SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 25-36 tháng thông qua giờ nhận biết tập nói ở trường mầm non Thới Xuân NH 2022-2023 (Bùi Thị Mỹ Hạnh)
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 25-36 tháng thông qua giờ nhận biết tập nói ở trường mầm non Thới Xuân NH 2022-2023 (Bùi Thị Mỹ Hạnh)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_phat_trien_ngon_ngu_cho_tre_25_36_than.docx
Nội dung text: SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 25-36 tháng thông qua giờ nhận biết tập nói ở trường mầm non Thới Xuân NH 2022-2023 (Bùi Thị Mỹ Hạnh)
- MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 25 - 36 THÁNG THÔNG QUA GIỜNHẬN BIẾT TẬP NÓI Ở TRƯỜNG MẦM NON THỚI XUÂN A – PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài * Cơ sở lý luận Đối với trẻ thì những năm đầu đời luôn có vai trò vô cùng quan trọng tới việc hình thành tính cách, phát triển tư duy, sáng tạo bởi vì trẻ ở độ tuổi này có khả năng tiếp thu, học tập, khám phá tất cả mọi thứ xung quanh và bắt chước tiếp nhận tất cả những gì người lớn hành động, truyền đạt để hình thành sự hiểu biết và giao tiếp với thế giới xung quanh, mọi ngôn ngữ và hành động của trẻ đều chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường sống nhưng có nhiều người cho rằng việc cho trẻ đi học mầm non chỉ là việc trông giữ trẻ trong giai đoạn nhà trẻ 25 – 36 tháng. Ngoài việc nuôi dưỡng của bố mẹ, trường mầm non chính là môi trường xã hội đầu tiên để trẻ tiếp xúc, đến trường cô giáo là người gần gũi với trẻ, nuôi dưỡng, chăm sóc dạy dỗ trẻ nên sự ảnh hưởng của các cô đến trẻ là rất lớn, trẻ có thích đến trường hay không? Trẻ có tự tin khi đi học hay không? Trẻ có hòa đồng với các bạn hay không? Trẻ có tích cực sáng tạo hay không? Điều này đều phụ thuộc vào các cô giáo. Chính vì vậy người giáo viên mầm non là người chịu nhiều áp lực nhất. Họ không chỉ đòi hỏi phải có kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ mà phải có tình yêu thương con trẻ, hiểu được tâm sinh lý của trẻ ở từng độ tuổi. Đặc biệt ở lứa tuổi 25 - 36 tháng, giai đoạn này người ta gọi là giai đoạn tiền ngôn ngữ, ở giai đoạn này ngôn ngữ của trẻ bắt đầu hình thành và phát triển mạnh nhưng nhìn chung vẫn chưa được quan tâm nên việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một việc khó khăn vì ở lứa tuổi này trẻ đang còn nói ngọng, chưa chuẩn cô là người củng cố, uốn nắn trẻ nói từng câu, từng từ. Nhận thức được điều đó tôi luôn suy nghĩ tìm tòi để tìm ra các hình thức, biện pháp giúp trẻ phát triển lời nói một cách tốt nhất. * Cơ sở thực tiễn Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 25 - 36 tháng tuổi trong trường mầm non. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy tôi luôn nhận thức được tầm quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ trong trường mầm non. Nhằm tìm ra những biện pháp tốt nhất để phát ttriển vốn từ cho trẻ thông qua giờ nhận biết tập nói. Qua đó gớp phần nâng cao trình độ nghiệp vụ sư phạm cho bản thân và từ đó gớp phần tích cực trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ. Giáo dục mầm non được xem là cấp học đầu tiên và quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển ngôn ngữ, thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ. Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình chăm sóc giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này, đặc biệt là việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Nhờ có ngôn ngữ trẻ có thể nói lên những suy nghĩ, mong muốn của mình và mở rộng khả năng giao tiếp trong học tập cũng như vui chơi.
- 2 Qua khảo sát hầu hết các giáo viên mầm non đều cho rằng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 25 - 36 tháng thông qua giờ nhận biết tập nói nhờ có ngôn ngữ trẻ có thể nói lên những suy nghĩ, mong muốn của mình và mở rộng khả năng giao tiếp trong học tập cũng như vui chơi. Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 25 - 36 tháng thông qua giờ nhận biết tập nói ở trường mầm non Thới Xuân”. 2. Giới hạn đề tài Khi tiến hành nghiên cứu tôi vận dụng vấn đề để thực hiện đề tài “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 25 - 36 tháng thông qua giờ nhận biết tập nói tại trường Mần Non Thới Xuân” vào đối tượng trẻ 25 - 36 tháng, với số lượng 25 cháu của lớp mình phụ trách. Ngoài ra biện pháp này có thể áp dụng rộng rãi đối với trẻ 25 - 36 tháng tuổi tại các trường mầm non trong và ngoài huyện sẽ góp phần nâng cao ngôn ngữ cho trẻ. Tuy nhiên, việc áp dụng và khai thác còn tùy thuộc vào đặc điểm, điều kiện của mỗi trường mà vận dụng cho phù hợp. B. PHẦN NỘI DUNG 1. Thực trạng vấn đề Năm học 2022 – 2023 tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công dạy lớp Nhà trẻ 25 - 36 tháng. Qua khảo sát chất lượng đầu năm cho thấy khả năng ngôn ngữ của trẻ còn thấp, khả năng giao tiếp về ngôn ngữ lời nói của trẻ gặp rất nhiều khó khăn, nhiều trẻ đang còn nói ngọng, nói lắp, và một số trẻ chưa biết nói. Tôi tiến hành nghiên cứu tài liệu tự tìm tòi cho mình nhiều giải pháp khác nhau để giúp trẻ mạnh dạn, tự tin hơn trước mọi người. Làm phong phú vốn từ cho trẻ giúp trẻ nói đủ câu, rõ ràng mạch lạc. * Thuận lợi: - Trường Mầm non Thới Xuân là một trong những trường đã đạt trường chuẩn Quốc gia nhiều năm nay. Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, Phòng Giáo dục và Đào tạo, cũng như Ban giám hiệu nhà trường đã chỉ đạo sát xao về chuyên môn, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học cho các bé từ độ tuổi nhà trẻ đến mẫu giáo. - Nhà trường có đội ngũ giáo viên trẻ, khoẻ, có trách nhiệm, nhiệt tình trong công việc. Được trẻ yêu quý và các bậc phụ huynh yên tâm gửi con. Giáo viên nắm vững phương pháp dạy học và tổ chức hoạt động giáo dục sáng tạo. - Bản thân được Ban giám hiệu nhà trường quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi để tôi được học hỏi, tiếp thu những phương pháp, hình thức dạy học tốt nhất. Để từ đó đem lại kết quả cao và hứng thú cho môn học. Phòng học sạch sẽ dễ trang trí các khu vực hoạt động của trẻ, phù hợp với chủ đề. Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi cơ bản đó vẫn còn có những khó khăn sau: * Khó khăn: - Với đặc điểm sinh lý của trẻ 25 - 36 tháng chưa phát triển nhiều về ngôn ngữ do đó khả năng giao tiếp về ngôn ngữ lời nói của trẻ gặp rất nhiều khó khăn, nhiều trẻ đang còn nói ngọng, nói lắp, và một số trẻ chưa biết nói.
- 3 - Trẻ đang sống trong môi trường được ông, bà, bố mẹ yêu thương chăm sóc, khi đến trường là môi trường hoàn toàn mới lạ cho nên trẻ chưa mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp. 2. Những biện pháp thực hiện 2.1 Biện pháp tạo môi trường lớp học gần gũi, thân thiện, phù hợp với chủ đề. Có thể nói, môi trường cho trẻ hoạt động có tầm quan trọng rất lớn, tạo điều kiện cho trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động, đặc biệt là đối với hoạt động nhận biết tập nói. Bởi vì đối với trẻ mầm non nói chung và lứa tuổi nhà trẻ nói riêng khi trẻ mới bắt đầu đi học còn bỡ ngỡ, lạ lẫm, trẻ quấy khóc, nhớ nhà do đó cô cho trẻ tập làm quen với việc học cũng đầy gian nan, vất vả vì bản thân trẻ còn nói ngọng, chưa mạnh dạn, tự tin, nói chưa đủ câu. Khi đó cô giáo là người nắm được đặc điểm tâm lý của trẻ. Ngoài việc tạo cho trẻ cảm giác gần gũi, được yêu thương, tôi còn chú trọng tạo cho trẻ môi trường lớp học thân thiện, gần gũi để trẻ có cảm giác lớp học giống như ngôi nhà thứ hai của bé. Như chủ đề “Bé và các bạn” Nắm được tâm lý của trẻ trong những ngày đầu tiên đi học, vì vậy ngay từ chủ đề đầu tiên của năm học “Bé và các bạn”. Tận dụng các nguyên, vật liệu như giấy xốp, vải dạ, vỏ ngao, tranh- ảnh, sách- báo Tôi cắt, dán, sưu tầm các hình ảnh về cô giáo, bé và các bạn, các đồ dùng, đồ chơi ở trường mầm non để trang trí các khu vực hoạt động trong lớp. Để khi đón trẻ vào lớp cô cùng trò chuyện với trẻ về trường, lớp. Trong quá trình trẻ cùng cô trang trí lớp học thông qua các hình ảnh đó giáo viên giúp trẻ nhận biết và gọi tên. Như chủ đề “Những con vật đáng yêu.” Tôi chia làm 3 nhánh: “Những con vật nuôi trong gia đình”, “Những vật sống dưới nước”, “Những con vật sống trong rừng”, nhằm giúp trẻ dễ dàng nhận biết tên gọi và đặc điểm của các con vật. Hình ảnh các con vật lần lượt trang trí theo từng nhánh nhỏ. Đối với chủ đề nhánh “Các con vật nuôi trong gia đình”, tôi cùng trẻ chuẩn bị tranh ảnh từ hoạ báo, tạp chí để trang trí. Trong quá trình thực hiện tôi giúp trẻ nhận biết, tập nói bằng cách đặt câu hỏi cho trẻ gọi tên, nhận biết đặc điểm chính của con vật: Đây là con gì? (Con mèo), con mèo có những bộ phận gì? (có râu, có đuôi), con mèo kêu như thế nào? (mèo kêu meo meo); Con gà trống: có mào đỏ, có mỏ, gáy ò ó o. Từ đó phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Ngoài trang trí mảng chủ đề cho trẻ hoạt động, tôi còn chú trọng trang trí các khu vực chơi phù hợp với không gian lớp mình như: Khu vực hoạt động với
- 4 đồ vật, thao tác vai... Các khu vực chơi được bố trí hợp lí, thuận tiện khi trẻ hoạt động, được trang trí đơn giản, ít chi tiết nhưng các chi tiết được trang trí phải to, rõ ràng, các hình ảnh gần gũi nhằm giúp trẻ phần nào hiểu được tên gọi của các khu vực chơi, đồ dùng, đồ chơi trong quá trình chơi. 2.2 Biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan, vật thật, đồ chơi để thu hút trẻ. Như chúng ta đã biết trẻ lứa tuổi 25 - 36 tháng đang bắt đầu học nói, bộ máy phát âm chưa hoàn chỉnh vì vậy trẻ thường nói một từ, trẻ nói ngọng, nói lắp và tư duy của trẻ chưa phát triển mà chủ yếu là tư duy trực quan hành động, có nghĩa là muốn thu hút trẻ vào hoạt động nhận biết, tập nói cô giáo sử dụng vật thật để thu hút trẻ, gây hứng thú cho trẻ. Sử dụng đồ dùng trực quan, vật thật, đồ chơi trong hoạt động học Như chủ đề: “Đồ chơi của bé”. Đề tài: NBTN: “Ô tô, búp bê, lật đật.” Ở phần gây hứng thú tôi gây hứng thú cho trẻ bằng cách cho trẻ đi siêu thị chọn mua những đồ chơi mà trẻ thích. Trong quá trình trẻ chọn đồ chơi cô đưa ra những câu hỏi để kích thích trẻ trả lời: - Trong siêu thị các con thấy có những loại đồ chơi gì? (Trẻ kể) - Con thích đồ chơi nào nhất? Tôi cho trẻ quan sát gọi tên các loại đồ chơi, hướng trẻ chọn mua những đồ chơi mà trẻ thích, sau đó cho trẻ về chỗ ngồi khám phá, nhận biết gọi tên từng loại đồ chơi mà trẻ vừa mua. Cô cầm từng đồ chơi lên và hỏi trẻ: - Đây là đồ chơi gì? (Trẻ trả lời: Con lật đật) - Con lật đật có màu gì? (Trẻ trả lời: Màu cam ạ) Cô tạo sự gần gũi, thân thiện với trẻ, gợi mở để trẻ được phát âm nhiều, phát âm đúng. Có nhiều cháu đang còn nói ngọng, phát âm sai tôi đã chú ý sửa sai cho trẻ bằng cách cho trẻ đứng lên phát âm lại, tôi phát âm trước và cho trẻ phát âm theo và cho trẻ nói lại nhiều lần. Tôi luôn động viên khuyến khích để trẻ phát âm đúng, rõ ràng. Ở phần kết thúc: Để củng cố lại bài học, tôi cho trẻ chọn lô tô theo yêu cầu của cô, khi cô nói tên đồ chơi nào trẻ chọn lô tô đồ chơi đó giơ lên và nói lại tên
- 5 đồ chơi đó, qua trò chơi này không những trẻ được khắc sâu kiến thức vừa học đồng thời trẻ được nói nhiều hơn. Như với chủ đề: “Tết và mùa xuân”. Đề tài: NBTN: “Hoa đào, hoa cúc” - Tôi cho trẻ đi xem video hội hoa xuân (trên màn hình) - Các con thấy trong hội hoa xuân có những loại hoa gì (Trẻ kể) - Cô đưa cành hoa cúc cho trẻ gọi tên, quan sát. - Hoa gì đây? (Hoa cúc) - Hoa cúc có màu gì? Màu vàng (cho trẻ nói nhiều lần) - Lá hoa có màu gì? (Màu xanh) - Hoa cúc còn có gì nữa đây? - Cô chỉ vào từng phần của hoa và cho trẻ nói theo - Cô cho trẻ lên chỉ các phần của hoa cúc (cho cả lớp cùng nói) - Sau đó cô khái quát lại Hoa cúc có màu vàng, cánh hoa nhỏ dài, nhị hoa, cuống hoa và có lá màu xanh - Hoa đào: Cô gây hứng thú với trẻ bằng câu đố: Hoa gì nho nhỏ Cánh màu hồng tươi Hễ thấy hoa cười Đúng là tết đến Là hoa gì? - Sau đó cô đưa hình ảnh hoa đào cho trẻ quan sát: - Đây là hoa gì? - Hoa đào có màu gì? - Hoa đào thường nở vào mùa nào?
- 6 Với những cháu nói ngọng, tôi sắp xếp cho cháu ngồi gần những trẻ phát âm tốt và tôi luôn chú ý để sửa sai cho cháu bằng cách cho cháu lên phát âm nhiều lần, cô phát âm trước và trẻ phát âm theo. Qua cách tổ chức như vậy trẻ rất hứng thú, tích cực tham gia vào hoạt động, trẻ biết diễn đạt sự hiểu biết của mình, lời nói của mình một cách mạch lạc, rõ ràng hơn. - Đồ dùng trực quan, vật thật, đồ chơi trong khu vực chơi. Như chúng ta đã biết hoạt động với đồ vật là hoạt động chủ đạo cho trẻ nhà trẻ, giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu vui chơi và nhận thức, đồng thời giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ, hoạt động vui chơi là phương tiện giúp trẻ hoàn thành nhân cách đồng thời là phương tiện giúp trẻ phát triển lời nói. Vì vậy khu vực đối với trẻ nhà trẻ chơi càng phong phú bao nhiêu thì càng khích lệ trẻ chơi, hứng thú trong khi chơi. Như ở chủ đề: “Gia đình bé yêu” khu vực chơi thao tác vai tôi chuẩn bị rất nhiều các đồ dùng trong gia đình như: Bát, đũa, thìa, xoong, chảo, dép, quần áo khi trẻ chơi cô đến nhập vai chơi cùng trẻ và hỏi trẻ: - Con đang chơi gì? (Bán hàng ạ) - Con bán những hàng gì? (Quần áo, bát, thìa ) - Con bán cho cô cái bát nào (cô yêu cầu trẻ phát âm tên các đồ dùng theo cô) Như ở khu vực hoạt động với đồ vật chủ đề “Những con vật đáng yêu” tôi đã lựa chọn những nguyên vật liệu đã qua sử dụng như: Hộp sữa chua, lon cô ca, nắp chai, lọ, vải dạ, xốp vụn Để tạo nên các con vật gần gũi với trẻ, cô yêu cầu trẻ gắn các bộ phận của các con vật, trong quá trình trẻ hoạt động giúp trẻ dễ dàng nhận biết được tên và các bộ phận của con vật thông qua hoạt động vui chơi. Cô hỏi trẻ: - Con gì đây? (Con lợn) - Cô chỉ vào các bộ phận của con lợn và hỏi trẻ: - Tai lợn đâu? (Trẻ chỉ vào tai lợn và phát âm “Tai lợn”) Đối với các khu vực chơi khác tôi cũng tiến hành tương tự, đến nhập vai cùng chơi với trẻ, hướng dẫn trẻ cách chơi, tôi kết hợp cho trẻ nhận biết tên các đồ vật, con vật và cho trẻ tập nói theo cô. Khi sử dụng đồ dùng trực quan, vật thật, đồ chơi đối với lứa tuổi 25 - 36 tháng chúng ta cần chú ý các yêu cầu sau: Đồ dùng trực quan phải đẹp, có màu sắc phù hợp với trẻ, có cấu tạo đơn giản, ít các chi tiết phụ, dễ sử dụng. Nếu là đồ dùng minh họa thì phải to, đủ để cả lớp nhìn rõ. Nếu là đồ dùng để trẻ thao tác thì phải vừa tầm, dễ sử dụng, đảm bảo an toàn cho trẻ. Không sắc nhọn, không độc hại. Nếu cả cô và trẻ cùng sử dụng thì đồ dùng phải cùng loại. 2.3 Biện pháp cho trẻ học ở mọi lúc mọi nơi. Có thể nói mỗi trẻ đều có khả năng tiếp thu lĩnh hội kiến thức khác nhau, và có khả năng ngôn ngữ khác nhau. Vì thế không những trong các hoạt động học, hoạt động chơi mà tôi còn cho trẻ nhận biết, tập nói thông qua các hoạt động ở mọi lúc mọi nơi. Tôi thường đưa ra các câu hỏi để rèn luyện cho trẻ, đặc biệt là những
- 7 trẻ tiếp thu còn chậm, chưa mạnh dạn, rụt rè, ít nói, nói ngọng, nói lắp. Khi cho trẻ ra hoạt động ngoài trời, giờ ăn, trong giờ hoạt động chiều, giờ đón trẻ - Trả trẻ, tôi thường đặt ra các câu hỏi để khuyến khích trẻ trả lời. * Thông qua giờ đón trẻ: Cô đón trẻ niềm nở, ân cần, cô gần gũi với trẻ và hỏi trẻ: - Ai đưa con đi học? (Trẻ trả lời) - Bố mẹ chở con đi học bằng xe gì? (Trẻ trả lời) - Đến lớp con chào ai? (Con chào cô) Thông qua giờ ăn: Cô giới thiệu cho trẻ về các món ăn, nhắc nhở trẻ mời cô và các bạn. Trong lúc trẻ ăn, cô động viên, khuyến khích trẻ ăn hết xuất và hỏi trẻ: - Hôm nay các con ăn món gì? (Trẻ trả lời) - Con ăn có ngon không? (Trẻ trả lời) - Khi ăn con có để rơi cơm không? (Trẻ trả lời) - Thông qua buổi dạo chơi ngoài trời: Cô cho trẻ quan sát các đồ chơi ngoài trời và cũng đặt các câu hỏi để hỏi trẻ: - Đây là đồ chơi gì? Đồ chơi có màu gì? * Thông qua giờ hoạt động chiều: Cô tổ chức cho trẻ chơi với đồ chơi ở các khu vực chơi, chơi tự do theo ý thích của trẻ. Trong quá trình trẻ chơi cô là người gợi mở, hướng dẫn thêm cho trẻ, cô khuyến khích trẻ chơi đoàn kết, trẻ biết trả lời câu hỏi rõ ràng, đủ câu. - Con thích chơi trò chơi gì? (Trẻ trả lời); Khu vực chơi nào con thích nhất? (Trẻ trả lời) Khi trẻ trả lời, tôi luôn uốn nắn, sửa sai cho trẻ, nhắc lại để trẻ nhớ, từ đó giúp trẻ mạnh dạn, tự tin, biết trả lời các câu hỏi của cô rõ ràng, mạch lạc, biết sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt ý nghĩ của mình. Từ đó giúp cho ngôn ngữ của trẻ phát triển. 2.4 Biện pháp linh hoạt, sáng tạo, đổi mới hình thức dạy học để phát huy tính tích cực của trẻ. Ngoài sự chuẩn bị đồ dùng đẹp, hấp dẫn trong tiết dạy cô cần áp dụng linh hoạt, sáng tạo, đổi mới hình thức dạy, lồng ghép các hoạt động để thu hút sự tập trung chú ý của trẻ, giúp trẻ hứng thú hơn trong giờ học Như với chủ đề “Cây và những bông hoa đẹp” Đề tài: Nhận biết tập nói: “Quả cam – quả na” - Cô cho trẻ đi tham quan mô hình vườn cây ăn quả
- 8 - Hỏi trẻ: Trong vườn cây có những loại quả gì? (Trẻ trả lời ) - Cô cho trẻ nhận biết - tập nói: Quả cam - Đây là quả gì ? ( Quả cam ) - Quả cam có màu gì?( Trẻ trả lời) - Vỏ quả cam nhẵn hay sần sùi (Cô cho trẻ sờ vào quả cam - Các con thấy bên trong quả cam có gì? ( Trẻ trả lời ) - Cô bóc quả cam và cho trẻ quan sát - Cho trẻ chơi trò chơi “Vắt nước cam” Quả Na: Quả gì nhiều mắt Khi chín nứt ra Ruột trắng nõn nà Hạt đen nhanh nhánh - Sau đó cô đưa quả na ra cho trẻ quan sát và hỏi trẻ: - Quả gì đây? (Quả na) - Quả na có màu gì? (Màu xanh) - Vỏ quả na nhẵn hay sần sùi? (Cho trẻ sờ quả na để trẻ trả lời) Như với chủ đề: “Những con vật đáng yêu” Đề tài: Nhận biết tập nói: “Con gà – con vịt” Cô gây hứng thú cho trẻ bằng cách cho trẻ hát bài: “Con gà trống” Trò chuyện về con gà: - Cô làm tiếng gáy của con gà trống: ò ó o - Cô hỏi trẻ: Con gì đây? (Con gà trống) - Con gà trống có những bộ phận nào? (Đầu, mình, đuôi, chân) - Cô cho trẻ lên chỉ các bộ phận của con gà - Gà trống là con vật nuôi ở đâu? (Trong gia đình) - Cô cho trẻ đứng lên làm động tác gà vỗ cánh (Trẻ thực hiện) Con vịt: - Cô cho trẻ quan sát con vịt và hỏi trẻ - Con gì đây? Con vịt - Con vịt kêu như thế nào? (Cạp cạp) - Cô chỉ vào các bộ phận và hỏi trẻ
- 9 - Cô cho trẻ xem hình ảnh về con vịt đang bơi và hình ảnh về một số con vật nuôi khác. - Cô cho trẻ chơi trò chơi “Đưa gà, vịt về chuồng” để kết thúc bài học. Với các hình thức tổ chức như trên tôi thấy trẻ lớp tôi rất hứng thú, tích cực tham gia vào các hoạt động. Trẻ biết diễn đạt sự hiểu biết của mình, ý nghĩa của mình một cách mạch lạc hơn, vốn từ của trẻ cũng được tăng rõ rệt. 2.5 Biện pháp 5 tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh. Thực tế đã chứng minh phụ huynh có vai trò thiết yếu và không thể thiếu trong việc phối hợp cùng cô, để hoàn thành mục tiêu phát triển của trẻ lứa tuổi nhà trẻ. Bởi vì ngoài thời gian ở trường, lớp thì trong gia đình bố mẹ, ông bà chính là người hiểu trẻ nhất vì họ là người luôn chăm sóc gần gũi con mình. Bên cạnh đó hơn ai hết các bậc phụ huynh là những người mong đợi sự phát triển của con mình nhất, đặc biệt là sự phát triển ngôn ngữ lời nói cho trẻ. Để thực hiện tốt công tác phối hợp với phụ huynh ngay từ đầu năm học thông qua các buổi họp phụ huynh tôi đã thực hiện công tác tuyên truyền tới các bậc phụ huynh về nội dung chương trình học của bé, thống nhất một số biện pháp chăm sóc và giáo dục trẻ. Ở phía ngoài lớp, tôi lựa chọn một vị trí thuận lợi để xây dựng bảng tuyên truyền, thể hiện các thông tin quan trọng về quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ cũng như những điều cha mẹ trẻ cần biết về sức khỏe, dinh dưỡng và đặc biệt là các nội dung để phát triển ngôn ngữ cho trẻ theo chủ đề, theo tháng, theo tuần. Đối với bảng tuyên truyền ở nội dung tuần này bé học gì? tôi lên kế hoạch theo các chủ đề trong tuần trẻ học những môn gì (trong đó có bài thơ, câu truyện cần dạy trẻ trong tuần) để phụ huynh nắm bắt kịp thời, từ đó phối hợp với cô giáo trong việc dạy trẻ ở nhà. Trong gia đình bố mẹ là những người thân gần gũi đối với trẻ, là người hiểu được tâm lí, nhu cầu, khả năng của trẻ. Do vậy, bố mẹ giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ, lời nói, hiểu biết về thế giới xung quanh trẻ. Bố mẹ là những người góp phần tích cực nhất khi trẻ tập nói, hiểu được điều đó tôi đã tuyên truyền và phối hợp với các bậc phụ huynh ngoài thời gian ở lớp, phụ huynh có thể dạy trẻ nhận biết- tập nói ở mọi lúc, mọi nơi. Trong quá trình dạy trẻ nhận biết - tập nói thì phải dạy trẻ gọi tên sau đó mới đến các đặc điểm của sự vật đó. (Hình ảnh cô giáo trao đổi cùng phụ huynh) Như nhận biết tập nói: “Con chó, con mèo” cô hỏi trẻ - Con gì đây ? (Trẻ trả lời con chó hoặc con mèo )
- 10 - Sau đó mới hỏi đặc điểm và các bộ phận của con vật Ngoài ra bố mẹ có thể đọc thơ, kể chuyện cho trẻ nghe, điều đó cũng làm tăng thêm các biểu tượng về thế giới xung quanh và làm giàu vốn từ cho trẻ. Bên cạnh đó các bậc phụ huynh cần chú ý sửa sai cho trẻ không để trẻ nói lắp, nói ngọng. Như vậy, muốn cho chất lượng giáo dục đạt kết quả tốt nhất thì cần có sự chung tay phối hợp thường xuyên giữa cô giáo, nhà trường và các bậc cha mẹ trẻ em. 3. Tính hiệu quả * Hiệu quả kinh tế Góp phần nâng cao kiến thức cho giáo viên về phương pháp và hình thức dạy trẻ phát triền ngôn ngữ thống qua giờ nhận biết tập nói. Chất lượng giờ học được nâng cao lên, trẻ hứng thú học, tích cực vào các hoạt động đặc biệt là hoạt động “Nhận biết tập nói”, trẻ nhận biết được nhiều đặc điểm của các sự vật, trả lời đủ câu, rõ ràng, trẻ mạnh dạn, tự tin hơn.. Chất lượng giờ học đã được nâng lên rõ rệt, so với kết quả ban đầu trẻ mới đến lớp, đến nay trẻ đã nói được nhiều từ, nói rõ ràng mạch lạc và vốn từ của trẻ phong phú hơn. Thông qua việc vận dụng các biện pháp trên kết quả đạt được trên trẻ thật đáng mừng. * Lợi ích xã hội Được toàn thể ban giám hiệu và các cô trong trường đánh giá cao những tiến bộ của trẻ. Trẻ hứng thú tham gia vào giờ học, trẻ mạnh dạn hơn trong giao tiếp, tinh thần của trẻ cũng rất thoải mái, vui vẻ. C. KẾT LUẬN 1. Phạm vi áp dụng Khi tiến hành nghiên cứu tôi vận dụng vấn đề để thực hiện đề tài “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 25 - 36 tháng thông qua giờ nhận biết tập nói tại trường Mầm Non Thới Xuân” vào đối tượng trẻ 25 - 36 tháng, với số lượng 25 cháu của lớp mình phụ trách. Ngoài ra biện pháp này có thể áp dụng rộng rãi đối với trẻ 25 - 36 tháng tuổi tại các trường mầm non trong và ngoài huyện sẽ góp phần nâng cao ngôn ngữ cho trẻ. Tuy nhiên, việc áp dụng và khai thác còn tùy thuộc vào đặc điểm, điều kiện của mỗi trường mà vận dụng cho phù hợp. 2. Điều kiện áp dụng và được triển khai nhân rộng Trên đây là một vài biện pháp của tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, giảng dạy ở lớp, ở trường mà tôi đã áp dụng vào thực tế trong suốt thời gian qua. Đây là một công việc tôi đã thực hiện và tôi vẫn còn đang nghiên cứu, tiếp tục thực hiện lâu dài để bổ sung cho những kinh nghiệm của tôi được hoàn chỉnh hơn. Để nâng cao chất lượng nhận biết tập nói cho trẻ 25 - 36 tháng, trước hết giáo viên phải tìm hiểu tâm lý, đặc điểm, hoàn cảnh riêng (nếu có) của từng trẻ và khả năng (nếu có) của từng trẻ, từ đó có biện pháp tác động phù hợp. Cần nghiên cứu, tìm tòi để có những biện pháp, hình thức tổ chức tiết học khác nhau nhằm lôi cuốn trẻ. Nghiên cứu soạn bài phù hợp với tiết học, sưu tầm đồ dùng đồ chơi phong phú, trình bày khoa học, sử dụng đúng lúc, đúng chỗ. Lời nói của cô phải rõ ràng, nhẹ
- 11 nhàng, ấm áp để tạo hứng thú cho trẻ. Cho trẻ nhận biết tập nói trong sinh hoạt hàng ngày, mọi lúc, mọi nơi. Góp phần vào sự thành công của cô là sự quan tâm ủng hộ của phụ huynh, nhà trường và của địa phương. XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN Thới Xuân, ngày 10 tháng 4 năm 2023 ĐƠN VỊ ĐỀ XUẤT Người nộp đơn Nguyễn Thị Thuý Liễu Bùi Thị Mỹ Hạnh



