảnh khi giao tiếp. Gọi tên trẻ và khuyến khích trẻ xưng tên cũng như gọi tên người khác khi giao tiếp. Khuyến khích trẻ bắt chước phát âm những từ mới. Giúp trẻ mở rộng câu. Làm mẫu những hành động khi giao tiếp kèm theo lời nói để trẻ học theo: chào, tạm biệt, đồng ý, cảm ơn, Sử dụng các đồ dùng học tập, đồ chơi để làm phương tiện phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ: giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (nét mặt, cử chỉ, các điệu bộ khi chơi, ) Hướng dẫn cho trẻ biết cách dùng các câu hỏi và câu trả lời khi giao tiếp như Đâu? Cái gì? Con gì? Làm gì? Ai đây? Và kiên nhẫn đợi bé trả lời câu hỏi. Cùng trẻ chơi những trò chơi dân gian, đọc các bài thơ, bài đồng dao nhằm tạo sự thân thiết giữa cô và trẻ. Cùng trẻ đọc sách, xem tranh. Kết hợp với việc hỏi han và trò chuyện về các nhân vật trong sách, trong tranh, giúp trẻ bộc lộ cảm xúc bằng điệu bộ, cử chỉ, ánh mắt, Sử dụng các chú rối để trò chuyện hay kể chuyện cho trẻ nghe. Tập cho trẻ giao tiếp với các bạn cùng trang lứa và mọi người xung quanh để rèn cho trẻ sự mạnh dạn, tính cởi mở khi giao tiếp. Là một người giáo viên sư phạm mầm non, hãy luôn trang bị cho mình một kỹ năng ứng xử, giao tiếp khéo léo, tâm lý để làm một tấm gương sáng cho trẻ học tập, noi theo. 2.6. Biện pháp 6: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền với phụ huynh giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp
- 13 Giáo dục mầm non đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa gia đình và nhà trường. Nếu ở trên lớp cô có cố gắng dạy trẻ như thế nào đi nữa mà về nhà không có sự phối kết hợp giáo dục của phụ huynh thì cũng không thể đạt kết quả cao được. Và để nâng cao việc phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ thì sự kết hợp giữa gia đình và nhà trường là một việc làm hết sức cần thiết bởi tôi nhận thấy rằng tất cả mọi khó khăn trong học tập không thể thiếu được vai trò giải quyết khó khăn của phụ huynh. Vì vậy, ngay từ buổi đầu họp phụ huynh tôi đã phân tích sâu sắc về tầm quan trọng của việc dạy kĩ năng sống cho trẻ, đặc biệt là kĩ năng giao tiếp để phụ huynh có thể nắm bắt được. Vì sao nói đây là kĩ năng quan trọng, vì kĩ năng này có tốt, trẻ mới có thể dễ dàng tham gia, hòa mình vào các hoạt động khác trong cuộc sống hàng ngày. Bên cạnh việc rèn kĩ năng cho trẻ thông qua các hoạt động đưa ra trên lớp. Tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh về tình hình tiếp thu và quá trình thể hiện của từng cháu. Việc này giúp phụ huynh học sinh nắm rõ được khả năng của con em mình và có hướng cùng cô giáo dục trẻ. Với những cháu còn yếu kém tôi mạnh dạn trao đổi vấn đề cùng phụ huynh về các hoạt động, từ đó cùng các bậc phụ huynh giáo dục sâu hơn, kĩ hơn, có cảm xúc và cách thể hiện rõ ràng hơn, nhờ đó trẻ sẽ có hứng thú hơn khi cô đưa ra hoạt động. Ngày nay, cuộc sống có nhiều thay đổi, nhiều gia đình do quá bận rộn mà không có thời gian chăm sóc con cái, thậm chí thời gian trò chuyện với con cũng rất ít. Nhiều khi, ngoài thời gian đi học, trẻ thường tự chơi với đồ chơi hoặc chơi điện tử, xem phim hoạt hình Đây là một trong những yếu tố dẫn đến việc trẻ tự kỉ, không hòa đồng, không thích tham gia vào các hoạt động bình thường. Ví dụ: Lớp tôi có một trẻ cá biệt, thời kì đầu khi mới đến lớp, cháu rất nhút nhát, ngày nào cũng khóc mặc dù đã là học sinh 4 tuổi. Ngoài việc ngồi cạnh cô trong tất cả các hoạt động, cháu ít nói và không tham gia vui chơi hay trò chuyện cùng bất kì thành viên nào của lớp. Để tránh việc cháu tự cô lập mình, tôi đã trò chuyện và trao đổi cùng phụ huynh của cháu để có thể nắm rõ được những đặc điểm tâm sinh lí của cháu khi ở nhà. Sau khi có được những thông tin đầy đủ, tôi chia sẻ với phụ huynh cháu về những hiểu biết và biện pháp của tôi để khiến cháu hòa đồng hơn như: Ở lớp, tôi thường ghép cháu với nhóm bạn mạnh dạn và nhanh nhẹn để cháu được các bạn cùng hoạt động, tăng cường trò chuyện với cháu, đưa cháu vào các hoạt động tập thể của lớp.
- 14 Ngoài ra, tôi cũng yêu cầu phụ huynh cần trò chuyện với cháu về những việc cháu đã làm trên lớp hàng ngày cùng bạn và cô giáo. Qua một thời gian, cháu đã mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp cùng cô và bạn. Qua quá trình đó, phụ huynh sẽ nhận ra được tầm quan trọng của việc giáo dục trẻ ở nhà. Khuyến khích trẻ học tập trong những thời gian rỗi ở nhà bằng cách trò chuyện giao tiếp với mọi người xung quanh. Nhờ vậy kĩ năng của trẻ sẽ tăng lên rõ ràng. 3. Tính hiệu quả: * Về phía trẻ Sau thời gian thực hiện biện pháp này tôi thấy khả năng giao tiếp của trẻ đã tự tin và mạnh dạn hơn trong giao tiếp. Vốn từ của trẻ đã phong phú hơn rất nhiều. Trẻ tự đề nghị với cô và các bạn về những điều trẻ muốn. Khả năng giao tiếp ứng xử của trẻ tốt hơn. Trẻ biết cách sắp xếp trật tự các từ rõ ràng, mạch lạc trong câu. Biết cách giao tiếp lễ phép với cô giáo bạn bè và mọi người xung quanh. Kết quả giáo dục phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ được thể hiện rõ qua bảng so sánh sau: Khảo sát lần 2 Trước khi chưa Sau khi áp dụng áp dụng biện biện pháp Nội dung khảo sát pháp Số trẻ Tỷ lệ % Số trẻ Tỷ lệ % Trẻ có kỹ năng trong giao tiếp ứng xử với 17/30 56,6% 27/30 90% cô giáo, bạn bè và mọi người xung quanh Kỹ năng giao tiếp mạnh dạn tự tin 17/30 56,6% 26/30 86,6% Kỹ năng giao tiếp biểu cảm phù hợp với 15/30 50% 25/30 83,3% ngữ cảnh Trẻ có thói quen lịch sự trong giao tiếp 19/30 63,3% 27/30 90%
- 15 hằng ngày Lễ phép trong giao tiếp 21/30 70% 28/30 93,3% * Về phía giáo viên Giáo viên nắm chắc hơn về phương pháp tiến hành giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ. Có nhiều giải pháp kinh nghiệm trong việc rèn cho trẻ kỹ năng giao tiếp cho trẻ đạt hiệu quả. Giáo viên tự tin hơn, gần gũi, hiểu đặc điểm tâm lý của trẻ hơn trong quá trình rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ. C- PHẦN KẾT LUẬN Qua thời gian sử dụng các biện pháp rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ tại lớp. Tôi nhận thấy trẻ không chỉ tiến bộ về mặt kỹ năng giao tiếp mà còn phát triển cả kỹ năng ngôn ngữ, tình cảm xã hội cũng như tư duy, quan hệ tình cảm xã hội, khả năng nhận thức và kỹ năng sống. Trẻ mạnh dạn, tự tin và có những kĩ năng giao tiếp cơ bản với mọi người xung quanh đồng thời hình thành ở trẻ thói quen văn minh góp phần chuẩn bị tâm lí để trẻ sẵn sàng đi học. Giáo viên có tinh thần cần trách nhiệm trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Thân thiện gần gũi với trẻ, có sự tâm huyết với nghề, yêu nghề. Có trình độ năng lực làm việc, thường xuyên tìm tòi, sáng tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy. Linh hoạt trong việc xử lí các tình huống sư phạm, tạo điều kiện cho trẻ phát triển một cách toàn diện nhất. Có đủ đồ dùng đồ chơi phục vụ cho các hoạt động của trẻ. Và đặc biệt là quan tâm đến xây dựng môi trường giáo dục trong và ngoài lớp theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Tận dụng các nguyên vật liệu phế thải làm đồ dùng đồ chơi tự tạo nhằm tạo môi trường giáo dục cho trẻ đa dạng phong phú. Để làm tốt việc giáo dục phát triển giao tiếp cho trẻ, đòi hỏi cô giáo cần có tâm huyết với nghề và quan trọng hơn nữa là sự phối hợp đồng bộ giữa nhà trường và gia đình. 1. Phạm vi áp dụng của Sáng kiến tại cơ quan, đơn vị Sáng kiến đã được áp dụng vào thực tế công tác giáo dục trẻ tại trường Mầm non Thạnh Phú 1 có hiệu quả, nên đảm bảo tính khả thi, phù hợp điều kiện
- 16 thực tế của nhà trường, các biện pháp đã được triển khai và nhân rộng để thực hiện trong các lớp mẫu giáo và trong các hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ và đạt hiệu quả cao. 2. Điều kiện áp dụng và được triển khai, nhân rộng Các biện pháp trong sáng kiến được tôi áp dụng trên trẻ lớp tôi với những điều kiện về khả năng, trình độ và năng lực của giáo viên và cơ sở vật chất có sẵn của lớp học. Sáng kiến đã được áp dụng tại trường Mầm non Thạnh Phú 1, trong các lớp mẫu giáo, các biện pháp đã được nhân rộng và phát huy hết những ưu điểm, bởi vì các biện pháp dễ thực hiện và phù hợp với tình hình thực tế địa phương. Như vậy, sáng kiến có thể vận dụng tốt ở các đơn vị trường mầm non trong huyện Cờ Đỏ và thành phố Cần Thơ. Thạnh phú,ngày 22 tháng 04 năm 2022 Người viết Dương Thị Mai Lan XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CẤP TRƯỜNG NĂM HỌC 2021 – 2022
- 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. K- Haino Dich - Dạy trẻ học nói như thế nào. NXB Giáo dục Hà nội (Năm 1990) 2. Nguyễn Văn Lũy – Giáo trình giao tiếp với trẻ em. NXB Đại Học Huế (Năm 2006) 3. Bùi Sao – Sách kỹ năng giao tiếp cho bé. NXB Thanh niên (Năm 2021) 4. Nhiều tác giả - Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non (5- 6 tuổi). NXBGD Hà nội (năm 2007) 5. Nguyễn Thị Oanh – Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ MG. ĐHQG Hà nội (Năm 2000) 6. Đinh Hồng Thái – Giáo trình phương pháp phát triển lời nói trẻ em. NXB ĐHSP Hà nội (Năm 2005) 7. Nguyễn Ánh Tuyết – Tâm lí học mầm non. ĐHQG Hà nội (Năm 2003)



